TÌM HIỂU VĂN BẢN VÀ TUYỂN DỊCH MỘT SỐ BÀI THƠ TIỄN SỨ CỦA NGUYỄN BẢO

 

TS Nguyễn Diệu Huyền

Khoa Ngữ Văn – Trường Đại học Tây Bắc

 

1. Mở đầu

Nguyễn Bảo (1439 1503) (1), hiệu là Châu Khê , quê xã Phương Lai , huyện Vũ Tiên (nay là thôn Phú Lạc, xã Phú Xuân, thành phố Thái Bình), tỉnh Thái Bình. Ông sống vào thế kỉ XV, đời Lê Thánh Tông và Lê Hiến Tông. Thơ chữ Hán của ông đã được xác định còn 162 bài chép trong Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn. Trong số đó có 12 bài được chép trong Hoàng Việt thi tuyển của Bùi Huy Bích. Nghiên cứu về Nguyễn Bảo và văn bản thơ chữ Hán của ông đầy đủ nhất có công trình Nghiên cứu văn bản và giá trị thơ chữ Hán Nguyễn Bảo (Luận án Tiến sĩ, Nguyễn Diệu Huyền, Đại học Sư phạm Hà Nội) (2). Trong đó, công trình đã cung cấp thông tin về bối cảnh lịch sử - văn hóa - văn học đã tác động đến cuộc đời và thơ Nguyễn Bảo; những đặc điểm v quê hương, gia tộc, cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Bảo; Khảo sát thơ chữ Hán của Nguyễn Bảo trong 05 bản sao Toàn Việt thi lục và 01 bản khắc in Hoàng Việt thi tuyển; Công bố thiện bản thơ chữ Hán, hiệu đính các bài đã phiên âm và tuyển dịch thêm 60/162 bài thơ của Nguyễn Bảo. Tìm hiểu giá trị nội dung và nghệ thuật để khẳng định tài năng và vị trí của Nguyễn Bảo trong kho tàng văn học Việt Nam.

Thơ tiễn sứ của Nguyễn Bảo cũng là một trong những chủ đề chung của văn học trung đại Việt Nam. Do vị trí địa lý và do hoàn cảnh lịch sử, từ lâu đời, Việt Nam và Trung Quốc có mối quan hệ bang giao mật thiết kéo dài đến hàng ngàn năm. Chính vì vậy, Việt Nam đã chịu ảnh hưởng sâu sắc của nền văn hoá Hán và văn học Hán. Trong lĩnh vực chính trị và ngoại giao, hai nước Việt Nam và Trung Quốc có nhiều lúc căng thẳng xung đột, nhiều cuộc chiến tranh thảm khốc đã diễn ra. Việt Nam đã nhiều lần chiến thắng phương Bắc xâm lược, nhưng vì nhân nghĩa, hòa hiếu, cũng là để nhân dân nghỉ sức và xây dựng đất nước nên Việt Nam đã rất nhiều lần cử nhiều đoàn đi sứ sang Trung Quốc để giữ mối quan hệ bang giao. Chính mối quan hệ bang giao này đã hình thành dòng thơ bang giao trong văn chương trung đại Việt Nam, trong đó có thơ đi sứ. Nhưng khác với các nhà thơ viết về thơ đi sứ khác, Nguyễn Bảo làm quan ở bộ Lễ, ông không đi sứ, nhưng ông trực tiếp tham gia vào các cuộc tiễn sứ, nên hơn ai hết ông hiểu rất rõ về lộ trình và đối tượng đi sứ. Chính vì vậy, thơ tiễn sứ của Nguyễn Bảo có giá trị lịch sử cụ thể khi ông viết về những con người thực, việc thực; là niềm tin niềm tự hào về những con người tài đức; là nguồn cảm hứng để ông viết nên những vần thơ tâm tình đầy cảm xúc... nhưng số lượng các bài thơ tiễn sứ được tuyển dịch chưa nhiều, văn bản và nội dung các bài thơ tiễn sứ chưa được tìm hiểu chi tiết về giá trị nội dung và nghệ thuật. Vì vậy, chúng tôi tiến hành Tìm hiểu văn bản và tuyển dịch một số bài thơ tiễn sứ của Nguyễn Bảo để làm rõ hơn những nội dung mà bài viết quan tâm.

2. Nội dung

2.1. Tìm hiểu văn bản thơ tiễn sứ của Nguyễn Bảo

Thơ tiễn sứ của Nguyễn Bảo được chép trong các bản sao Toàn Việt thi lục HM.2139/A, A.1262, A.3200, A.132, A.393 của Lê Quý Đôn và 01 bản khắc in Hoàng Việt thi tuyển (đại diện là bản A.608) của Bùi Huy Bích. Trong số đó, bản Toàn Việt thi lục A.393 và bản khắc in Hoàng Việt thi tuyển chỉ có 01 bài, và bài thơ này cũng đã có trong các bản sao khác. Vì vậy, chúng tôi tập trung khảo sát văn bản thơ tiễn sứ của Nguyễn Bảo trong bốn bản sao Toàn Việt thi lục HM.2139/A, A.1262, A.3200, A.132 (3). Chúng tôi chọn bản Toàn Việt thi lục A.132 là bản cơ sở để khảo sát văn bản và nhận thấy, các bài thơ tiễn sứ của Nguyễn Bảo trong các văn bản khác nhau có sự khác nhau về nhan đề và chữ dùng trong văn bản.

Thơ tiễn sứ của Nguyễn Bảo có 18 bài. Đó là:

Bảng thống kê những bài thơ tiễn sứ của Nguyễn Bảo

STT

Tên bài thơ

Trang A.132

Dịch

 

Tiễn Hiệu thư Đàm công phụng Bắc sứ 使 (Tiễn quan Hiệu Thư họ Đàm đi sứ phương Bắc)

75a

(4, 104), (5)

 

Tiễn Hình khoa Phạm công phụng Bắc sứ 使 (Tiễn quan Hình khoa họ Phạm đi sứ phương Bắc)

75a

 

 

Tiễn Thanh Oai Hoàng Giám sát phụng Bắc sứ 使 (Tiễn quan Giám sát họ Hoàng ở Thanh Oai đi sứ phương Bắc)

75b

(6, 85)

 

Thứ vận tống Đàm Hiệu thư văn Lễ Bắc sứ 使 (Lần thứ hai làm thơ Tiễn quan Hiệu thư Đàm Văn Lễ đi sứ phương Bắc)

99b

(7, 124)

 

Tống Thượng thư Lê công Bắc sứ 使(Tiễn quan Thượng thư họ Lê đi sứ phương Bắc)

100a

(8, 126)

 

Tống Quách tiên sinh Bắc sứ 使 (Tiễn Quách tiên sinh đi sứ phương Bắc)

100a

(9, 109)

 

Tống Hộ bộ Thị lang Kim Đôi Nguyễn công Bắc sứ 使 (Tiễn quan Hộ bộ Thị lang ở Kim Đôi họ Nguyễn đi sứ phương Bắc)

