TỰ SỰ HỌC: TÊN GỌI, LƯỢC SỬ VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT

PGS. TS Lê Thời Tân

 

1. Lược sử Tự sự học

Hội thảo tự sự học đầu tiên ở nước ta (2001- khoa văn, ĐHSPHN) và sau đó là việc xuất bản công trình Tự sự học - một số vấn đề lí luận và lịch sử (Nxb. ĐHSP, 2003) dường như đã góp phần chính danh trong tiếng Việt tên gọi một chuyên nghành nghiên cứu văn học quan trọng ở Âu-Mĩ, chuyên nghành Tự sự học - Narratology.

Roland Bathes có nói đại ý tự sự xuất hiện cùng bản thân lịch sử loài người. Nói theo một cách khác, khi lịch sử được ý thức thì ta đã có tự sự (câu nói quen thuộc ở phương Tây - History is a story/ L’Histoire est un récit). Thế nhưng nghiên cứu tự sự chỉ thực sự trở thành một khoa độc lập dưới ảnh hưởng trực tiếp của trường phái Cấu trúc luận Pháp trong khoảng thập niên những năm 60 thế kỉ trước. Do vậy, có cách gọi tự sự học cấu trúc luận. Năm 1966, tạp  chí  “Giao tế” xuất  bản  tại  Paris đã dành hẳn  kì số 8 cho chuyên san Nghiên cứu kí hiệu học - Phân tích cấu trúc tác phẩm tự sự giới thiệu tập trung lí luận căn bản của tự sự học. Và phải đến năm 1969, Tezvetan Todorov, một trong những đại biểu lớn của Cấu trúc luận Pháp  mới chính thức khai sinh danh xưng Tự sự học (Narratologie - tiếng Pháp) khi xuất bản công trình Ngữ pháp Chuyện mười ngày.[i] Cái  mà Todorov gọi là ngữ pháp ở đây chính là kết cấu tự sự của tác phẩm. Thực ra nghiên cứu cấu trúc tự sự là một truyền thống lâu đời trong  văn học phương Tây. Hoàn toàn có thể xem Thi pháp học của Aristotle là một  trong những khởi đầu của truyền thống đó. Ngọn nguồn của truyền thống lí luận tự sự phương Tây có thể truy đến tận Platon và Aristotle, trong lúc khởi nguồn của tự sự học Âu-Mĩ thường được quy về ảnh hưởng của chủ nghĩa hình thức Nga. Thậm chí cho đến ngày nay, khi tự sự học đã đi đến giai đoạn hậu cấu trúc luận, người ta vẫn phát hiện thấy trong tác phẩm Đọc giải tự sự (Reading Narative) - một cuốn tiêu biểu cho lập trường giải cấu trúc luận của James Hillis Mille sự kết hợp giữa thao tác của chủ  nghĩa hình thức và lí luận giải cấu trúc chủ nghĩa. Đương nhiên ta cũng không thể không nói đến những dính dáng giữa tự sự học và trường phái phê bình mới cùng truyền thống tu từ học tiểu thuyết trong văn học phương Tây.  

