NGŨ HÀNH THỂ HIỆN TRONG TÁC PHẨM CHỮ NÔM DAO LÙA HỌP

 

Nguyễn Hạnh Vân

Khoa Ngữ Văn – Trường Đại học Tây Bắc

 

1. Mở đầu

Dân tộc Dao là một trong số 54 dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam, họ vẫn lưu giữ được những giá trị truyền thống, văn hóa tốt đẹp của dân tộc mình. Người Dao sinh sống ở xã Đồng Nghê, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình vẫn lưu giữ được số lượng văn bản ghi bằng chữ cổ khá lớn, những văn bản này được các thầy cúng, thầy mo sử dụng và được truyền lại cho đời sau. Đây là những văn bản có giá trị hết sức to lớn về mặt văn hóa, văn học, văn tự. Nhưng hiện nay do chữ Nôm Dao là loại chữ tượng hình, mượn chữ Hán nên đối với con cháu người Dao khó học, khó nhớ và khó thông thạo. Vấn đề khai thác, giới thiệu và khảo cứu nội dung văn bản đang là vấn đề cấp thiết đặt ra đối với ngành Nhân học nói chung và ngành Hán Nôm nói riêng. Ngũ hành trong triết học cổ Trung Hoa thể hiện mối quan hệ tương sinh, tương khắc, âm dương, lí số. Ngũ hành không chỉ có ảnh hưởng đến văn hóa phong tục của người Kinh mà còn ảnh hưởng đến đời sống của người Dao, sự ảnh hưởng đó được thể hiện trong văn bản ghi chữ cổ của người Dao là văn bản Lùa họp. Chúng tôi lựa chọn cách khai thác tư liệu, qua đó giới thiệu bài viết “Ngũ hành thể hiện trong tác phẩm chữ Nôm Dao Lùa họp” để cung cấp cho độc giả một cách nhìn mới về ngũ hành mang tính ứng dụng thể hiện trong đời sống của người Dao.

Ngũ hành 五行 theo triết học cổ Trung Hoa tất cả vạn vật đều phát sinh từ năm yếu tố cơ bản, năm yếu tố này là nền tảng cho quan niệm giải thích tự nhiên gồm: Mộc, hỏa, thổ, kim, thủy. Sự sắp xếp và phân chia ngũ hành trong Hậu thiên đồ là điều kì diệu, nó phù hợp với một mô hình có khả năng tự điều chỉnh để tồn tại của vũ trụ qua sự tương tác hai chiều tương sinh và tương khắc giữa các hành.

Mối quan hệ tương sinh giữa các hành, đó là mối quan hệ theo trật tự mộc sinh hỏa, hỏa sinh thổ, thổ sinh kim, kim sinh thủy, thủy sinh mộc(1).Giải thích cho quy luật tương sinh ở trên, mộc tượng trưng cho thực vật, chủ mùa xuân, khi cây cối phát triển, lá rụng xuống, lá cây cối rơi ở đất dễ sinh ra lửa là hỏa, hỏa chủ mùa hè. Khi sang hè lửa bốc cháy, đám tro tàn sau cuộc cháy để lại nhiều chất dinh dưỡng nuôi dưỡng thổ là đất, dẫn đến hỏa sinh thổ, thổ vượng tứ quý và ở trung tâm. Mùa hè tiến đến giai đoạn trưởng hạ, thổ lại sinh kim, các yếu tố kim loại, vàng được nuôi dưỡng trong đất. Mùa hè chuyển sang mùa thu qua giai đoạn trưởng hạ, kim đến lượt mình sinh ra thủy chủ trì mùa đông, khí của kim chảy ngầm trong núi hoặc nhiệt độ làm kim loại nóng chảy cho nên kim sinh thủy. Nhờ có nước mà cây cối tốt tươi cho nên thủy sinh mộc và thời tiết lại bước sang mùa xuân.