100b

(10, 127)

 

Tống Hữu Tư giảng Đỗ công Bắc sứ 使 (Tiễn quan Hữu tư giảng họ Đđi sứ phương Bắc)

100b

 

 

Tống Hộ khoa Đô cấp sự trung Lê công Bắc sứ 使 (Tiễn quan Hộ khoa Đô cấp sự trung họ Lê đi sứ phương Bắc)

101a

(11, 128)

 

Tống Thị thư Vũ công Bắc sứ 使 (Tiễn quan Thị thư họ Vũ đi sứ phương Bắc)

101a

(12, 129)

 

Tống Hiệu thư Lê công Tuấn Ngạn Bắc sứ 使 (Tiễn quan Hiệu thư Lê Tuấn Ngạn đi sứ phương Bắc)

101a

(13,130)

 

Tống Giám sát Ngự sử Phạm công Bắc sứ 使 (Tiễn quan Giám sát Ngự sử họ Phạm đi sứ phương Bắc)

101b

 

 

Tống Kiểm hiệu Thái công Bắc sứ 使 (Tiễn quan Kiểm hiệu họ Thái di sứ phương Bắc)

101b

(14, 131)

 

Tống Hiệu lý Vương công Bắc sứ 使 (Tiễn quan Hiệu lý họ Vương đi sứ phương Bắc)

102a

 

 

Tống Hiệu thư Nguyễn công Bắc sứ 使 (Tiễn quan Hiệu thư họ Nguyễn đi sứ phương Bắc)

102a

 

 

Tống Giám sát Ngự sử Nguyễn Xao Bắc sứ 使 (Tiễn quan Giám sát Ngự sử Nguyễn Xao đi sứ phương Bắc)

102b

 

 

Tống Gia Lâm Giám công Bắc sứ 使 (Tiễn quan Giám sát ở Gia Lâm đi sứ phương Bắc)

107a

 

 

Tống Thị lang Đặng công phụng phó sứ 使 (Tiễn quan Thị lang họ Đặng làm phó đi sứ)

109b

 

Trong số đó, có 2 bài được dịch trong cuốn Nguyễn Bảo nhà thơ – Danh nhân văn hóa của Bùi Duy Tân (15); Có 1 bài được dịch lại trong Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 5 (16); Có 8 bài thơ được dịch trong Nghiên cứu văn bản và giá trị thơ chữ Hán Nguyễn Bảo (Luận án Tiến sĩ, Đại học Sư phạm Hà Nội) (17). Như vậy, trong tổng số 18 bài thơ tiễn sứ của Nguyễn Bảo có 10 bài thơ đã được tuyển dịch và 8 bài thơ chưa được tuyển dịch.

Trong quá trình khảo sát văn bản, chúng tôi thấy có 9 bài thơ trong A.132 có tên nhan đề khác với các bản sao khác. Sự khác nhau giữa bản A.132 với các bản sao khác có khi là với 1, 2 hoặc cả 3 bản sao Toàn Việt thi lục HM.2139/A, A.1262, A.3200. Chẳng hạn:

Bài thứ 2, tên nhan đề trong Toàn Việt thi lục A.132 Tiễn Hình khoa Phạm công phụng Bắc sứ 使 (Tiễn quan Hình khoa họ Phạm đi sứ phương Bắc), nhưng trong bản Toàn Việt thi lục HM.2139/A là Tiễn Hình bộ Phạm công phụng Bắc sứ 使 (Tiễn quan Hình bộ họ Phạm đi sứ phương Bắc).

Hay, bài thứ ba nhan đề trong Toàn Việt thi lục A.132 Tiễn Thanh Oai Hoàng Giám sát phụng Bắc sứ 使 (Tiễn quan Giám sát họ Hoàng ở Thanh Oai đi sứ phương Bắc), nhưng trong bản Toàn Việt thi lục HM.2139/A và Toàn Việt thi lục A.1262 là Tiễn Thanh Oai Hoàng Hiến sát phụng Bắc sứ 使 (Tiễn quan Hiến sát họ Hoàng ở Thanh Oai đi sứ phương Bắc)

Các bài thơ tiễn sứ của Nguyễn Bảo ngoài khác nhau về nhan đề, giữa các bản sao còn có sự khác nhau về chữ dùng văn bản. Trong đó, có 10 trường hợp dị văn với cả ba bản sao, có 6 trường hợp dị văn với 1, hoặc 2 bản sao. Chúng tôi lấy bản A.132 làm bản cơ sở và đặt các bản sao tương ứng: A.132 (bản A), HM.2139/A (bản B), A.1262 (bản C), A.3200 (bản D) và nhận thấy:

- Có trường hợp dị văn với cả ba bản sao. Chẳng hạn:

Bản A dùng chữ hoặc: hoặc, có thể; bản B, C, D dùng chữ độc: một, trong câu / Di khinh hoặc khả khảo/ Tuổi cao để lại nhiều kinh nghiệm - Tiễn Hình khoa Phạm công phụng Bắc sứ, trang 75a. Chữ hoặc: hoặc, có thể, hợp logic trong câu. Chữ độc: một, không hợp logic trong câu. Kết luận: Dịch theo bản A.

Hay, bản A dùng chữ khách: khách; bản B, C, D dùng chữ các: gác, trong câu / Quán khách cựu giao kim dạ mộng/ Quán khách gặp gỡ cũ mộng đêm nay - Thứ vận tống Đàm HHHHHiệu thư văn Lễ Bắc sứ, trang 99b. Chữ quán khách: quán khách và quán các: gác quán đều có thể dùng trong câu, giá trị biểu đạt không thay đổi. Kết luận: Dịch theo hai cách.

- Có trường hợp dị văn cới với 1, hoặc 2 bản sao. Chẳng hạn:

Bản A, C dùng chữ khán: xem; bản B, D dùng chữ quynh: đóng, trong câu / Kỷ hồi xúc mục khán Nam đẩu/ Mấy phen mắt động nhìn chòm sao Nam đẩu - Tống Hữu tư giảng Đỗ công Bắc sứ, trang100b. Chữ khán Nam đẩu: nhìn chòm sao Nam đẩu. Chữ quynh Nam đẩu: không rõ nghĩa. Kết luận: Dịch theo bản A, C.

Hay, bản A, D dùng chữ bồi: thêm; bản B, C dùng chữ thanh: trong, trong câu / Nhất cử bồi phong phấn Bắc minh/ Một ngẩng gió bồi chấn động biển Bắc - Tống Hữu tư giảng Đỗ công Bắc sứ, trang 100b. Chữ bồi phong: gió bồi, góp thêm gió. Câu thơ trước là / Kỷ hồi xúc mục khán Nam đẩu/ Mấy phen mắt động nhìn chòm sao Nam đẩu. đối với . Hơn nữa “gió bồi” mới làm nên “chấn động biển Bắc”, hợp ý nghĩa và logic hơn chữ thanh: trong. Kết luận: Dịch theo bản A, D…

Trên nguyên tắc tôn trọng văn bản cơ sở, chúng tôi giữ nguyên tên nhan đề và chữ dùng trong bản Toàn Việt thi lục A.132 khi tiến hành tuyển dịch các bài thơ tiễn sứ của Nguyễn Bảo. Đồng thời, với sự lựa chọn văn bản cơ sở khác nhau sẽ có cách dịch khác nhau.