Tự sự học kinh điển thường được hiểu là tự sự học giai đoạn những năm 60 kéo dài đến khoảng những năm 80 của thế kỉ trước. Tuy thực sự đã trở thành một trào lưu nghiên cứu có tính quốc tế, nhưng vai trò tiên phong vẫn thuộc về các học giả Pháp. Rất nhiều khái niệm nền tảng cũng như một số mô thức lí thuyết của tự sự học kinh điển bắt nguồn từ Cấu trúc luận Pháp. Trong khoảng thập niên từ 70 đến 80 tự sự học bắt đầu thịnh hành ở Mĩ, thế nhưng chủ yếu vẫn là ứng dụng và phát huy các mô thức lí luận của Pháp. Tự sự học tạo nên một không gian lí tưởng cho đối thoại và hoà nhập giữa truyền thống phê bình Mĩ và lí luận văn học châu Âu. Có thể nêu vài ví dụ về đóng góp cho tự sự học hiện đại của các học giả Mĩ. Chẳng hạn, Gerald Prince là người tiên phong đề xuất khái niệm “đối tượng tiếp nhận tự sự” hoặc “người thụ thuật”: naratee. Khái niệm này được chấp nhận rộng rãi và được xem như là một bổ sung cho mô thức tự sự học Pháp. “Người thụ thuật” là đối tượng hướng tới của của người trần thuật, nó là một nhân tố kết cấu đối ứng với người trần thuật, không liên quan đến ngữ cảnh lịch sử - xã hội mà trong đó có độc giả bằng xương bằng thịt. James Phelan, một nhà tự sự học Mĩ khác giải thích khái niệm này như sau: kẻ thụ thuật là loại độc giả mà người trần thuật (narator) trực tiếp giao lưu cùng, nó có khả năng mà cũng có thể không có khả năng “trùng khít” với độc giả lí tưởng. Hoặc một đóng góp khác, Seymour Chatman đề nghị phân biệt cái gọi là trường tri cảm có tính cách như một bộ thấm lọc(filter) thông tin trần thuật của nhân vật với cái gọi là tầm nhìn hoặc nói quan điểm riêng của người trần thuật khi phân tích góc nhìn tự sự (focalization).[ii] Thế nhưng Mĩ chỉ thực sự trở thành trung tâm của nghiên cứu tự sự học quốc tế vào khoảng những năm 90 trở về sau. Khi đó tự sự học bước sang giai đoạn hậu kinh điển. So với Mĩ, tự sự học ở Anh thường vẫn được coi là “chậm tiến”. Hai ấn phẩm lớn về tự sự học của Anh năm 2005, Bách khoa toàn thư lí luận tự sự (Routledge xuất bản) và Chỉ nam lí luận tự sự (Nxb. Blackwell ) trên thực tế từ chủ biên cho đến các tác giả biên soạn chủ yếu đều mời từ Mĩ. Ngay từ năm 2000, Brian Richardson, một nhà tự sự học đã dự đoán trên tạp chí Văn thể (Style) của Mĩ: “Lí luận tự sự đang đạt tới một tầm cao mới toàn diện hơn. Lí  luận  tự  sự  rất  có  khả  năng sẽ  chiếm  địa  vị  trung tâm trong nghiên cứu  văn học  khi  mà những  hệ hình (paradigm) phê bình vốn từng có vị trí chủ đạo bắt đầu suy yếu đi cùng lúc  mô thức (model) phê bình mới (chí ít cũng không giống như cũ) đang đang thịnh hành dần lên”.[iii] Cái mà Richardson gọi là lí luận tự sự ở đây chính là tự sự học hậu kinh điển xuất hiện như bước kế tiếp của giai đoan tự sự học kinh điển Cấu trúc luận. Tự sự học kinh điển cấu trúc luận Ph áp kích thích tự sự học hậu kinh điển Mĩ cũng giống  như sau đó không lâu giải cấu trúc luận Pháp lại gợi ý cho công cuộc giải tự sự học (ananarratology) ở Mĩ.