TÌM HIỂU VĂN BẢN CHỮ HÁN BÀI THƠ HOÀNG HẠC LÂU TỐNG MẠNH HẠO NHIÊN CHI QUẢNG LĂNG CỦA LÝ BẠCH

 

ThS. Nguyễn Diệu Huyền – Khoa Ngữ văn - ĐHTB

 

1. Trong số những tác gia tiêu biểu của Trung Quốc thời nhà Đường, Lý Bạch (701- 762) “là nhà thơ nổi tiếng của Trung Quốc thời nhà Đường, tự là Thái Bạch, hiệu Thanh Liên cư sĩ, quê ở Lũng Tây (nay thuộc tỉnh Cam Túc); lúc mới năm tuổi, gia đình v định cư ở làng Thanh Liên, huyện Xương Long thuộc Miên Châu (Tứ Xuyên), nên nhà thơ vẫn thường coi Tứ Xuyên cũng là quê hương của mình. Từ khi còn trẻ, ông đã xa gia đình đđi du ngoạn và tìm đường lập công danh sự nghiệp. Dẫu muốn góp phần cứu đời giúp dân song chưa bao giờ ông được toại nguyện. Ông là nhà thơ lãng mạn vĩ đại của Trung Quốc, vì tính cách khoáng đạt, thơ lại hay nói đến cõi tiên nên Lý Bạch được gọi là “Thi tiên”. Thơ ông hiện còn trên 1000 bài. Nội dung thơ Lý Bạch rất phong phú, với những chủ đề chính là: ước mơ vươn tới lý tưởng cao cả, khát vọng giải phóng cá tính, bất bình với hiện thực tầm thường, thể hiện tình cảm phong phú và mãnh liệt. Phong cách thơ Lý Bạch hào phóng, bay bổng lại rất tự nhiên, tinh tế và giản dị. Đặc trưng nổi bật của thơ Lý Bạch là sự thống nhất giữa cái cao cả và cái đẹp” [4,143]. Trong số những tác phẩm của ông bài thơ Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng là sự gặp gỡ của hai đề tài “Tình bạn cùng nỗi nỗi nim trân trọng tri âm” và “Tống biệt”.  Đây là bài thơ được đưa vào giảng dạy trong nhà trường phổ thông, để hiểu được bài thơ chúng ta cần hiểu những chữ Hán có trong văn bản. Vì vậy “Tìm hiểu văn bản chữ Hán bài thơ Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng của Lý Bạch” là những gợi ý trên cơ sở tìm hiểu nghĩa của chữ Hán nhằm giúp người học tiếp cận văn bản được dễ dàng hơn.

2. Bài thơ được Lý Bạch làm vào mùa xuân năm Khai Nguyên 16 (728) ở Hoàng Hạc lâu Vũ Xương tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng. Mạnh Hạo Nhiên là một nhà thơ thuộc thế hệ đàn anh của Lý Bạch, là một người có tài năng và nhân cách khiến ông hâm mộ. Lầu Hoàng Hạc ở phía Tây đi v Quảng Lăng, Dương Châu – phía Đông.

Ý nghĩa nhan đề

hoàng (thuộc bộ hoàng): 1. Sắc vàng; 2. Huyn hoàng: trời đất; 3. Người già lông tóc đu vàng, gọi là hoàng phất, hoàng củ; 4. Trẻ con; 5. Sắc loài kim (sắc vàng); 6. Họ Hoàng.

hạc (thuộc bộ điểu): 1. Chim hạc, sếu.

lâu (thuộc bộ mộc): 1. Nhà lầu; 2. Phàm vật gì có tầng trên.

Hoàng Hạc lâu: lầu Hoàng Hạc. Đây là một di tích văn hóa nổi tiếng ở trên núi Hoàng Hạc (còn có tên là Xà sơn) góc tây thành Vũ Xương thành phố Vũ Hán , tỉnh Hồ Bắc ngày nay. Lầu này được xây từ năm 223 thời Tam Quốc, từng bị phá đi, xây lại nhiu lần. Lần bị phá gần đây là năm 1884, đến năm 1985 lầu được dựng lại.

tống (thuộc bộ sước): 1. Đưa đi; 2. Tiễn đi; 3. Đưa làm quà; 4. Vận tải đi, áp tải.

mạnh (thuộc bộ tử): 1. Trưởng, cả; 2. Tháng đầu mùa; 3. Nói tắt tên Mạnh Tử; 4. Họ Mạnh.

hạo (thuộc bộ thủy): 1. Hạo hạo: mênh mông; 2. Hạo nhiên: thẳng băng; 3. Chính đại; 4. Nhiu; 5. Lớn.

nhiên (thuộc bộ hỏa): 1. Đốt cháy; 2. Ưng cho; 3. Như thế; 4. Lời đáp lại (phải đấy); 5. Dùng làm trợ ngữ; 6. Lời thừa trên tiếp dưới.