Trong tổng số 18 bài thơ tiễn sứ của Nguyễn Bảo có 10 bài thơ đã được tuyển dịch và 8 bài thơ chưa được tuyển dịch. Căn cứ vào thực tế khảo sát văn bản Toàn Việt thi lục A.132 chúng tôi tuyển dịch 8 bài thơ tiễn sứ còn lại của Nguyễn Bảo.

2.2. Tuyển dịch một số bài thơ tiễn sứ của Nguyễn Bảo (8 bài)

Bài 1:

使

Tiễn Hình khoa Phạm công phụng Bắc sứ

(Tiễn quan Hình khoa họ Phạm đi sứ phương Bắc) [1]

(Trang 75a/A.132)

Chính văn:

道。

皎。

皞。

考。

Phiên âm:

Nam cung thức quân tảo,

Quân kim phục viễn đạo.

Độ lĩnh xuân vân khinh,

Phù Tương [2] thu nguyệt hiệu.

Nhân văn phỏng Khổng [3] Nhan [4],

Cổ thánh tuân Hiên Hạo [5].

Bác nhã sở tư thâm,

Di kinh hoặc khả khảo.

Dịch nghĩa:

Cung Nam biết người từ sớm,

Người nay trở v con đường xa.

Qua đỉnh núi mây xuân nhẹ,

Nổi sông Tương trăng thu sáng.

Nhân văn hỏi Khổng, Nhan,

Thánh xưa noi theo Hiên, Hạo.

Bác nhã tư chất thâm sâu,

Tuổi cao để lại nhiều kinh nghiệm.

Chú thích:

[1]. Hình khoa họ Phạm? Căn cứ vào thời gian Nguyễn Bảo làm quan và nội dung bài thơ thì có thể là bài thơ tiễn Phạm Hưng Văn. Ông là người xã Động Hối, huyện Thanh Lan, nay thuộc xã Đông Kinh, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. Đỗ nhị giáp Tiến sỹ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Ất Mùi niên hiệu Hồng Đức thứ 6 (1475) đời Lê Thánh Tông. Làm quan đến chức Đô ngự sử, được cử đi sứ nhà Thanh (1497). Sau khi mất được tặng chức Hình bộ Thượng Thư.

[2]. Tương: sông Tương, còn gọi là sông Tương Thủy, Tương Giang, bắt nguồn từ núi Dương Hải, tỉnh Quảng Tây, chảy qua Hồ Nam, Trường Sa, đổ vào Động Đình (Trung Quốc), dài hơn hai ngàn dặm. Tương truyn, vua Thuấn đã vĩnh biệt hai người vợ là Nga Hoàng và Nữ Anh trên con sông này. Nói sự ly biệt mong nhớ của lứa đôi.

[3]. Khổng: tức Khổng tử, tên là Khâu, tự là Trọng Ni, người nước Lỗ, thời Xuân Thu. Sau thời chu du thiên hạ, trở v nước Lỗ, soạn Kinh Thi, Kinh Thư, định lại Kinh Lễ, phê bình giảng giải Kinh Dịch, và soạn Kinh Xuân Thu, đồng thời mở trường dạy học, khai sáng Nho giáo, học trò của ông có tới hơn ba ngàn người.

[4]. Nhan: tức Nhan Uyên, người Xuân Thu, tên là Hồi, tự là Tử Uyên, cho nên còn gọi là Nhan Uyên. Ông là một trong số những người học trò giỏi nhất của Khổng Tử, sống thanh bạch, cơm một giỏ, nước một bầu, ở ngõ hẹp. Khổng, Nhan đu chỉ Nho học nói chung.

[5]. Hiên Hạo: Hiên Viên và Thiếu Hạo hoàng đế, Hiên Viên hoàng đế được coi là thủy tổ của người Hán, Thiếu Hạo hoàng đế là con trai của Hiên Viên hoàng đế nối nghiệp Hiên Viên hoàng đế.

Bài 2:

使

Tống Hữu tư giảng Đỗ công Bắc sứ

(Tiễn quan Hữu tư giảng họ Đỗ đi sứ phương Bắc) [1]

(Trang 100b/A.132)

Chính văn:

醒。

?

咱。

溟。

馨。

Phiên âm:

Nhãn tiền tiếu chỉ vạn sơn thanh,

Hạo hạo tình hoài tửu dịch tỉnh.

Xuân sắc chính phùng kim tuế biệt,

Cô thanh ứng hướng cách niên cha.

Kỷ hồi xúc mục khán Nam đẩu,

Nhất cử bồi phong phấn Bắc minh.

Ký đắc vọng trần hành khách ngữ,

Thiếu Lăng [2] gia thế phục ninh hinh.

Dịch nghĩa:

Chỉ tay cười trước mắt xanh vạn núi,

Tình nhớ mênh mang rượu đã say.

Đúng lúc gặp sắc xuân nay cuối năm ly biệt,

Theo hướng tiếng chim bao lâu năm xa cách.

Mấy phen mắt động nhìn chòm sao Nam đẩu,

Một ngẩng gió bồi chấn động biển Bắc.

Bụi trông theo đã ghi lời khách đi.

Gia thế Thiếu Lăng tiếng thơm báo đền.

Chú thích:

[1]. Đỗ Công: tức Đỗ Nhuận.

[2]. Thiếu Lăng: tức Trương Thiếu Bảo.

Bài 3:

使

Tống Giám sát ngự sử Phạm công Bắc sứ

(Tiễn quan Giám sát ngự sử họ Phạm đi sứ phương Bắc) [1]

(Trangg 101b/A.132)

Chính văn:

查。

西 華。

牙。

花。

Phiên âm:

Bình sinh [2] chí khí điệt thanh hà,

Huống phục cao lâu quán nguyệt tra.

Để dụng tầm nguyên sư bác Vọng [3],

Chỉ ứng thừa mã học tây Hoa [4].

Lăng vân phấn tấn tư Mao Vũ [5],

Đặc tửu hiên ngang tá Xỉ Nha [6].

Liệu tưởng quy kỳ xuân sắc hảo,

Cố viên đào lý [7] chính khai hoa.

Dịch nghĩa:

Chí khí lúc bình sinh muốn vượt giáng xanh,

Trên lầu cao báo đáp ân huệ nối tiếp bè trăng.

Tìm nguồn để dụng Lã Vọng uyên thâm,

Thú cưỡi ngựa hay theo tây Hoa học.

Mây nổi lên nhanh chóng nhờ Mao Vũ,

Hiên ngang chén rượu mượn Xỉ Nha.