[iv] Ở Trung Quốc,[v] lí thuyết tự sự học phương Tây bắt đầu được giới thiệu từ những năm 80 thế kỉ trước. Cuối thập niên 80, nghiên cứu tự sự học tại Trung Quốc đã đạt đến  cao trào. Phần lớn các tác phẩm tự sự học quan trọng của tự sự học kinh điển xuất bản trong thập niên 70, 80 của phương Tây đều được dịch ra tiếng Trung. Thế nhưng tính đến những năm gần đây, tự sự học Trung Quốc không kể dịch thuật hay trước tác nhìn chung vẫn đang còn dừng ở trong phạm vi tự sự học kinh điển. Lí luận tự sự học hậu kinh điển thập niên 80 về sau chưa được giới thiệu rộng rãi. Nỗ lực của nhóm Tân tự sự học lí luận dịch tùng (Trực thuộc Vị Minh dịch khố - Đại học Bắc Kinh) trong việc xuất bản bản dịch tiếng Trung các công trình tự sự học hậu  kinh đển quan trọng của các học giả Mĩ, nói như chủ biên của bộ dịch tùng  này  là  nhằm  giúp  cho người Trung Quốc ý thức được bước tiến mới của  tự  sự học trong bối cảnh Bắc Mĩ đã  trở thành trung tâm của  tự sự học hậu cấu trúc luận thay thế cho trung tâm Pháp trong thời kì tự sự học kinh điển cấu trúc luận. Và cũng như ở Việt Nam ta, ngay từ buổi  đầu giới thiệu và dịch thuật tự sự học, việc xác định thuật ngữ, chọn dùng khái niệm tương đương đòi hỏi những cố gắng nhất định. Trong tình hình mà một số thuật ngữ quan trọng như tự sự, rồi tự sự học cũng như trần thuật, văn bản, diễn  ngôn, thoại  ngữ... mà hiện nay ta dùng đều là những từ Hán Việt thì việc tham khảo các học giả Trung Quốc có lẽ cũng là một việc có ích. Giáo sư Trần Đình Sử có nói: “Chúng ta cần xây dựng cho mình một hệ thống thuật ngữ tiếng Việt về tự sự học”.[vi] Liên hệ đến Trung Quốc ông nói thêm: “ Ngay thuật Narratology người Trung Quốc hiện nay vẫn có hai cách dịch. Tự sự học và Tự  thuật học ( tự = kể, thuật = kể). Khái niệm “tự thuật học” dùng tương đồng với “tự sự học”, nhưng trọng tâm có lúc có phần khác nhau. “Tự thuật học” nghiêng về nghi ên c ứu phương diện hành vi k ể, lời kể, còn “tự sự học” nghiên cứu cả hai m t: hành vi lời kể và cấu trúc sự kiện”.[vii] Tình  hình Trung Quốc quả đúng như nhận xét của ông. Chúng tôi cho rằng có thể gọi tự thuật học của Trung Quốc là trần thuật học. Thực ra thuật ngữ tự thuật trong tiếng Trung, đặc biệt là trong ngữ cảnh nhất định của lí luận văn học có nội dung hàm nghĩa tương đương với thuật ngữ trần thuật trong tiếng Việt (mặc dù trong tiếng Trung cũng có từ trần thuật, nhưng nó có nghĩa như từ tường thuật của tiếng Việt. Ngược lại chúng ta không có từ tự thuật mà trong đó chữ tự cũng có nghĩa là kể như trong từ tự sự. Nói vậy là để phân biệt  với từ tự thuật mà trong đó  tự có nghĩa như tự trong tự truyện có cả trong tiếng Trung lẫn tiếng Việt). Nhưng chúng  tôi không dám quả quyết rằng vậy thì  tự  thuật  học Trung Quốc chính  là  hoặc  