Mối quan hệ tương khắc giữa các hành, đó là mối quan hệ theo trật tự thủy khắc hỏa, hỏa khắc kim, kim khắc mộc, mộc khắc thổ, thổ khắc thủy. Giải thích cho quy luật tương khắc ở trên, đó là nước dập tắt lửa, lửa có thể nung chảy kim, sắt có thể chặt được gỗ, gỗ có thể đào được đất và đất có thể chế ngự nước.

Ở Việt Nam quan niệm về ngũ hành tương sinh tương khắc được các thầy bói sử dụng để xem tướng số, xem số mệnh cho các cặp vợ chồng khi chuẩn bị bước vào cuộc sống hôn nhân. Đây cũng là một cách nhìn trong Kinh dịch về tử vi tướng số dành cho người yêu thích bộ môn này tham khảo. Đối với dân tộc Dao và nhất là người Dao ở xã Đồng Nghê, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình thì quan niệm ngũ hành tương sinh tương khắc lại ảnh hưởng lớn đến đời sống, chuyện kết hôn của người dân ở đây.

2. Quan niệm về ngũ hành thể hiện trong văn bản Lùa họp

2.1. Vài nét về người Dao và địa bàn phân bố dân cư

Hòa Bình là một trong các tỉnh miền núi phía Bắc có nhiều dân tộc sinh sống. Theo thống kê dân số toàn quốc năm 1999, Hòa Bình có 6 dân tộc sinh sống, đông nhất là người Mường chiếm 63,3%; người Kinh chiếm 27,73%; người Thái chiếm 3,9%; người Tày chiếm 2,7%; người Dao chiếm 1,7%; người Mông chiếm 0,52% ngoài ra còn có người Hoa sống rải rác ở các địa phương trong tỉnh. Người Dao ở Hòa Bình sống thành cộng đồng ở các huyện Đà Bắc, Lương Sơn, Kim Bôi, Cao Phong, Mai Châu, Kì Sơn và Thành phố Hòa Bình.

Đồng Nghê là một xã thuộc huyện Đà Bắc tỉnh Hòa Bình, có diện tích 32,3 km2, dân số năm 1999 là 1420 người. Xã Đồng Nghê tiếp giáp với hai tỉnh Sơn La và Phú Thọ, cách Thành phố Hòa Bình khoảng 90 km. Đường lên xã Đồng Nghê khá ngoằn ngoèo, có một số nơi bị sạt lở do mưa lũ, và nhiều nơi ở trên xã vẫn là đường đất.

Ở đây người Dao có nghề làm giấy bản; lấy nguyên liệu từ các cây tre nứa non, rơm rạ, vỏ cây dướng, cây dó chuột. Giấy làm ra mỏng, mịn, tương đối trắng, ăn mực, không nhòe chữ nên giữ được lâu. Giấy dùng để chép sách cúng, sách truyện, sách hát, hay dùng để viết sớ, làm tiền ma trong các lễ cúng(2).

2.2. Mô tả đặc điểm văn bản Lùa họp

Người Dao sinh sống ở xã Đồng Nghê, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình còn lưu giữ được những văn bản viết bằng chữ Nôm do tổ tiên truyền lại. Những văn bản này có thể được phân chia thành các nhóm văn bản sau:

Một là: Nhóm văn bản cấp sắc (tổ chức lễ đặt tên cho con cháu). Lễ cấp sắc dành cho người con trai, khi người con trai đó được cấp sắc sẽ được công nhận là người trưởng thành, được tham gia vào các công việc hệ trọng của làng, được giúp việc cho thầy cúng. Đối với người Dao lễ cấp sắc là lễ tổ chức cho người con trai từ 8 tuổi trở lên. Hầu như con gái không được tham gia lễ này hay cấp sắc.