Mạnh Hạo Nhiên (689 - 740) là tên riêng, ông là người huyện Tương Dương (nay thuộc Hồ Bắc), một nhà thơ nổi tiếng đời Đường, hơn Lý Bạch 11 tuổi (Lý Bạch hơn Đỗ Phủ 11 tuổi), giữa hai nhà thơ có những nét hoàn cảnh giống nhau và những tình cảm đồng điệu: gặp nhiu trắc trở trong cuộc đời, coi thường công danh, thích ngao du sơn thủy.

chi (thuộc bộ 丿phiệt): (động từ) đi.

quảng (thuộc bộ 广 nghiễm): 1. Rộng; 2. Mở rộng; 3. Mười lăm cỗ xe binh mã; 4. Tên đất; 5. Quáng: Đo ngang, đo mặt đất, đo v phía đông tây (v phía nam bắc gọi là luân ).

lăng (thuộc bộ phụ): 1. Đống đất to; 2. Mả vua; 3. Lấn hiếp; 4. Vượt qua; 5. Bỏ nát; 6. Lên; 7. Tôi đồ sắt; 8. Họ Lăng.

Quảng Lăng: là tên riêng, chỉ một địa danh trong thành Dương Châu, tỉnh Giang Tô

Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng: Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng

Ý nghĩa nhan đ: Nhan đ cho biết nơi đi (không gian đưa tiễn) là tại lầu Hoàng Hạc – nơi bồng lai tiên cảnh và nơi đến Quảng Lăng (Dương Châu) – một nơi phồn hoa đô hội, nhưng đầy thử thách gian nguy. Người đi và kẻ ở là những người bạn tâm giao. Qua đó, ngoài việc tái hiện một không gian đưa tiễn còn ẩn chứa một sự lo lắng, băn khoăn của tác giả dành cho người bạn của mình.

Nguyên văn chữ Hán

西 樓,
州。
盡,
流。[3, 634]

Phiên âm

Cố nhân tây từ Hoàng Hạc Lâu,
Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu.
Cô phàm viễn ảnh bích không tận,
Duy ki
ến Trường Giang thiên tế lưu.

Chú giải từ ngữ

-  cố (thuộc bộ phộc): 1. Việc; 2. Cớ, nguyên cớ; 3. Cũ; 4. Gốc; 5. Chết; 6. Cố tình; 7. Cho nên. Cố nhân: người cũ, bạn cũ, chỉ những người tri âm.

-  西 tây (thuộc bộ á): 1. Phương tây; 2. Thái tây: chỉ v châu Âu, châu Mỹ; 3. Phật giáo từ Ấn Độ truyn vào nước Tàu, nên gọi phương Tây là đất Phật; 4. Gọi người chết là quy tây; 5. . Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng tức xuôi v phía đông, lầu Hoàng Hạc ở phía tây.

-  từ (thuộc bộ tân): 1. Nói ra thành văn; 2. Lời cung của kẻ bị kiện cung ra; 3. Những lời của dân trình bày tố cáo quan lại; 4. Từ giã; 5. Từ. Khước đi không nhận; 6. Thỉnh, xin; 7. Trách, móc; 8. Sai đi, khiến đi.

-  yên (thuộc bộ hỏa): 1. Khói; 2. Chất hơi nhiu; 3. Thuốc hút; 4. Nhọ nồi, than muội; 5. Có khi viết là .

-  hoa (thuộc bộ thảo): 1. Hoa, hoa của cây cỏ; 2. Tục gọi các vật loang lổ sặc sỡ; 3. Danh sắc phin phức; 4. Nốt đậu; 5. Hao phí; 6. Nhà trò, con hát; 7. Năm đồng tin gọi là một hoa.

-  Yên hoa: có 4 nghĩa: hoa trong khói (khói sóng trên sông, sương mù); cảnh đẹp mùa xuân; kĩ nữ; nơi phồn hoa đô hội.