nói  tương đương trần  thuật  học Việt Nam. Nếu chúng ta đọc kĩ bài Về việc mở ra môn trần thuật học trong nghành nghiên cứu văn học ở Việt Nam (đồng thời tham khảo mục từ Trần thuật trong 150 thuật ngữ văn học cũng của ông) thì sẽ cảm thấy trần thuật học mà ông chủ trương phải tương đương với không phải là tự thuật học Trung Quốc mà là tự sự học của họ. Lại Nguyên Ân đề nghị cách gọi trần thuật học (tr.146, bài Về việc mở ra môn trần thuật học trong nghành nghiên cứu văn học ở Việt Nam trong sách Tự sự học, Nxb.ĐHSP). Ông viết: “Trần thuật học(narratologie, naratology) được  đề xuất cuối những năm 60 do việc xem xét lại học thuyết Chủ nghĩa cấu trúc từ quan điểm lí thuyết giao tiếp v ề b ản chất của nghệ thuật và các dạng thức tồn tại của nó. Do vậy trần thuật học đứng giữa một phía là Chủ nghĩa cấu trúc và một phía khác là Mĩ học tiếp  nhận. Như vậy điều cần lưu ý là Trần thuật học ở phương Tây là một trường phái, một khuynh hướng học thuật chứ không đơn thuần chỉ là một bộ môn nghiên cứu” (bài vừa dẫn, tr.149). Đây là một lưu ý quan trọng, tuy nhiên cũng chính vì vậy mà chúng tôi nghĩ càng nên vẫn dùng thuật ngữ “tự sự học”. Nhất  là  khi ta đã  ý  thức  được  đối  tượng  của trường phái,  khuynh hướng học thuật này không chỉ là nghiên cứu văn học tự sự (trần thuật bằng /thông qua chất liệu ngôn từ) mà là gần như hầu tất các dạng thức tồn tại của giao tiếp nghệ thuật chất  liệu khác. Chúng tôi sẽ nói đến ý này khi dẫn giải về khái niệm tự sự và trần thuật cũng như giới thiệu qua về tự sự học hậu Cấu trúc luận hoặc gọi Narratologies (tự sự học số nhiều, nghiên cứu “trần thuật” của chẳng hạn điện ảnh, vũ đạo, sử học, tranh liên hoàn... phân biệt với danh từ không đếm được naratology. Thậm chí đã thịnh hành cách nói cyberagenarratology – tự sự học mạng internet) tiến đến hình thành một lí thuyết tự sự liên nghành. Tháng 11 năm 2003, một hội thảo quốc tế về tự sự học tổ chức tại đại học Hamburg (Đức) với chủ đề: vận dụng các khái niệm tự sự học truyền thống vào nghiên cứu các loại văn bản phi văn học. Một học giả Trung Quốc đã dịch cuốn Narratologies (Dvid Herman biên soạn, Ohio State UP, 1999) là Tân tự sự học (Mã Hải Lương, Bắc Kinh đại học xuất bản xã, 2002) với hàm ý đây là giai đoạn mới của tự sự học – giai đoạn tự sự học hậu kinh điển (Herman cho r ằng tự sự học kinh điển đã lạc hậu so với tự sự học hậu kinh điển. Xem Narratologies, Nxb. Ohio State, phần Introduction).  Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng giữa Narratologyvà Narratologies không phải là một tiến hoá mà  chỉ là  những diễn biến.  Điều chắc chắn là tự sự học hậu kinh điển (postclassicall narratologies) đã mở rộng đối tượng nghiên cứu, nó không tự giới hạn tầm mắt ở bản thân “văn bản” tự sự.  Chính vì  thế từ  những  năm 1990 trở  về  sau có người gọi nó là tự sự học chủ nghĩa ngữ cảnh.