Hai là: Nhóm văn bản cúng tế, xem bói, xem về ngày giờ, xem chuyện ma chay, cưới hỏi, xem việc làm nhà, ốm đau. Đây là nhóm văn bản có thể xem ngày giờ tốt xấu. Khi có việc lớn, ma chay cưới hỏi, người Dao đều đi xem ngày giờ, lành hay dữ để chọn giờ tốt thực hiện công việc của mình. Ở nhóm văn bản này, khi có ai ốm đau, bệnh tật vào ngày nào giờ nào, khi xem là có thể biết người đó bị bệnh gì, và phải cúng vật gì. Đây là cách khám chữa bệnh khá chủ quan, nhưng theo tín ngưỡng tâm linh, một số người đến xem và chữa đã khỏi.

Ba là: Nhóm văn bản giáo dục, pháp luật của người Dao Tiền. Nhóm văn bản này là những lời khuyên răn con cháu, giáo dục con người không được làm điều ác, hướng thiện. Nhóm văn bản này được sử dụng đại trà, mỗi gia đình có thể lưu giữ được một văn bản.

Văn bản Lùa họp thuộc nhóm văn bản thứ hai, nhóm văn bản cúng tế, xem bói, xem về ngày giờ, xem chuyện ma chay, cưới hỏi, xem việc làm nhà, ốm đau. Văn bản Lùa họp là văn bản xem bói của người Dao, văn bản có 10 trang đầu dùng để miêu tả mối quan hệ tương sinh tương khắc giữa bản mệnh của người vợ và người chồng, có hình vẽ đi kèm, hình vẽ là một ô vuông chỉ ngôi nhà, bên trong có hình người minh họa, miêu tả sự cát hung. Ở bên dưới hình vẽ là lời giải nghĩa bằng thứ chữ cổ gọi là chữ Nôm Dao. Các trang tiếp theo là sự miêu tả ngày tháng hung cát, viết chữ dọc đọc từ phải sang trái ở khổ giấy dọc, nhưng khoảng 8 trang sau có sự khác biệt, chữ viết vẫn là chữ viết dọc, đọc từ phải sang trái, nhưng nằm trên khổ giấy ngang. Điều này đặt ra câu hỏi, liệu đây có phải là một văn bản, hay hai văn bản được ghép lại từ các văn bản nhỏ. Khi chúng tôi tiến hành phỏng vấn người cung cấp tư liệu là ông L.Đ.C một cán bộ ở xã Đồng Nghê huyện Đà Bắc tỉnh Hòa Bình, ông đã khẳng định rằng đây là một văn bản thống nhất, tồn tại và được bảo quản như cũ, từ thời cha ông để lại và văn bản có tên gọi là Lùa họp, đây là tên gọi tiếng Dao, hiện nay chúng tôi vẫn chưa biết gọi tên tiếng Kinh là gì, nên vẫn tiếp tục để tên gọi như cũ. Người cung cấp tư liệu là ông L.Đ.C khẳng định hiện nay văn bản gốc vẫn còn được người biết chữ cổ và thông thạo chữ cổ trong xã lưu giữ, có ghi thông tin tác giả, niên đại tác phẩm, nhưng do thời gian khá lâu và quá trình bảo quản, nên văn bản gốc đó đã bị rách nát, không còn nhìn thấy chữ. Vì vậy việc xác định niên đại tác phẩm gặp nhiều khó khăn.

2.2.1. Chữ Nôm Dao của văn bản Lùa họp

夫土婦水: 土水相剋 , 夫婦宅舍百憂愁, 坐空房到老休,夫死寡孤獨是 .

夫木婦水: 木水夫妻是双全,夫妻相合間难,一双男女莫空閑,牛馬和倉   有精 .

夫火婦水: 水火夫妻剋害, 夫妻不真成, 双連 定分空防,獨坐半床 .

夫土婦火: 土火夫妻 正可 , 牛馬婢蒲 皆嚴, 和倉宅田進連伻,男女 生君旺相 .

夫金婦金: 两金夫妻合合不相當又厶,男女宅 空房,罗日夫妻相,為人一世不成家 .

夫水 婦土: 水土夫妻命不合六合不和, 語長州 說千 家舍不成破散去.