Đắn đo nghĩ lúc trở về xuân sắc đẹp,

Vườn cũ đào mận đúng lúc nở hoa.

Chú thích:

[1]. Chưa rõ là ai?

[2]. Bình sinh: lúc thường.

[3]. Vọng: chỉ Lã Vọng, công thần nhà Chu, họ Khương, tên Thượng, tự Tử Nha, tổ tiên có công lao, được phong ở đất Lã nên còn gọi là Lã Thượng, thường câu cá ở sông Vị, chưa ra giúp đời. Vua Chu Văn Vương đi săn, gặp ông đang ngồi câu, rước về tôn làm Thái Công. Từng giúp Văn Vương và con là Vũ Vương xây dựng cơ nghiệp nhà Chu. Chỉ bậc công thần.

[4]. Hoa: chỉ đất Trung Hoa, Trung Quốc.

[5]. Mao Vũ: lông cánh.

[6]. Xỉ Nha: răng môi. Mao Vũ, Xỉ Nha trích điển ở trong Xuân Thu Chiến Quốc thiên Chính Nghĩa

[7]. Đào lý: Cây đào và cây mận. Theo Thông giám, Địch Nhân Kiệt, tể tướng đời Đường, tiến cử cho vua Đường một lúc mấy chục người tài giỏi. Người đương thời khen Địch Nhân Kiệt rằng: “Thiên hạ đào lý tận tại công môn” (Cây đào cây mận trong thiên hạ đều ở cửa ông mà ra). Do điển này, đào lý thường để chỉ người tài giỏi. Sân đào lý, Cửa mận tường đào, Ngõ mận đều chỉ nơi quyền quý.

Bài 4:

使

Tống Hiệu lý Vương công Bắc sứ

(Tiễn quan Hiệu lý họ Vương đi sứ phương Bắc) [1]

(Trang 102a/A.132)

Chính văn:

聲。

? 更。

生。

清。

Phiên âm:

Dục thượng quan hà [2] vạn lý [3] trình,

Tôn tiền lãn cha giá cô thanh.

Sở Nam [4] tùy nhạn xuân do tảo,

Yên Bắc [5] quan mai tuế hựu canh.

Thừa truyền giang sơn đa thắng cảnh,

Huyền hồ chí khí toại bình sinh [6].

Khinh phì ôn bão phi ngô sự,

Trạm trạm điều băng nhất điểm thanh.

Dịch nghĩa:

Muốn lên quan hà vạn dặm đoạn đường,

Trước chén rượu sao lười nhác tiếng chim.

Sở Nam theo Nhạn biết xuân đến sớm,

Yên Bắc xem Mai biết năm lại đến.

Chuyển giao sông núi nhiều cảnh đẹp,

Lo nghĩ vòng quanh chí khí đã toại bình sinh.

Ngựa tốt ấm no nhẹ bước chẳng phải việc của ta!

Nhiều hạt móc đóng lại một giọt lắng trong.

Chú thích:

[1]. Chưa rõ là ai?

[2]. Quan hà: ca quan và cửa sông. Chỉ sự xa cách.

[3]. Vạn lý: vạn dặm. Chỉ đường xa.

[4]. Sở Nam: là thiền tăng thời Đường, trụ chì chùa Báo Ân ở Giang Tô hơn 20 năm, vua hay mời thiền sư thuyết pháp.

[5]. Yên Bắc: Bắc Yên tồn tại từ năm 407 – 436, là một quốc gia trong thời đại Ngũ Hồ thập lục quốc trong lịch sử Trung Hoa.

[6]. Bình sinh: luôn thường.

Bài 5:

使

Tống Hiệu thư Nguyễn công Bắc sứ

(Tiễn quan Hiệu thư họ Nguyễn đi sứ phương Bắc) [1]

(Trang 102a/A.132)

Chính văn:

霜。

光。

長。

湯。

Phiên âm:

Nhật biên tạm chuyết tử hà nang,

Dịch lộ [2] trì khu nại tuyết sương.

Mã thượng thi đa sơn thủy hứng,

Hạp trung kiếm xạ Đẩu Ngưu [3] quang.

Tiên tra vạn lý [4] thừa phong khoái,

Cấm uyển tam canh [5] nhập mộng trường.

Khứ khứ hảo suy bình tích học,

Tọa linh quốc thế [6] tráng kim thang.

Dịch nghĩa:

Bên ngày tạm nghỉ túi sen khói tía,

Đường dịch ruổi ngựa chịu tuyết sương.

Trên ngựa nhiều thơ hứng sơn thủy,

Trong hộp kiếm cung sáng Ngưu Đẩu.

Bè tiên vạn dặm cưỡi gió thích thú,

Vườn cấm canh ba vào mộng dài.

Bước đi xem xét tốt xấu học người xưa,

Nay ngồi quốc thế cuồn cuộn tráng son.

Chú thích:

[1]. Chưa rõ là ai?

[2]. Dịch lộ: đường địch, trạm dừng chân của khách đi đường.

[3]. Ngưu đẩu: chòm sao Khiên Ngưu ở phía bắc.

[4]. Vạn lý: muôn dặm, chỉ đường xa.

[5]. Tam canh: canh ba. Canh 3 từ 3 giờ sáng đến 5 giờ sáng.

[6]. Quốc thế: nước mạnh, chỉ Trung Quốc.

Bài 6:

使

Tống Giám sát ngự sử Nguyễn Xao Bắc sứ

(Tiễn quan Giám sát ngự sử Nguyễn Xao đi sứ phương Bắc) [1]

(Trang 102b/A.132)

Chính văn:

旌。

情。

耀

輕。

使

平。

Phiên âm:

Gia cận tân kiều đệ nhất trình,

Bộc phu khách lý trú hành tinh.

Minh tri vũ nội giai ngô sự,

Thả hướng tôn tiền thuyết chí tình.

Diệu nhật tú y kim lũ tế,

Tê phong thông mã ngọc đế khinh.

Sứ quân bằng thức ứng cao nhãn,

Chu đạo [2] nguyên lai tự chỉ bình.

Dịch nghĩa:

Gần nhà bến cầu cung đường một bậc,

Nô bộc, khách lý, cờ ngựa đi.

Trong không gian biết rõ việc ta phải làm,

Hướng về cùng chén rượu nói lời chí tình.

Ngày sáng áo thơm làm vàng sợi tơ bé nhỏ,

Gió thổi ngựa đá ngọc nhẹ nhàng.

Sứ quân dựa đòn xe mắt nhìn lên cao,

Đạo Chu tìm đến cái hay tựa đá bằng.

Chú thích:

[1]. Nguyễn Xao (1465 - ?), người xã Phù Chẩn, huyện Đông Ngàn, nay là thôn Phù Chẩn, xã Phù Chẩn, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Hội nguyên. 26 tuổi đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân khoa Canh Tuất niên hiệu Hồng Đức 21 (1490) đời Lê Thánh Tông. Làm quan đến chức Thừa chính sứ.

