NGHỆ THUẬT SO SÁNH TRONG DÂN CA VỀ TÌNH YÊU TRAI GÁI CỦA DÂN TỘC HMÔNG

 

                                                            ThS. Hà Thị Hải

                                                            Khoa Ngữ văn

 

1. Đặt vấn đề

      Dân ca Hmông vô cùng phong phú, bao gồm nhiều loại như: Tiếng hát tình yêu, tiếng hát làm dâu, tiếng hát mồ côi… trong đó, tiếng hát tình yêu hay còn gọi là dân ca về tình yêu trai gái (Gầu plềnh) là loại hay nhất, hấp dẫn nhất, để lại ấn tượng sâu sắc nhất cho người nghe và cả người hát. Sức cuốn hút của dân ca Hmông về tình yêu trai gái không chỉ ở nội dung phong phú với các cung bậc cảm xúc say đắm lòng người mà còn ở nghệ thuật độc đáo của nó. Những cung bậc cảm xúc về nỗi nhớ người yêu, về niềm vui hạnh phúc khi được yêu, về nỗi buồn khi xa cách và cả những lời thở than, trách móc người yêu đã được thể hiện đầy đủ và sinh động qua những biện pháp nghệ thuật đặc sắc như so sánh, trùng điệp, nhân hóa… Đặc biệt, biện pháp so sánh đã được các tác giả dân gian sử dụng với tần số rất lớn, làm nên nét đặc sắc trong nghệ thuật dân ca về tình yêu trai gái của dân tộc Hmông.

2. Nội dung chính

2.1. Khái niệm so sánh

            Có nhiều quan niệm của các học giả, các nhà nghiên cứu văn học về biện pháp so sánh. Sau đây, chúng tôi nêu ra quan niệm của Lại Nguyên Ân làm cơ sở cho việc triển khai vấn đề nghiên cứu:

So sánh là “một phương thức chuyển nghĩa (tu từ), một biện pháp nghệ thuật trong đó việc biểu đạt bằng ngôn ngữ hình tượng được thực hiện trên cơ sở đối chiếu và tìm ra những dấu hiệu tương đồng nhằm làm nổi bật thuộc tính, đặc điểm của sự vật hoặc hiện tượng này qua thuộc tính, đặc điểm của sự vật hoặc hiện tượng khác” [1, tr 385].

Trong phép so sánh thường sử dụng các từ chỉ quan hệ so sánh: như, như là, như thể… đặt giữa hai vế (đối tượng đem so sánh và đối tượng được dùng để đối chiếu, so sánh). Ví dụ:

                     Thân em như hạt mưa rào

Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa.

                     Thân em như hạt mưa sa

Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày.

(Ca dao)

Quê hương mỗi người chỉ một

Như là chỉ một mẹ thôi

Quê hương nếu ai không nhớ

Sẽ không lớn nổi thành người.

(Đỗ Trung Quân)

2.2. Biểu hiện của nghệ thuật so sánh trong dân ca về tình yêu trai gái của dân tộc Hmông

Khảo sát lời dân ca về tình yêu trai gái của dân tộc Hmông, chúng tôi nhận thấy tác giả dân gian sử dụng nghệ thuật so sánh với tần số rất lớn. Trong tổng số 110 bài dân ca về tình yêu trai gái của dân tộc Hmông trong cuốn Dân ca Mèo và cuốn Hợp tuyển thơ văn Việt Nam có 65 bài sử dụng nghệ thuật so sánh.

Trước hết, trong lời dân ca về tình yêu trai gái của dân tộc Hmông, mọi phương diện của người tình đều được đem ra so sánh: Ngoại hình, hành động, ngôn ngữ (lời hứa, câu hát), cảm xúc, thân phận…

So sánh để làm nổi bật ngoại hình của người tình:

Ngón tay ngón chân mình mềm trắng như lông chim câu

Ngón tay ngón chân mình mềm trắng như lông con vịt.

Vẻ đẹp mềm mại tinh khiết của đôi tay và bàn chân cô gái đã được cụ thể hóa qua những hình ảnh so sánh đẹp và gần gũi trong đời sống.

So sánh hành động:

Cô quấn xà cạp gọn xinh như trôn ốc xây

Cô lấy chồng đảm đang được việc nhà việc cửa

Cô quấn xà cạp gọn đẹp như trôn ốc xoáy

Cô lấy chồng cáng đáng được gia đình.