夫土婦土: 两土夫妻成大堆,一双男女首相推六合分明,正好連富貴,高堂宅上坐 .

夫土婦今: 土今夫妻头可輪,相逢波弱,有葉 延男女聰明性各至,牛馬和倉蒲 食酒 .

夫火婦今: 火金夫妻不着,六未親久命相剋害,夫寡罗空房中獨坐丁廴是 .

夫火婦木: 火木夫妻百相和,財富貴兜 ,夫妻男女百相扶,牛馬成群和蒲倉 .

夫火婦火: 两火夫妻不可輪,年伻疾病在身边語 ,夫妻久長田塘 萬頂合罗 .

夫木婦木: 两木夫妻可愁語 ,夫妻不到头,宅合田不合,百一丙 家休电 塘又破破 .

夫水夫水: 两水夫妻真有和合,男女好茶葉鄉親家族有相,迎奴婢蒲家宅舍.

2.2.2. Phiên âm Nôm Dao văn bản Lùa họp

“Phô(3) thù phụ suối: thù suối xanh khắc, tại mủng chóc phô phụ chạch xía pác dâu chầu, độ chọi phồng tháo láo hưu, phô xí quả cô độ xí là.   

Phô múc phụ suối: múc suối phu chi xí song tùn, phô chi xanh hò là can nạn, dất song nàm nị ví khồng hền, nháo mạ ùa tsong to dậu chênh.

Phô húa phụ suối: suối húa phô chi khắc, hỏi lý ngô phát phô chi pát chiên chếnh, song liền hố định phan khồng bùng, độ chọi pến tròng.

Phô thù phụ húa: thù húa phô chi chính kha liền, nháo mạ tỳ mòn giai nghiêm ùa tsong, chạch thiền chán liền bình, màn nị to sanh quan oảng xanh.

Phô kâm phụ kâm: lảnh kâm phô chi hò hò pát xanh toong chếc mầu, nàm nị chạch khồng phồng, là nhất phô chi xanh tấu tá, uầy dần dất sát pát chếnh ca.

Phô suối phụ thù: suối thù phô chi mịnh pát hò, lốc hò pát ùa, hư ngữ toàng chiêu hồng chiu khóa xuất chiên puồn ca xía pát chếnh pó d’hán hí.

Phô thù phụ thù: lảnh thù phô chi chếnh tại đôi, dất song nàm nị thủ xanh thôi, lốc hò phan mình, chính hấu liền phú quấy, cô đòng chạch sảnh chọi.

Phô thù phụ kâm: thù kâm phô chi đào kha luân, xanh phồng ba nhược, dậu táy dần nàm nị sông mình tính cách chí, nháo mạ ùa tsong mòn đòng to thực chiếu.

Phô húa phụ kâm: húa kâm phô chi pát trứ, lốc mí kiếu mịnh xanh khắc hỏi, phô quả là khồng phồng chông độ xí húa tha dần.

Phô húa phụ múc: húa múc phô chi pác xanh ùa, dòi phú quấy nhi to, phô chi nàm nị pác xanh pu nháo mạ chếnh còn ùa mòn tsong thực.

Phô húa phụ húa: lảnh húa phô chi pát kha luân, niên bình tật bệnh chọi san piên ngữ phát, phô chi kiếu toàng thiền tòng vạn đỉnh hò là chọi.

Phô múc phụ múc: lảnh múc phô chi kha chầu ngữ phát, phô chi bất tháo đào, chạch hò thiền bát hò, pác dất pếnh ca hưu điện tòng chếc pó pó.

Phô suối phụ suối: lảnh suối phô chi chiên dậu ùa, hò nàm nị hấu trà táy hang tsiên ca tộc dậu xanh, ngình nô tỳ mòn ca chạch xía nhục”.

2.2.3. Dịch nghĩa

Chồng mệnh thổ vợ mệnh thủy: thổ thủy tương khắc, vợ chồng nhiều nỗi lo toan, ở nhà nhiều nỗi ưu sầu cô độc, ngồi phòng không đến khi già, chồng chết cô quả thực là.