[2]. Chu đạo: đạo nhà Chu, nước Chu ở Trung Quốc.

Bài 7:

使

Tống Gia Lâm giám công Bắc sứ

(Tiễn quan Giám sát ở Gia Lâm đi sứ phương Bắc) [1]

(Trang 107a/A.132)

Chính văn:

然。

外,

邊。

早,

圓。

處,

前。

Phiên âm:

Yên tiền mạc viễn đại,

Bắc vọng chính thương nhiên.

Khách tư thanh sơn ngoại,

Thi tình tự tuyết biên.

Ngẫu phùng xuân ý tảo,

Kỷ kiến nguyệt [2] luân viên.

Đa thiểu đăng lâm xứ,

Phong quang tận nhãn tiền.

Dịch nghĩa:

Nước Yên phía trước sa mạc xa lớn,

Phương Bắc ngóng trông giữa trời xanh.

Nghĩ khách ngoài núi xanh,

Tình thơ từ bên tuyết.

Bất chợt gặp ý xuân sớm,

Mấy phen thấy vầng trăng tròn.

Đi đến bao nhiêu nơi,

Trưới mắt thấy cảnh đẹp.

Chú thích:

[1]. Chưa rõ là ai?

[2]. Chữ kiến được bổ sung từ các bản sao Toàn Việt thi lục HM.2139/A, A.1262, A.3200.

Bài 8:

使

Tống Thị lang Đặng công phụng phó sứ

(Tiễn quan Thị lang họ Đặng đi sứ phương Bắc) [1]

(Trang 109b/A.132)

Chính văn:

使 新。

春。

Phiên âm:

Thiên môn quế [2] tịch gia phong [3] cựu,

Dịch lộ [4] mai hoa sứ tiết tân.

Dao tưởng hồ trung thiên lý ngoại,

Dương hòa ứng tự cấm lâm xuân.

Dịch nghĩa:

Cửa trời sách quế gia phong cũ,

Đường dịch hoa mai tiết sứ mới.

Xa nghĩ giữa hồ nghìn dặm ngoài,

Mặt trời vui ứng dựa rừng cấm mùa xuân.

Chú thích:

[1]. Chưa rõ là ai?

[2]. Quế: cây quế, chỉ cây quế ở núi yên. Theo Tống sử, Đậu Vũ Quân hiệu là Yên Sơn, sinh được năm người con trai, đều thi đỗ làm quan to. Phùng Đạo có thơ tặng: “Linh xuân nhất châu lão, Đan quế ngũ chi phương” (Một gốc thông già, năm cành quế đỏ thơm). Quế, đan quế, quế Yên, quế non Yên chỉ việc con cái học hành thành đạt; có khi còn để chỉ việc sinh con trai tài giỏi.

[3]. Gia phong: nếp nhà.

[4]. Dịch lộ: đường dịch, chỉ đường đi của người đi sứ.

2.3. Giới thiệu đôi nét về các bài thơ tiễn sứ của Nguyễn Bảo

2.3.1. Một số giá trị nội dung

Thơ tiễn sứ của Nguyễn Bảo thể hiện tình hình chính trị - ngoại giao thời trung đại; là niềm tin, niềm tự hào về những người tài đức; là sự đồng cảm sâu sắc của Nguyễn Bảo với các nhân vật đi sứ…

Qua nhan đề và nội dung, các bài thơ tiễn sứ của Nguyễn Bảo có giá trị phán ánh tình hình chính trị - văn hóa vùng Đông Nam Á thời trung đại. Đó là mối quan hệ quốc tế mang tính “biệt lệ” giữa Trung Hoa với các nước trong khu vực: quan hệ nước lớn với nước nhỏ theo trật tự, thứ bậc rõ ràng. Biểu hiện rõ nhất của mối quan hệ này là hệ thống triều cống được thể chế hóa, quy định “bổn phận cống nạp” của các nước nhỏ với các nước lớn. Những chuyến đi sứ tới Yên kinh để thực hiện “nghĩa vụ” tuế cống theo định lệ hoặc cầu phong, đã trở thành hoạt động trọng yếu phản ánh tính “đặc thù” của mỗi quan hệ bang giao Việt – Trung ở thế kỷ XV.

Nguyễn Bảo làm quan ở bộ Lễ, ông trực tiếp tham gia vào các cuộc tiễn sứ, nên hơn ai hết ông hiểu rất rõ về lộ trình và đối tượng đi sứ. Chính vì vậy, thơ tiễn sứ của Nguyễn Bảo có giá trị lịch sử cụ thể khi ông viết về những con người thực, việc thực. Chẳng hạn như: Đàm Văn Lễ (1452 - 1505) trong bài Tiễn Hiệu thư Đàm công phụng Bắc; Thứ vận tống Đàm hiệu thư văn Lễ Bắc sứ. Đàm Văn Lễ là người xã Lãm Sơn huyện Quế Dương – nay là thôn Đa Cấu, xã Nam Sơn, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Năm 18 tuổi, ông đĐệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân khoa Kỷ Sửu, niên hiệu Quang Thuận 10 (1469) đời Lê Thánh Tông. Ông từng được cử đi sứ nhà Minh, làm quan đến chức Lễ bộ Thượng thư, Chưởng Hàn lâm viện sự. Ông cùng với Nguyễn Quang Bật đi nhận di chiếu lập Túc Tông. Đến khi Lê Uy Mục lên ngôi vua, ông bị biến chức, điu đi Thừa chính sứ Quảng Nam, trên đường đi đến sông Lam (Nghệ An) bị sứ giả của Uy Mục đuổi theo bắt phải chết. Ông khẩu chiếm một bài thơ nôm rồi nhảy xuống sông tự tử (7 – 1505) (18). Hay, Quách Hữu Nghiêm trong bài Tống Quách tiên sinh Bắc sứ. Quách Hữu Nghiêm đi sứ năm 1502. Ông người làng Phúc Khê huyện Thanh Lan, xứ Sơn Nam, nay thuộc đất Thái Bình. Ông là một danh Nhân có tiếng cùng thời với Nguyễn Bảo (19). Ngoài ra, còn nhiều tên tuổi khác cũng được ghi trong sử sách như Đỗ Nhuận (Tống Hữu Tư giảng Đỗ công Bắc sứ), Lê Tuấn Ngạn (Tống Hiệu thư Lê công Tuấn Ngạn Bắc sứ), Thái Thuận (Tống Kiểm hiệu Thái công Bắc sứ), Vương Khắc Thuật (Tống Hiệu lý Vương công Bắc sứ), Nguyễn Xao (Tống Giám sát Ngự sử Nguyễn Xao Bắc sứ)…