Các học giả Trung Quốc nhìn chung ngày càng  nghiêng về sử dụng thuật ngữ tự sự học. Trong dịch thuật dường như họ chủ trương trong trường hợp các tác phẩm đầu đề có viết từ  Narratology  thì dịch thành tự sự học. Trường hợp số nhiều Narratologies thì như ví dụ đã dẫn ở trên dịch thành tân tự sự học. Những cuốn nghiên cứu về narrative nói chung (được hiểu là tự sự danh từ, phân biệt với naration - được hiểu là tự sự động từ) cũng được dịch thành tự sự (học). Chẳng hạn Reading Narrative của J. Hillis Mille được dịch là Giải độc tự sựPostmodern Narrative Theory của Mark Currie được dịch là Hậu hiện đại tự sự l í luậnRecent Theories of Narrative c ủa Wallace Martin được dịch là Đương đại tự sự họcNarrative as Rhetoric: Technique, Audiences, Ethics, Ideoology của James Phelan được dịch là Tác vi tu từ đích tự sự: Kĩ xảo, độc giả, luân lí, ý thức hình thái. Cũng có lúc nguyên tác đề Narrative nhưng căn cứ nội dung sách, dịch giả dùng từ tự thuật (với nghĩa mà Trần Đình Sử đã dẫn giải ở trên; tiếng Việt ở đ ây có thể dịch thành trần thuật), v dụ cuốn Fiction of Authority: Women Writers and Narrative Voice của Susan Sniader Lanser được dịch  là Hư cấu đích quyền uy: Nữ tính tác gia dữ tự thuật thanh âm. Tất nhiên không phải là không có những trường hợp gây “bối rối”. Chẳng h ạn cuốn Narratology: Introduction to the Theory of Narrative của Mieke Bal được dịch thành Tự thuật họcTự sự lí luận đạo luận. Như sự phân định tự sự hiểu theo nghĩa rộng và trần thuật hiểu theo nghĩa hẹp mà chúng tôi trình bày từ đầu đến giờ, mà trước hết là theo thông lệ dịch ra tiếng Trung vừa trình bày, ta cảm thấy lí ra nên nói ngược lại Tự sự học: Tự thuật lí luận đạo luận (Tự sự học: dẫn luận lí luận trần thuật). C ũng  nên nói  thêm, nhất quán với chính mình, dịch giả tiếng Trung cuốn này đã dịch đầu đề  cuốn  của David Herman – Narratologies: New Perspectives on Narrative Analysis là Tự thuật họcTự sự phân tích đích tân thị dã ( xem phần Lời người dịch, tr. 5). Trong trường hợp này, thiết  nghĩ Narrative dịch  thành tự thuật (trần thuật) hay tự sự là tuỳ, nhưng  Narratologies chắc phải được dịch thành tân tự sự học (tự sự học số nhiều hay tự sự học nghĩa rộng). Đây là nói các cuốn sách dịch, về mặt trước tác tiếng Trung thì sao? Để càng thấy rõ hơn vấn đề, chúng tôi chỉ lấy ví dụ những trường hợp mà chính tác giả tự dịch tên sách của mình ra tiếng Anh. Thân Đan một trong những nhà tự sự học hàng đầu của Trung Quốc hiện nay có viết cuốn Tự thuật học dữ tiểu thuyết văn thể học nghiên cứu (Bắc Kinh đại học xuất bản xã, 1998; tái bản 2001). Bản thân bà dùng hình thức tờ bìa song ngữ khi xuất bản tác phẩm này. Đầu đề tiếng Anh của cuốn này là Narrtology and the Stylistics of Fition. Nội dung cuốn chuyên luận này cho ta thấy narratology của nó chính là nghiên cứu bình diện trần thuật của tiểu thuyết trong liên hệ về mặt thể loại. Đây là một chuyên khảo lí thuyết. Lấy một cuốn chuyên khảo có tính cách vận dụng lí thuyết vào thực tiễn văn học Trung Quốc làm ví dụ - cuốn Trung Quốc Tự sự học của A. Plaks. Cuốn này như chúng tôi đã nói không tính là của nghiên cứu tự sự học của Trung Quốc (xem chú thích VI), nhưng bìa sách cũng dùng hình thức song ngữ thể hiện một ý thức đối sánh thuật ngữ nhất định. Plaks dùng thêm đầu đề Chinese Narrative bên dưới đầu đề lớn Trung Quốc Tự sự học. Chúng tôi không hoàn toàn cho rằng đây là hiện tượng một cách tác giả tự “dịch” tên sách tiếng Trung của mình sang tiếng Anh, điều quan trọng là một đoạn giới thuyết của ông trong sách này: “Tự sự hay còn gọi tự thuật là những thuật ngữ vốn có từ lâu trong lí luận văn học Trung Quốc. Những năm gần đây chúng được dùng để dịch từ narrative trong tiếng Anh. Hiểu  “tự sự” mà chúng tôi nghiên cứu ở đây theo nghĩa cổ trong Khang Hy tự điển có lẽ không xác đáng cho bằng nói rõ đây chính là tìm hiểu  một sự vận dụng quan niệm narative phương Tây vào  trong văn học cổ điển Trung Quốc” (Trung Quốc tự sự học, Bắc Kinh đại học xuất bản xã, tr. 4). Nhân tiện cũng xin nói thêm còn có một cuốn khác cũng gọi Chinese Narrative (nhưng với nghĩa Văn học tự sự Trung Quốc) khác xuất bản ở Mĩ năm 1977 là tập các bài viết về các tác phẩm tự sự Trung Quốc lựa chọn từ hội thảo Nghiên cứu Trung Quốc tự sự văn tổ chức năm 1974 cũng ở Mĩ.