Chồng mệnh mộc vợ mệnh thủy: vợ chồng mệnh mộc thủy thực là như ý, vợ chồng tương hợp chẳng gian nan, một đôi nam nữ chẳng thiếu thốn, có chuồng trâu chuồng ngựa, có bịch đựng thóc chứa nhiều gạo trắng tinh.

Chồng mệnh hỏa vợ mệnh thủy: vợ chồng mệnh hỏa thủy khắc hại, vợ chồng không chân thành, hai bên định phận phải chia lìa, phòng không cô độc, nằm nửa giường.

Chồng mệnh thổ vợ mệnh hỏa: vợ chổng thổ hỏa liền một mối, trâu ngựa nô tì đều kính sợ, hòa hợp nhau, đất ở bằng phẳng, con cháu đầy nhà.

Chồng mệnh kim vợ mệnh kim: hai vợ chồng đều là mệnh kim không hợp, vợ chồng mỗi ngày ở phòng không, vợ chồng đánh nhau, làm người cả đời không thuận hòa.

Chồng mệnh thủy vợ mệnh thổ: vợ chồng thủy thổ không hợp mệnh, theo lục hợp thì bất hòa, lời nói không hợp nhau, khó ở chung một nhà, của cải tiêu tán.

Chồng mệnh thổ vợ mệnh thổ: hai vợ chồng đều là mệnh thổ tạo thành đất lớn, một đôi nam nữ đẩy lên đầu, lục hợp rõ ràng, vận mệnh tốt lành, phú quý đầy nhà, cao đường ngồi ở trên.

Chồng mệnh thổ vợ mệnh kim: vợ chồng thổ kim vận mệnh tương phùng, số mệnh lâu dài, có con trai con gái tính cách thông minh, trâu ngựa đầy nhà, lúa gạo đầy chum.

Chồng mệnh hỏa vợ mệnh kim: vợ chồng hỏa kim không hợp, lục căn không thân, vận mệnh tương khắc, vợ chồng cô quả, phòng không cô độc, ở cùng người khác.

Chồng mệnh hỏa vợ mệnh mộc: vợ chồng hỏa mộc mọi thứ hòa hợp, của cải đầy nhà, vợ chồng con cái phù trợ nhau, trâu ngựa hàng đàn, thóc lúa đầy chum.

Chồng mệnh hỏa vợ mệnh hỏa: hai vợ chồng cùng mệnh hỏa không hợp, mỗi năm đều gặp ốm đau tật bệnh, vợ chồng hay cãi vã.

Chồng mệnh mộc vợ mệnh mộc: hai vợ chồng cùng mệnh mộc hay gặp chuyện đau buồn, vợ chồng không sống cùng nhau đến già, đất đai nhà cửa bị phá hoại.

Chồng mệnh thủy vợ mệnh thủy: Hai vợ chồng cùng mệnh thủy thật là rất hòa hợp, con cháu hòa thuận, gia đình làng xóm đều an vui, nô tì đầy nhà, đất ở vượng cát.

2.3. Mối quan hệ tương sinh tương khắc của người Dao thể hiện qua văn bản Lùa họp

Thông qua phần dịch văn bản trên đây, chúng tôi nhận thấy rằng người Dao ở xã Đồng Nghê, huyện Đà Bắc tỉnh Hòa Bình chịu ảnh hưởng sâu sắc về mối quan hệ tương sinh tương khắc trong triết học cổ Trung Hoa. Có thể thấy rằng ở triết học cổ Trung Hoa mối quan hệ tương sinh tương khắc là một quy luật của tự nhiên, theo bát quái mà được thể hiện trong ngũ hành. Văn bản Nôm Dao “Lùa họp” là một văn bản cúng tế, xem bói được các thầy bói, thầy cúng sử dụng. Đây là một trong số ít những văn bản thể hiện rõ quan niệm ngũ hành, ngày giờ cát hung, có hình vẽ miêu tả, và lời dẫn giải bằng chữ Nôm Dao bên dưới.