Từ những người thực việc thực trong những bài thơ tiễn sứ, Nguyễn Bảo thể hiện niềm tin, niềm tự hào về những con người tài đức. Niềm tin ấy trước hết được gửi gắm qua những trọng trách lớn lao mà họ phải gánh vác trên vai: “Được cử đi sứ đứng đầu phái đoàn, Thỏa chí cung tên ra bốn hướng.” (Tiễn Hiệu thư Đàm công phụng Bắc sứ). Hay: “Mưu mô quốc tráng hung liệt giáp, Thi cú người kinh động bút như cánh đòn tay.” (Tống Thượng thư Lê công Bắc sứ). Hay: “Bàn bạc trả ngọc không mong như lời kẻ sĩ hay, Làm cho dân giàu từng suy nghĩ để dùng tài.” (Tống Hiệu thư Lê công Tuấn Ngạn Bắc sứ)… Nói như Phan Huy Chú: “Trong việc trị nước, hòa hiếu với nước láng giềng là việc lớn, mà những khi ứng thù lại rất quan hệ, không thể xem thường” (20). Bởi vậy, sứ thần không chỉ là những người có bản lĩnh, tài trí của một nhà chính trị, nhà ngoại giao, nhà văn hóa mà còn mang phẩm chất của những văn quan giỏi về từ chương, thơ phú, thông qua sáng tác thơ ca. “Họ muốn thành công trong việc giao tế, muốn làm hay làm đẹp cha đất nước mình trên đất nước người, muốn bảo vệ lợi lích dân tộc, đề cao uy tín của Tổ quốc, người đi sứ trước hết phải có bản lĩnh, khí phách dân tộc, lại có ý chí quả quyết, và hành động dũng cảm.” (21). Ngoài niềm tin, niềm tự hào với người đi sứ của Nguyễn Bảo còn thể hiện qua những chứng tích, công danh mà họ làm nên, đó cũng là niềm tự hào cho quê hương, đất nước: “Lời nói đẹp chảy khắp Nam Bắc đẩu, Nay theo danh gia vung tiếng chúc mừng.” (Tống Hộ bộ Thị lang Kim Đôi Nguyễn công Bắc). Hay: “Vui ngóng đại minh dâng lên đài cao khiết, Bẻ cây quấn sao đến bên người đi sứ.” (Tống Thị thư Vũ công Bắc sứ)…

Nguyễn Bảo thường thể hiện sự đồng cảm với nhân vật đi sứ. Trước hết, đó là sự đồng cảm với những vất vả khó khăn mà người đi sứ gặp phải. Ông biết lộ trình sứ đoàn Việt Nam tới Yên kinh phải trải qua nhiều gian nan, khó nhọc do khoảng cách địa lý xa xôi cùng hạn chế về phương tiện: “Bên ngày tạm nghỉ túi sen khói tía, Đường dịch ruổi ngựa chịu tuyết sương.” (Tống Hiệu thư Nguyễn công Bắc sứ), nhưng dù khó khăn và thử thách lớn lao họ vẫn hoàn thành nhiệm vụ.: “Man mác quan hà mới vào trông, Sứ quân trên đường Bắc tình ý biết làm sao?” (Tống Hộ khoa đô cấp sự trung Lê công Bắc sứ). Dù thân ở quán các, lầu son nhưng Nguyễn Bảo thường thể hiện nỗi niềm ngày nhớ, đêm mong theo người đi sứ: “Hoa mai đêm qua xuân thấy ít, Có thể hương thơm tặng người đi xa. Mây như mũ lọng tình tình nặng, Ngày vào núi sông nơi nơi mới. Cờ quán đêm tối dò xét nhìn vạn vật, Bè khách tối trời ngóng thần sao. Tiền đồ ham muốn biết bao nhiêu, Lui lại nghĩ suy sau từng lớp bụi.” (Tống Kiểm hiệu Thái công Bắc sứ). Nguyễn Bảo thường đặt mình vào vị trí của các nhân vật đi sứ để cảm nhận nỗi nhớ quê hương, những lo lắng buồn vui thường nhật… “Nỗi niềm sâu xa biết ngày ngày nghĩ lo cha mẹ, Đầu mắt mây cô tự dựa lầu.” (Tống Quách tiên sinh Bắc sứ). Ông thấu hiểu những khi: “Mây như mũ lọng tình tình nặng, Ngày vào núi sông nơi nơi mới. Cờ quán đêm tối dò xét nhìn vạn vật, Bè khách tối trời ngóng thần sao.” (Tống Kiểm hiệu Thái công Bắc sứ). Ngoài những vần thơ bộc lộ tâm trạng, Nguyễn Bảo Cũng còn cảm nhận được thiên nhiên trên hành trình người đi sứ: “Qua đỉnh núi mây xuân nhẹ, Nổi sông Tương trăng thu sáng.” (Tiễn Hình khoa Phạm công phụng Bắc sứ). Hay: “Biết tiếng ngựa kêu đạp tuyết cửa mai, Bóng cờ lạnh xông pha đỉnh khói quế.” (Tống Thượng thư Lê công Bắc sứ). “Thắng cảnh lên theo từng dấu cũ, Khách tình vui cảm nửa màu thu.” (Tống Quách tiên sinh Bắc sứ)…

Từ các nhân vật đi sứ được nhắc đến trong thơ, ta thấy điểm gặp gỡ giữa Nguyễn Bảo và họ chính là cùng chung tấm lòng lo nước thương dân, là tình yêu quê hương đất nước gắn liền với ý thức trách nhiệm, sống hết mình vì lý tưởng. Tình cảm Nguyễn Bảo dành cho họ thật da diết và sâu lắng. Đó là niềm tin, niềm tự hào được gửi gắm những lời thơ chúc tụng người đi và chờ đợi họ ca khúc khải hoàn, được thăng quan, tiến chức, ân thưởng; là lòng cảm phục, kính trọng của bản thân với tài chí, phẩm cách và những khó khăn thử thách mà họ phải trải qua… Qua những bài thơ tiễn sứ, Nguyễn Bảo đã thể hiện quan điểm của một nhà nho hành đạo. Ông nêu cao lý tưởng sống của một đấng nam nhi thời trung đại, đó là: thứ nhất lập công, thứ nhì lập danh, rồi đến lập ngôn, để lại tiếng thơm cho đời. Nguyễn Bảo cũng đã phấn đấu cả cuộc đời theo lý tưởng ấy.

2.3.2. Một số giá trị nghệ thuật

          Để thể hiện những giá trị nội dung trên, một số phương diện nghệ thuật tiêu biểu được Nguyễn Bảo sử dụng trong các bài thơ tiễn sứ đó là: nghệ thuật sử dụng điển cốnghệ thuật sử dụng ngôn từ.