Trong trang phục truyền thống, phụ nữ Hmông thường dùng một dải vải quấn quanh bắp chân, gọi là quấn xà cạp. Hành động quấn xà cạp của cô gái qua hình ảnh so sánh “gọn xinh như trôn ốc xây”, “như trôn ốc xoáy” chứng tỏ cô rất khéo léo và trong con mắt của chàng trai, một người con gái khéo léo như vậy khi lấy chồng sẽ đảm đang, cáng đáng, chăm lo chu toàn gia đình nhà chồng.

 Lời hẹn, câu hát, lời nói của người yêu cũng được tác giả dân gian đem ra so sánh.

Ví dụ 1:           Gái Giàng Xay hẹn trai Giàng Tú

Xuân qua hè, chẳng thấy

Như con cá giỡn đùa nấp trong hốc đá.

                                                ……

Gái Giàng Xay hẹn trai Giàng Tú

Như mặt trời, mặt trăng, treo lơ lửng từ tận phương trời.

 

Ví dụ 2:           Câu hát sắp hết, câu hát chưa hết

Hết như hang sâu đá bạc.

                                                ……

Lời hát không hết

Hết như bụi đùm đũm.

Trong ví dụ 1, lối so sánh lời hứa của cô gái như “con cá đùa giỡn…”, như “mặt trăng, mặt trời” của chàng trai mang hàm ý trách cô gái đã đùa giỡn làm khổ chàng, lời hứa của cô không thật tâm nên không bao giờ họ có thể gặp nhau. Còn ở ví dụ 2, qua lối so sánh trực tiếp lại khẳng định lời hát của cô gái còn mãi (đùm đũm là một loại cây lá to, thân có gai, quả như quả dâu, màu đỏ tươi, ăn có vị ngọt mát, lá rụng lại có lá non nẩy tiếp quanh năm).

So sánh tâm trạng, tình yêu:

Ví dụ 1:           Buồn lòng ta, buồn như dế than, chim hót mùa đông

Tình đôi ta như mặt trăng, mặt trời kết nghĩa.

 

Ví dụ 2:           Ta muốn kết mình như kết ngôi xao xanh

Ta ưng kết mình như kết vì sao lơ lửng giữa trời.

Tác giả dân gian trong bài dân ca ở ví dụ 1 đã dùng âm thanh da diết của dế, tiếng hát buồn, đứt đoạn của chim trong mùa đông lạnh giá để so sánh đã làm nổi bật nỗi buồn ảm đạm trong lòng chàng trai vì chưa tìm được người ưng ý. Trong cả hai ví dụ, những hình ảnh so sánh như mặt trăng, mặt trời, ngôi sao đều ở cõi cao xa không cùng đã diễn tả được trọn vẹn tình yêu không bao giờ thành của đôi trai gái, làm tăng lên nỗi buồn lan tỏa trong từng câu hát của chủ thể trữ tình.

So sánh thân phận:

Thân em như cây si séng không có rễ

Nước dâng em theo nước nổi

Thân em như cây si séng không có chân

Nước chảy em theo nước trôi.

Dùng hình ảnh si séng - một loài cỏ dại, có mùi thơm như cây kinh giới để so sánh, bài dân ca trên đã diễn tả được thân phận người phụ nữ không nơi nương tựa, dễ bị dòng đời đưa đẩy dập vùi, đó là thân phận đáng thương của người phụ nữ Hmông trong xã hội Phong kiến thuở xưa.

Những cặp sự vật mà dân ca Hmông về tình yêu trai gái dùng để so sánh với nhau về mặt chỉnh thể không giống nhau: Ngón tay ngón chân - lông chim câu; tình yêu - mặt trăng, mặt trời, thân em - cây si séng… Và đó là tiền đề của so sánh. Nếu không, sẽ không cần có sự so sánh làm gì. Song hai sự vật không giống nhau ấy, về mặt cục bộ còn có một số nét tương đồng, gần gũi (độ trắng của ngón chân ngón taylông chim câu, sự bồng bềnh trôi nổi của thân phận người phụ nữcây si séng không rễ…), đó là chỗ dựa của so sánh. Nếu không “thì sẽ không có cách nào phân biệt được. Hai cái đó đầy đủ cả rồi, lúc ấy mới có thể tạo thành được mối quan hệ của so sánh” đúng như quan niệm của Lưu Hiệp - nhà lí luận văn học Trung Quốc khi nhận xét về thủ pháp này [3, tr 296].