Lùa họp đã kế thừa và phát huy một cách sáng tạo tinh hoa văn hóa Trung Quốc. Thể hiện trong mối quan hệ tương sinh, ví như thổ sinh kim. Phô thù phụ kâm: thù kâm phô chi đào kha luân, xanh phồng ba nhược, dậu táy dần nàm nị sông mình tính cách chí, nháo mạ ùa tsong mòn đòng to thực chiếu. (Chồng mệnh thổ vợ mệnh kim: vợ chồng thổ kim vận mệnh tương phùng, số mệnh lâu dài, có con trai con gái tính cách thông minh, trâu ngựa đầy nhà, lúa gạo đầy chum). Vợ chồng hợp mệnh, làm ăn tốt lành, gia đình vượng cát. Sự ảnh hưởng sâu sắc của Lùa họp không chỉ thể hiện trong mối quan hệ tương sinh, mà còn thể hiện trong mối quan hệ tương khắc. Ví như thổ thủy trong ngũ hành thổ khắc thủy, thì trong Lùa họp chồng mệnh thổ vợ mệnh thủy thể hiện mối quan hệ tương khắc. Phô thù phụ suối: thù suối xanh khắc, tại mủng chóc phô phụ chạch xía pác dâu chầu, độ chọi phồng tháo láo hưu, phô xí quả cô độ xí là. (Chồng mệnh thổ vợ mệnh thủy: thổ thủy tương khắc, vợ chồng nhiều nỗi lo toan, ở nhà nhiều nỗi ưu sầu cô độc, ngồi phòng không đến khi già, chồng chết cô quả thực là).

Ngũ hành trong triết học cổ Trung Hoa có tính chất một chiều, ví như thổ khắc thủy, thì thổ sẽ ảnh hưởng khắc hại đến thủy nhiều hơn, thủy sẽ ít có thể khắc hại lại với thổ. Còn ngũ hành trong Lùa họp có tính chất đa chiều, nghĩa là mối quan hệ tương sinh, tương khắc có tính chất hai chiều, cùng tác động qua lại với nhau. Ví như Phô múc phụ suối: múc suối phu chi xí song tùn, phô chi xanh hò là can nạn, dất song nàm nị ví khồng hền, nháo mạ ùa tsong to dậu chênh. (Chồng mệnh mộc vợ mệnh thủy: vợ chồng mệnh mộc thủy thực là như ý, vợ chồng tương hợp chẳng gian nan, một đôi nam nữ chẳng thiếu thốn, có chuồng trâu chuồng ngựa, có bịch đựng thóc chứa nhiều gạo trắng tinh). Trong triết học cổ Trung Hoa thủy sinh mộc, còn ở trong tác phẩm Lùa họp mộc cũng có thể sinh thủy. Chồng mệnh mộc vợ mệnh thủy tương hợp, có của ăn của để, mọi chuyện trong gia đình đều như ý. Hay trong mối quan hệ tương khắc, thổ khắc thủy. Nhưng ở trong Lùa họp thủy cũng có thể là yếu tố khắc hại với thổ. Phô suối phụ thù: suối thù phô chi mịnh pát hò, lốc hò pát ùa, hư ngữ toàng chiêu hồng chiu khóa xuất chiên puồn ca xía pát chếnh pó d’hán hí. (Chồng mệnh thủy vợ mệnh thổ: vợ chồng thủy thổ không hợp mệnh, theo lục hợp thì bất hòa, lời nói không hợp nhau, khó ở chung một nhà, của cải tiêu tán). Lục hợp là sự tương ứng của 12 địa chi, tý hợp với sửu, dần hợp với hợi, mão hợp với tuất, thìn hợp với dậu, tỵ hợp với thân, ngọ hợp với mùi, vì mỗi một chi chủ dương kết hợp với một chi chủ âm có sự tương hợp, tương sinh. Chồng mệnh thủy vợ mệnh thổ căn cứ theo lục hợp thì không hợp nhau, kết quả dẫn đến bất hòa, gia sản tiêu tán.