-  nguyệt (thuộc bộ nguyệt): 1. Mặt trăng; 2. Tháng. Tam nguyệt: tháng 3.

-  hạ, há (thuộc bộ nhất): 1. Dưới; 2. B dưới; 3. : xuống, từ trên xuống dưới; 4. cuốn.

- dương (thuộc bộ mộc): 1. Cây dương, cũng giống cây liễu; 2. Họ Dương.

-  châu (thuộc bộ xuyên): 1. Châu; 2. Lễ nhà Chu định 2500 nhà là 1 châu.

Dương Châu: là tên riêng chỉ đô thị phồn hoa vào bậc nhất đời Đường. Người xưa có câu: “Dương nhất, Ích nhị” tức lànhất Dương Châu, nhì Thành Đô.

-  (thuộc bộ tử): 1. Mồ côi; 2. Cô độc; 3. Trọi trót; 4. Quan cô; 5. Tiếng nói nhún mình của các vua chư hầu.

-  phàm (thuộc bộ cân): 1. Buồm; 2. Phâm: Thuyn xuôi gió.

-  ảnh (thuộc bộ sam): 1. Bóng; 2. Tấm ảnh.

-  bích (thuộc bộ thạch): 1. Ngọc bích; 2. Phàm những vật có sắc xanh.

-  không (thuộc bộ huyệt): 1. Rỗng không, hư không; 2. Trời; 3. Đạo Phật cho vượt qua cả sắc tướng ý thức là đạo chân thực và gọi là không môn; 4. Hão, dùng làm trợ từ; 5. Không không: vơi vơi; 6. Không gian: nói v chiu ngang suốt vô hạn; 7. Thông suốt; 8. Khống: nghèo ngặt, thiếu thốn; 9. Tục dùng sự nhàn hạ.

-  tận (thuộc bộ mãnh): 1. Hết, không còn gì nữa; 2. Đu hết; 3. Lịch cũ gọi tháng đủ 30 ngày là đại tận; 4. Tẫn: mặc dùng, vi khiến.

-  duy (thuộc bộ tâm): 1. Mưu nghĩ; 2. Ấy là, chỉ có một; 3. Lời nói mở đầu. Nghĩa là bui; 4. Cùng nghĩa với chữ .

-  giang (thuộc bộ thủy): 1. Sông Giang; 2. Sông lớn, sông cái.

-  Trường Giang: (hay còn gọi là Dương tử) là con sông lớn nhất của Trung Quốc v chiu dài, lượng nước chảy, diện tích, lưu vực và ảnh hưởng kinh tế. Trường Giang bắt nguồn từ vùng cao nguyên tỉnh Thanh Hải, chảy v hướng nam, dọc theo ranh giới cao nguyên Tây Tạng vào địa phận tỉnh Vân Nam, sau đó rẽ sang hướng đông bắc vào tỉnh Tứ Xuyên, qua các tỉnh Hồ Bắc, Giang Tây, An HuyGiang Tô rồi đổ ra biển ở giữa Hoàng HảiNam Hải.

-  thiên (thuộc bộ đại): 1. Bầu trời; 2. Cái gì kết quả tự nhiên; 3. Nhà tôn giáo gọi chỗ các thần linh ở; 4. Ngày; 5. Thì tiết trời; 6. Phàm cái gì không thể thiếu được; 7. Đàn bà gọi chồng là thiên; 8. Ông trời;

-  tế (thuộc bộ phụ): 1. Giao tiếp; 2. Địa vị; 3. Ngoài biên; 4. Trong khoảng giao nhau.

Dịch nghĩa văn bản

Bạn cũ rời khỏi lầu Hoàng Hạc, ở phía Tây,

Xuôi xuống Dương Châu giữa tháng ba mùa hoa khói.

Bóng cánh buồm lẻ loi xa lẩn trong khoảng không xanh biếc.

Chỉ thấy Trường Giang chảy miệt bên trời. [3, 634]

Bản dịch khác:

Bạn cũ giã từ lầu Hoàng Hạc, ở phía tây,

Xuôi v Dương Châu giữa tháng ba, mùa hoa khói.

Bóng cánh buồm lẻ loi xa dần, mất hút vào khoảng không xanh biếc,

Chỉ thấy sông Trường Giang chảy vào cõi trời. [4, 144]

Dịch thơ

Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng

Bạn từ lầu Hạc lên đường,

Giữa mùa hoa khói, Châu Dương xuôi dòng.