Qua những ví dụ đã nêu ở trên, chúng ta thấy đối tượng được dùng để so sánh trong dân ca về tình yêu của dân tộc Hmông khá phong phú, đa dạng: Từ con vật, cỏ cây đến vũ trụ…, từ hình ảnh đến âm thanh… Tất cả đều có thể là đối tượng dùng để so sánh cốt làm nổi bật điều mà chủ thể trữ tình muốn nói đến.

Một điều thú vị là trong những đối tượng mà dân ca về tình yêu trai gái của dân tộc Hmông dùng để so sánh với người tình và các phương diện của tình yêu như con vật, sự vật, vũ trụ… thì con vật là đối tượng được dùng để so sánh nhiều nhất :

Lớn dậy, em ra ngoài, nét mặt hoa đẹp giòn như con nhện giăng tơ.

                                   

Đôi ta như chim khướu lạc đàn

                                    Đôi ta như chim mi lạc bạn.

                                   

                                    Chàng như con gà trống của mẹ của cha vừa mới tập gáy

                                    Ta như con gà mái bới khắp nơi không có chuồng.

                                   

                                    Bây giờ, thân em như trâu măng đã có chuồng

                                    Thân em như ngựa măng đã có tàu.

                                   

Em như con ốc bò rờ rẫm trên mỏm đá.

                                   

Anh như con cào cào chưa mọc cánh.

Đây là kiểu lấy người ví vật. Thông thường, nếu đó là con vật đẹp có nghĩa là tác giả dân gian muốn ca ngợi người được ví, nếu đó là con vật xấu, ác có nghĩa là tác giả dân gian muốn mỉa mai, phê phán người bị ví. Trong dân ca về tình yêu trai gái của dân tộc Hmông, những con vật là đối tượng được dùng để so sánh thường là những con vật bình dị, dân dã như con nhện, chim khướu, chim mi, cá, gà trống, gà mái, trâu, ngựa, con ốc, con cào cào… và khi so sánh, mục đích của tác giả dân gian chủ yếu là để cụ thể hóa đối tượng so sánh (đôi ta, chàng, em, thân em…) chứ không mang hàm ý ca ngợi hay phê phán con người. Những con vật cao quý như long, li, quy, phượng… ít được dùng để so sánh.

Dân ca về tình yêu trai gái của dân tộc Hmông không chỉ so sánh đời người với vũ trụ: “Đời người như bóng râm từ từ ngả ngả bên núi. Đời người như bóng râm từ từ ngả bên đồi” để diễn tả tốc độ biến đổi của cuộc đời con người một cách cụ thể, sinh động, từ đó nhắc nhở người yêu về tuổi già mau tới mà còn so sánh ngược lại, nghĩa là so sánh vũ trụ với trang phục của con người, giúp người nghe hình dung ra sự chuyển động của vũ trụ:

                        Gió về, gió thổi cây rừng, rung rung như nếp váy động

                        Gió về, gió thổi cây rừng, rung rung như tà vạt bay.

            Tuy nhiên, cách so sánh ngược lại như trên rất ít gặp.

Có những bài dân ca tình yêu Hmông sử dụng so sánh liên hoàn:

                        Ta không được cùng em tâm sự

                        Nhìn thấy em như hoa nở bên đồi

                        Được cùng em tâm sự

                        Thì lòng ta thẫn thờ như ma quỷ ghẹo

                        Ta không được cùng em than thở

                        Ngó thấy em như hoa nở bên núi

                        Được cùng em than thở

                        Thì lòng ta thẫn thờ như quỷ ma trêu.

Chỉ trong một đoạn lời hát ngắn, tác giả dân gian đã sử dụng bốn so sánh liên tiếp, điều đó càng làm nổi bật nỗi lòng và tâm trạng thẫn thờ, bứt rứt không yên của chàng trai khi không được trò chuyện cũng như khi được trò chuyện với người mình yêu.

Có thể thấy, những hình ảnh được dùng để so sánh trong dân ca về tình yêu trai gái của dân tộc Hmông thường rất mộc mạc, giản dị, gần gũi, thân thuộc với cuộc sống lao động bình dị của con người như hình ảnh con trâu, con ốc, chim câu, gà, vịt, bụi đùm đũm, cây si séng, vết chân chuột, chiếc quai giày, chai nước lã, chỉ đen, cái nong… Những hình ảnh sang trọng, tươi đẹp, cao quý ít được sử dụng để so sánh.