Ngũ hành trong triết học cổ Trung Hoa thể hiện mối quan hệ tương sinh, tương khắc một chiều. Ngũ hành trong Lùa họp có tính chất đa dạng hơn, thể hiện mối quan hệ tương sinh, tương khắc có tính chất đa chiều, không những thế ngũ hành trong Lùa họp còn thể hiện mối quan hệ bình hòa. Đó là mối quan hệ giữa mệnh thổ với mệnh thổ, mệnh hỏa với mệnh hỏa, mệnh mộc với mệnh mộc, mệnh thủy với mệnh thủy… Hai vợ chồng mệnh thổ thể hiện mối quan hệ tương hợp, lưỡng thổ thành sơn. Phô thù phụ thù: lảnh thù phô chi chếnh tại đôi, dất song nàm nị thủ xanh thôi, lốc hò phan mình, chính hấu liền phú quấy, cô đòng chạch sảnh chọi. (Chồng mệnh thổ vợ mệnh thổ: hai vợ chồng đều là mệnh thổ tạo thành đất lớn, một đôi nam nữ đẩy lên đầu, lục hợp rõ ràng, vận mệnh tốt lành, phú quý đầy nhà, cao đường ngồi ở trên). Vợ chồng mệnh thổ tạo thành đất lớn, vận mệnh được thông thuận, hiếu thảo với bố mẹ hai bên. Song bên cạnh đó vợ chồng cùng mệnh với nhau cũng thể hiện mối quan hệ tương khắc. Ví như chồng mệnh hỏa vợ mệnh hỏa, Phô húa phụ húa: lảnh húa phô chi pát kha luân, niên bình tật bệnh chọi san piên ngữ phát, phô chi kiếu toàng thiền tòng vạn đỉnh hò là chọi. (Chồng mệnh hỏa vợ mệnh hỏa: hai vợ chồng cùng mệnh hỏa không hợp, mỗi năm đều gặp ốm đau tật bệnh, vợ chồng hay cãi vã). Hai vợ chồng cùng mệnh hỏa tổn hại đến nhau, vợ chồng khắc khẩu, điều đó được thể hiện rõ trong Lùa họp.

Lùa họp đã kế thừa và phát huy một cách sáng tạo ngũ hành trong triết học cổ Trung Hoa. Từ đó đưa ra những nhận định của riêng người Dao và của riêng văn bản. Dựa vào đó thầy cúng, thầy mo có thể xem ngày giờ tốt xấu, dự đoán tứ trụ, lựa tuổi kết hôn. Lùa họp là văn bản viết bằng chữ Nôm Dao có tính ứng dụng cao.

3. Kết luận

Dân tộc Dao hiện nay lưu giữ được khá nhiều văn bản cổ của mình. Những văn bản này được sử dụng hàng ngày trong đời sống của họ. Việc bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc Dao đang được Đảng và nhà nước coi trọng. Năm 2017 là năm đầu tiên Nhà nước tổ chức ngày hội văn hóa Dao và Hội thảo Bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc Dao. Bài viết thể hiện quan niệm ngũ hành trong triết học cổ Trung Hoa ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống của người Dao, ở xã Đồng Nghê huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình thông qua văn bản Lùa họp. Qua đó cho thấy người Dao ở đây vẫn coi trọng và bảo tồn bản sắc văn hóa đậm đà của dân tộc mình.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

(1) Hoàng Tuấn, Kinh dịch và hệ nhị phân, Nxb Văn hóa Thông tin, 2002, tr.262-267.

(2) Nguyễn Đăng Duy, Nhận diện văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam, Nxb Văn hóa Dân tộc, 2004, tr.40.

(3) Hoàng Hựu, (2012), Bảng tra chữ Nôm dân tộc Dao, Nxb Khoa học Xã hội, 2012, tr.192.