Bóng buồm đã khuất bầu không,

Trông theo chỉ thấy dòng sông bên trời. [4, 144]

   Ngô Tất Tố dịch

(theo Thơ Đường, tập II, Nxb Văn học, Hà Nội, 1987)

So sánh nguyên  văn chữ Hán với bản dịch thơ của Ngô Tất Tố

Nhận xét v bản dịch của Ngô Tất Tố: Thể thất ngôn tứ tuyệt dịch sang thể lục bát.

Câu 1: “Cố nhân”  dịch là “bạn” mất chữ “cố”; “từ” (từ biệt, từ giã) dịch thành “từ” (từ …đến) chỉ địa điểm; mất chữ “tây”, chỉ lầu Hoàng Hạc ờ phía Tây – nơi diễn ra buổi chia tay và nơi đến của Mạnh Hạo Nhiên là phía Đông – Quảng Lăng.

Câu 2: bản dịch mất chữ “tam nguyệt”: tháng ba, tháng đẹp nhất của mùa xuân với nhiu cảnh sắc rực rỡ nhất, ấm áp nhất, bản dịch làm giảm khí xuân đó.

Câu 3: cụm từ “cô phàm viễn ảnh” chỉ dịch là “bóng buồm” – mất chữ “cô” (cô đơn, lẻ loi) và chữ “viễn” (xa xôi); mất chữ “bích” (xanh biếc) – làm mất đi sắc màu gợi ra cái mênh mang, xa vắng, hun hút của không gian nhớ nhung.

Câu 4: bản dịch thêm vào chữ “trông theo” làm lộ ý, “Duy kiến” (chỉ thấy) không cần nói mà đã có thể diễn tả quá trình trông theo.

Giá trị nội dung và nghệ thuật

-  Giá trị nội dung

Bài thơ chia làm 2 phần, với 2 câu đầu tả cảnh tiễn đưa lưu luyến và 2 câu cuối là cái nhìn của người ở lại. Với sự hòa quyện tình và cảnh ấy bài thơ đã bộc lộ tình cảm sâu sắc, thắm thiết của tác giả đối với cố nhân trong buổi chia ly.

- Giá trị nghệ thuật

Bài thơ thuộc thể thất ngôn tứ tuyệt: Đây là một thể thơ Đường luật có nhưng quy định chặt chẽ v luật bằng – trắc, niêm, đối, hay còn gọi là “luật tuyệt” (Luật tuyệt là do luật của bài bát cú Đường luật quy định, giống như được cắt từ bài bát cú mà ra, đđảm bảo niêm luật chỉ có 4 cách cắt: cắt 4 câu trên – trường hợp này 2 câu dưới phải đối nhau; cắt lấy 4 câu dưới – trường hợp này 2 câu trên phải đối nhau; cắt lấy 4 câu giữa – hai câu đối nhau từng đôi một; cắt lấy hai câu đầu và cuối – trường hợp này không cần phải đối, thường được sử dụng nhiu), bài thơ này thuộc loại cắt hai câu đầu và cuối, thông thường 2 câu đầu tả cảnh, trong cảnh có tình, hai câu cuối thể hiện tình cảm trên nn phong cảnh. Ngoài ra có sử dụng các hình thức nghệ thuật đối giữa cái có và cái không; tả cảnh ngụ tình…

3. Bài thơ Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng là một trong những bài thơ tuyệt tác của Lý Bạch. Bài thơ không chỉ cho ta thấy một tâm hồn cao đẹp của chính tác giả mà còn cho  ta thấy một tình bạn sâu sắc của những tao nhân mặc khách thời Đường. Bài thơ đã được Ngô Tất Tố khen rằng: “Tất cả có 28 chữ, đủ cả chỗ ở, nơi đi, ngày đi, cảnh đi và tấm lòng quyến luyến bè bạn. Thật là một kiệt tác”.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Thiu Chửu (2009), Hán Việt tự điển, Nxb Thanh Niên.

[2] Lê Nguyễn Lưu (1997), Đường thi tuyển dịch, tập 1, Nxb Thuận Hóa.

[3] Trần Lê Sáng chủ biên (2004), Ngữ Văn Hán Nôm, tập 3, Nxb Khoa học Xã hội.

[4] Sách giáo khoa Ngữ văn 10 (2010), tập 1, Nxb Giáo dục Việt Nam.