- Nghệ thuật sử dụng điển cố

Những điển cố được sử dụng trong thơ Nguyễn Bảo được hình thành từ sự ảnh hưởng của quan niệm triết học Trung Hoa. Chính vì vậy, trong thơ Nguyễn Bảo thường dùng Nho giáo để nói về đạo lý, để giáo huấn, dùng câu chuyện, hình ảnh để so sánh hoặc ám chỉ điểu muốn nói. Chẳng hạn: để ca ngợi tài năng và phẩm chất của nhân vật đi sứ, Nguyễn Bảo thường nói về những nhân vật như Khổng Tử, Lý Tử, Tăng Tử, Nhan Uyên, Lạn Tương Như, Lã Vọng… để nói về những tiêu chuẩn đạo đức, tài, cách ứng xử, tấm gương trung hiếu, nhân cách cao đẹp… Chẳng hạn như: “Nhân văn hỏi Khổng, Nhan, Thánh xưa noi theo điu hiểu biết.” (Tiễn Hình khoa Phạm công phụng Bắc sứ). Hay: “Công khanh phụng sứ xưa có Tăng tử, Học hỏi chuyên cần có Lý tử hiền.” (Tống Thượng thư Lê công Bắc sứ).

Ông thường dùng điển cố để ám chỉ đến một việc cũ, tích xưa và khiến cho người đọc phải nhớ đến việc ấy, tích ấy mới có thể hiểu được ý nghĩa của câu thơ, bài thơ. Vì vậy, cách dùng điển trong thơ Nguyễn Bảo thường mang tính lịch sử cụ thể. Những điển cố được sử dụng thường làm sống lại lịch sử. Chẳng hạn: đề hiểu được câu: “Bàn bạc trả ngọc không mong như lời kẻ sĩ hay” (Tống Hiệu thư Lê công Tuấn Ngạn Bắc sứ) khiến chúng ta nhớ đến tích truyện Lạn Tương Như đem ngọc bích về Triệu ngày xưa. Lạn Tương Như là chính khách nước Triệu thời Chiến Quốc trong lịch sử Trung Quốc, nổi tiếng là người giỏi ứng xử để giữ uy tín của nước Triệu trong chư hầu. Nước Triệu có viên ngọc quý, nước Tần xin đổi thành lấy ngọc. Vua Triệu sợ Tần lừa, mà không cho thì sợ binh Tần đánh. Lạn Tương Như xin được làm người đem ngọc đi sứ và cuối cùng ông vẫn mang được ngọc về mà không gây ra mất hòa khí. Từ đó, điển này muốn chỉ người giỏi đi sứ như quân thần nước Triệu.

Đặc biệt, khi thể hiện tâm tư tình cảm trong những bài thơ tiễn sứ, Nguyễn Bảo sử dụng những điển cố dịch mai, tiêu, lan, huyền hồnhư trong bài Tiễn Hiệu thư Đàm công phụng Bắc sứ 使 với những câu:

Dịch mai bất kham chiết (Cành mai bên trạm dịch chưa nỡ bẻ); Phức uất tiêu lan hương (Sức nức ngát hương tiêu, hương lan); Huyền hồ toại tứ phương (Thỏa chí cung tên ra bốn phương); Khán vân tư chuyển trường (Xem đám mây, nghĩ mình phải dài như mây); Tảo vãn úy cao đường (Sớm chiều sẽ làm yên lòng mẹ cha).

Trong đó, Dịch mai : cây mai trên đường trạm, nói việc tặng tiễn nhớ nhung khi phải xa nhau; Tiêu , lan : tên hai loại cỏ thơm, để nói phẩm chất trong sạch, cao quý; Huyền hồ : treo cung. Theo tục xưa, sinh con trai thì làm cung bằng gỗ dâu và tên bằng cỏ bồng treo lên để tượng trưng cho chí khí bốn phương của người con trai ấy; Khán vân : xem mây. Xưa, Địch Nhân Kiệt xa nhà, xem mây trắng bay trên núi Thái Hoàng chạnh lòng nhớ cha mẹ và quê hương. Ở đây là nói về tình cảm nhớ nước, nhớ nhà khi đi sứ; Cao đường : ngôi nhà cao, chỉ chỗ ở của cha mẹ. Ở đây chỉ cha mẹ. Thông qua những điển cố ta có thể cảm nhận sâu sắc hơn những tâm tư tình cảm gửi gắm trong thơ của Nguyễn Bảo.

Nguyễn Bảo còn sử dụng những điển cố để nói về địa danh đi sứ như: Yên, Kế, Sở, Hán, Lỗ, Vệ, U, Thanh, Từ, Ngũ Lĩnh, Tam Tương,… trong các câu thơ: “Nhớ thăm dấu tích, xưa, khi đi qua đất Yên, đất Kế, Và xem phong cảnh khi đi chơi vùng Sở, vùng Lương.” (Tiễn Hiệu thư Đàm công phụng Bắc sứ). Hay: “Nổi sông Tương trăng thu sáng” (Tiễn Hình khoa Phạm công phụng Bắc sứ)…

Từ những nội dung ấy, điển cố trong thơ Nguyễn Bảo thể hiện một cách cụ thể quan niệm sùng cổ và tính quy phạm trong văn chương trung đại Việt Nam. Những điển cố đã khẳng định và xác lập những mẫu mực về tư tưởng, phong cách và khuôn mẫu về cái đẹp trong văn học. Bằng cách sử dụng điển cố, Nguyễn Bảo đã viết nên những câu thơ sinh động, tránh được sự khô khan trần trụi; những điển cố đã góp phần thể hiện chí hướng; chúng được sử dụng để sự diễn tả được sâu sắc, hàm súc, lời hết mà ý vô cùng; cách dùng điển cố giúp sự diễn tả được thanh nhã, tinh tế; những ví dụ hay chứng cớ được xác thực cho lập luận. Xét về một khía cạnh nào đó, điển cố là những lời văn vẻ, kiểu cách nhưng nhờ vậy mà giúp cho lời thơ cao quý, tao nhã và sang trọng hơn. Đó cũng là cách để khoe chữ nhằm thể hiện sự thông thái, nho nhã.

- Nghệ thuật sử dụng ngôn từ

Ngôn từ trong thơ tiễn sứ của Nguyễn Bảo thể hiện tính trang nhã qua việc dùng hình ảnh càn, khôn để nói về trời đất như: “Càn Khôn vạn dặm đôi mắt sáng” (Thứ vận tống Đàm hiệu thư Văn Lễ Bắc sứ); dùng ngưu, đẩu đẻ nói lên khí thế và sức mạnh của người đi sứ như: “Trong hộp kiếm cung sáng Ngưu Đẩu” (Tống Hiệu thư Nguyễn công Bắc sứ); dùng hình ảnh quan hà để nói về những nhớ nhung, xa cách  như: “Muốn lên quan hà vạn dặm đoạn đường” (Tống Hiệu lý Vương công Bắc sứ); mượn hình ảnh hoa mai để nói về mùa xuânNăm muộn, hương hoa mai đã nhạt, Trời rét, chất rượu rất lạnh.” (Tiễn Hiệu thư Đàm công phụng Bắc sứ)…

Đặc biệt, với những từ song thanh (hai từ có thanh mẫu giống nhau), điệp âm (hai từ có phụ âm giống nhau), điệp vận (hai từ có vần giống nhau), Nguyễn Bảo đã thể hiện sự tinh tế của tất cả cách giác quan khi ông miêu tả nhiều sắc thái, nhiều vẻ đẹp của thiên nhiên, cùng những âm thanh gần gũi quen thuộc của cuộc sống để làm nên những câu thơ uyển chuyển, tươi tắn và sinh động. Chẳng hạn: /Mã thủ phiên phiên ngọc tiết khinh/ Trên đầu ngựa gió bay vùn vụt ngọc tiết nhẹ. (Thứ vận tống Đàm hiệu thư Văn Lễ Bắc sứ); /Gia thanh tịch tịch cựu điêu thiền/ Tiếng nhà đêm đêm phục sức cũ. (Tống Thượng thư Lê công Bắc sứ); /Huyền tri nhật nhật tư thân niệm/ Nỗi niềm sâu xa biết ngày ngày nghĩ lo cha mẹ (Tống Quách tiên sinh Bắc sứ); /Nghĩa khái hoàn hoàn chỉ vạn trình/ Nghĩa khí mạnh mẽ, hướng muôn dặm trình (Tống Hộ bộ Thị lang Kim Đôi Nguyễn công Bắc sứ).