Là một phương thức tu từ, một thủ pháp nghệ thuật phổ biến nên chúng ta dễ dàng gặp biện pháp so sánh trong văn học của nhiều dân tộc, nhiều quốc gia khác. Dân ca tình yêu trai gái của dân tộc Thái cũng sử dụng khá nhiều biện pháp so sánh:

                        Anh nghèo xơ như bã quả chanh

                        Nghèo dính như vỏ màng quả sung

                        Nghèo mặc áo vỏ cơi, nằm đệm vỏ liếng

                        Thành vợ anh, em sẽ đeo lẵng chạy nhà dưới xin muối…

Chàng trai dùng hình ảnh so sánh rất sinh động: nghèo như “bã quả chanh” (không còn gì) như “vỏ màng quả sung” (rất mỏng) để diễn tả cảnh nghèo đến cùng cực, đến tột đỉnh của mình và vẽ ra một tương lai vất vả nếu cô gái thành vợ mình. Đây có thể là câu hát thử lòng cô gái của chàng trai nhưng cũng có thể là tình cảnh thực của chàng, qua đó ta thấy được sự thật thà, trung thực, một phẩm chất đáng quý của chàng trai Thái trong cách ứng xử với người yêu.

Dân ca về tình yêu trai gái của dân tộc Mường cũng dùng biện pháp so sánh thể hiện ước muốn rất táo bạo của các cô gái Mường:

                        Thân anh như quạt vẽ rồng

            Em như chiếu rách vào hàng bỏ quên

                        Ước gì mưa gió nổi lên

            Cho chiếc chiếu rách nằm trên quạt rồng!

Còn dân ca tình yêu của dân tộc Dao đã so sánh vẻ đẹp của con người với vũ trụ bao la:

                        Trần thế sao có người xinh đẹp

                        Như mây che rợp cả vùng trời

                        Ước chi ta được cùng người đẹp

                        Sướng gì hơn chung sống một nơi.

Dân ca tình yêu của dân tộc Hán (Trung Quốc) có khá nhiều điểm tương đồng với dân ca tình yêu trai gái của dân tộc Hmông. Người Hán cũng sử dụng khá đậm đặc biện pháp so sánh trong dân ca của mình:

                                 Tiết thu e sắp đến nơi

Gió may đuổi bạt khí trời nắng oi

                                Trong hòm quạt bỏ quên rồi

Giữa đường ân ái ôi thôi còn gì…

(Oán ca hành tự)

            Người phụ nữ trong bài dân ca này tự ví mình với cái quạt bị bỏ quên giữa mùa thu để diễn tả nỗi đau khổ khi bị chồng ruồng bỏ, thể hiện thân phận của người phụ nữ dưới chế độ Phong kiến bị phụ thuộc, bị quyết định bởi người đàn ông.

            Như vậy, thông qua biện pháp so sánh, trong lời dân ca về tình yêu trai gái của dân tộc Hmông, những sự vật trừu tượng được cụ thể hóa, sống động hơn, dễ hình dung hơn, tạo nên sự lôi cuốn, hấp dẫn đối với người nghe trong mọi hoàn cảnh diễn xướng.

3. Kết luận

Dân ca về tình yêu trai gái của dân tộc Hmông sử dụng biện pháp so sánh với tần số khá lớn. Giá trị của nghệ thuật so sánh trong lời dân ca về tình yêu trai gái của dân tộc Hmông như một hành vi nhận thức bằng nghệ thuật là ở chỗ: việc đem xáp lại gần nhau những đối tượng khác nhau (chàng trai, cô gái, tình yêu… với vũ trụ, sự vật, sự việc…) giúp phát hiện được ở đối tượng - bên cạnh những dấu hiệu cơ bản - những dấu hiệu bổ sung, làm tăng thêm ấn tượng nghệ thuật của lời dân ca trong lòng người hát và người nghe. Sử dụng nghệ thuật so sánh đã làm tăng thêm vẻ đẹp vốn có của những áng dân ca về tình yêu trai gái của dân tộc Hmông.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Lại Nguyên Ân (2003), 150 thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội.

[2] Lê Bá Hán, Trần Đình Sử (1998), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội.

[3] Khâu Chấn Thanh (1994), Lí luận văn học nghệ thuật cổ điển Trung Quốc, NXB Giáo dục, Hà Nội.

[4] Doãn Thanh (sưu tầm - biên dịch) (1967), Dân ca Mèo, NXB Văn học, Hà Nội.