Với những thành công về nghệ thuật sử dụng điển cố, nghệ thuật sử dụng ngôn từ thơ ca Nguyễn Bảo đã để lại những dấu ấn riêng trong lòng người đọc. Bùi Duy Tân đã tổng kết những nhận định về Nguyễn Bảo: Lê Hiến Tông coi ông là bậc “trang nhã văn chương”. Trần Củng Uyên khi viết lời tựa cho tập thơ cũng viết: “Lấy ý tứ làm chủ đạo, lấy lời lẽ để giữ gìn che chở, lấy hơi văn trợ giúp thêm, rồi quán xuyến tất cả những cái đó bằng lý lẽ”. Lê Quý Đôn cũng khẳng định: “có lẽ là ghi chép thực” về văn chương Nguyễn Bảo, và nhận định thêm “Nguyễn Bảo học vấn uyên bác, thơ từ thanh tao, uyển chuyển, được một thời suy phục” (Toàn Việt thi lục). Phan Huy Chú thì cho rằng: “Lời thơ trọng hậu, giản dị, có khí cốt”. Về sau, các nhà nghiên cứu cũng nhận định trong các tập Lịch sử văn học: “Văn chương Nguyễn Bảo bình dị, không đặc sắc như văn Thái Thuận, nhưng cũng là thể văn ít sáo” (Sơ thảo lịch sử Văn học Việt Nam), “Thơ Nguyễn Bảo thể hiện một phong cách bình dị. Các chi tiết miêu tả đều cụ thể, sinh động, giữ nguyên vẻ chất phác hồn nhiên của đời sống. Cảnh vật và con người trong thơ ông mang đậm nét của hình ảnh nông thôn quen thuộc, tình cảm trong thơ ông cũng là tình cảm của con người gắn bó với làng mạc, đồng ruộng. Thơ ông vì thế mà có sắc màu dân tộc đậm đà ít thấy ở những tác giả cùng thời” (Văn học Việt Nam), “tác giả không chịu gò bó theo những khuôn khổ mà nhà vua muốn đặt ra cho văn học cung đình… và có những sáng tạo đáng kể” (Lịch sử Văn học Việt Nam) (22). Với những nhận xét trên, cho thấy thơ ca Nguyễn Bảo được các nhà nghiên cứu đánh giá cao. Nguyễn Bảo đã thể hiện những đặc trưng nghệ thuật thơ ca trung đại Việt Nam, đồng thời ông đã thể hiện một phong cách nghệ thuật riêng trong sáng tác.

3. Kết luận

Từ những nội dung trên, chúng ta thấy thơ tiễn sứ của Nguyễn Bảo có 18 bài được chép chủ yếu trong Toàn Việt thi lục HM.2139/A, A.1262, A.3200, A.132 của Lê Quý Đôn. Giữa các bản sao có sự khác nhau về nhan đề và chữ dùng trong văn bản. Trong đó, có 9/18 bài thơ có nhan đề khác nhau, 16 trường hợp dị văn/11 bài thơ. Tương ứng với sự khác nhau về nhan đề và dị văn, mỗi bản sao khác nhau sẽ có cách dịch khác nhau. Trong tổng số 18 bài thơ tiễn sứ của Nguyễn Bảo có 10 bài thơ đã được tuyển dịch và 8 bài thơ chưa được tuyển dịch. Trên nguyên tắc tôn trọng văn bản cơ sở Toàn Việt thi lục A.132 chúng tôi giữ nguyên chữ dùng khi tuyển dịch thêm 8 bài thơ tiễn sứ của Nguyễn Bảo.

Thơ tiễn sứ chiếm một vị trí quan trọng trong thơ Nguyễn Bảo. Trước hết, thơ tiễn sứ của Nguyễn Bảo có giá trị tái hiện lịch sử cụ thể qua những người thực, việc thực; thứ hai, các nhân vật đi sứ với tư cách là những đại diện dân tộc, với niềm tin, niềm tự hào dân tộc, đã nêu cao giá trị nền văn hóa lâu đời của đất nước, tự hào về đất nước Việt, con người Việt; thứ ba, thơ tiễn sứ là tiếng nói thế hiện sự đồng cảm sâu sắc của Nguyễn Bảo với những người bạn đi sứ. Với những nội dung ấy, thơ tiễn sứ của Nguyễn Bảo thể hiện quan điểm của một nhà nho hành đạo. Thơ tiễn sứ của Nguyễn Bảo đã góp thêm tiếng nói vào âm hưởng chủ đạo chung của văn học Việt Nam thế kỷ XV, đó là tiếng nói tích cực của chủ nghĩa yêu nước, góp phần làm phong phú thêm văn học dân tộc.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

(1), (2), (6), (7), (8), (10), (11), (12), (13), (14), (17). Nguyễn Diệu Huyền, Nghiên cứu văn bản và giá trị thơ chữ Hán Nguyễn Bảo (Luận án Tiến sĩ), Đại học Sư phạm Hà Nội, 2018, tr.27 – PL.131.

(3) HM.2139/A, A.3200, A.1262, A.132, Viện nghiên cứu Hán Nôm.

(4), (9), (15), (22). Bùi Duy Tân, Nguyễn Bảo nhà thơ – Danh nhân văn hóa, Nxb Văn hóa, Sở Văn hóa Thông tin Thái Bình, 1991, tr.104 – 109.

(5), (16). Tổng tập văn học Việt Nam, tập 5, Nxb Khoa họa Xã hội, Hà Nội, 2000.

(18). Ngô Đức Thọ (chủ biên), Các nhà khoa bảng Việt Nam, Nxb Văn học, Hà Nội, 1993.

(19). Trịnh Khắc Mạnh, Văn bia đề danh Tiến sĩ Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2006.

(20). Phan Huy Chú, Lịch triu hiến chương loại chí, Nxb Sử học, Hà Nội, 1960 - 1962.

(21). Đinh Gia Khánh (chủ biên), Văn học Việt Nam thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XVIII, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2002.