2. Một số vấn đề lí thuyết của tự sự học hiện đại

Trước hết ta thử  xem định nghĩa mục từ Narratology của Gerand Prince trong Từ điển tự sự học(University of Nebraska Press xuất bản 1987):

1. Lí thuyết về tác phẩm tự sự ra đời dưới ảnh hưởng của Chủ nghĩa cấu trúc. Narratology nghiên cứu hình thức, quy luật vận động,  tính chất của các tác phẩm tự sự với các chất liệu khác nhau, nghiên cứu năng lực tự sự của chủ thể sản sinh và đối tượng tiếp nhận tác phẩm tự sự. Các bình diện mà nó tìm hiểu bao gồm “nội  dung câu chuyện” và “hình thức trần thuật” cùng mối quan hệ giữa hai cái đó.

2. Nghiên cứu tác phẩm tự sự trong tính cách là một biểu đạt văn tự đối với sự kiện câu chuyện (tiêu biểu là G.Genette). Trong nghĩa hạn định này, narratology không quan tâm bản thân câu chuyện, mà tập trung sự chú ý vào thoại ngữ tự sự.

Như vậy có thể thấy, Narratology trong định nghĩa thứ nhất chính là một lí luận tổng quát liên quan đến mọi tác phẩm tự sự trong một trọn vẹn chỉnh thể và  quá trình. Chúng ta có thể hiểu bao quát rằng, mọi tác phẩm tự sự ở đây là chỉ tất cả các loại hình và dạng thức tự sự, cho dù là tự sự trên/bằng/với chất liệu/phương tiện nào chứ không chỉ là ngôn từ lời nói. Nó cũng nghiên cứu hai đầu của cái quá trình giao tiếp tự sự đó - chủ thể sản sinh tự sự và kẻ tiếp nhận tự sự. Đó không chỉ là hình ảnh một người nói/viết và bên kia, hình ảnh người đọc/người nghe. Tất cả các tác phẩm tự sự đều vật chất hoá thành một dạng “văn bản” bởi những chủ thể tác giả tồn tại/hiển hiện trên những cấp độ bao hàm nhau “kể” cho những đối tượng thụ nhận cũng tồn tại/hiển hiện trên những cấp độ bao hàm tương ứng một “câu chuyện”.

Narratology  trong định nghĩa thứ hai có một sở chỉ hạn định hơn. Nó nghiên cứu văn học tự sự ( tiểu thuyết, truyện kể là thực liệu điển hình). Thậm chí nó còn tiếp tục giới hạn sự quan tâm trong  phạm vi hình thức biểu đạt câu chuyện bằng lời văn tự. Ở đây nhắc đến G. Genette như  là đại diện tiêu biểu của khuynh hướng tự sự học này. Ta đều biết tác phẩm đại biểu của Gérard Genette là Thoại ngữ tự sự(Discours du recit. Seuil, 1972. J.E.Lewin d ịch  ra tiếng Anh Narrative Discourse. Ithaca: Cornell Univ. Press, 1980). Trong đó Genette đề xuất khái niệm ngữ thái, phân xuất thoại ngữ trần thuật và hành động trần thuật từ cái thực thể mà chẳng hạn Mieke Bal (Hà Lan) cũng gọi bằng tiếng Pháp  là văn bản tự sự (texte narratif). Những tác phẩm tự sự bằng/trên chất liệu khác dĩ nhiên không liên quan đến khái niệm ngữ thái của Genette.

Trong truyền  thống  lí luận văn học phương Tây, thuật ngữ narrativenaration là những thuật ngữ có cả lịch sử hai  ngàn năm, hàm nghĩa hết sức phức tạp, nhiều lúc chúng chứa đựng những sở chỉ ngược nhau. Thông thường naration chỉ  động  tác, hoạt động hoặc là một danh từ biểu thị hoạt động (động danh từ). Ta có thể dịch là trần thuật, thuật kể, kể, sự kể. Còn  narrative được dịch là  tự sự, chỉ cái được trần thuật ra, nó là một sự thực chứ không là một hoạt động. Tự sự học hiện đại cố gắng khu biệt narrative và naration như là khu biệt giữa “chuyện kể ra” và “hoạt động kể chuyện”. Người ta giả định rằng mọi chuyện trên đời cho tới  trước lúc được kể nên lời, là cứ tồn tại trong trạng thái “vốn thế”. Và những sự-việc tồn tại “vốn thế” đó không phải là narrative (tạm gọi là truyện kể, hoặc chuyện kể - trong cách nói “chuyện kể rằng...”) mà là story (tạm gọi là chuyện, câu chuyện, trong cách nói “có một câu chuyện...”). Các học giả  Trung Quốc gọi cái này là “cố sự” (với nghĩa “chuyện đã xảy ra” - nhấn mạnh yếu tố “cố”. Chúng tôi tạm  lấy đầu  đề Cố sự tân biên dịch  theo cách  của  Trương Chính  - Chuyện  cũ  viết  lại để minh hoạ cho ý này). Sau khi ta thuật ra/kể nên “chuyện đã xảy ra” đó thì mới có kết quả hiện trình narrative, tức là một câu chuyện do  hình  tượng một người trần thuật hướng về độc - thính giả từ một góc độ nào đó,  tồn tại trong một kết cấu ngôn từ nhất định. Công việc đó trở nên có khả năng ch nh là nhờ hoạt động naration. Chung quy, naration dịch thành “thuật kể/trần thuật/kể chuyện” chỉ hoạt động, còn narrative dịch thành “tự sự/ truyện kể”, chỉ kết quả của hoạt động narration, cái  kết  quả  “chuyệ n kể ra” hoặc nói chính xác hơn “chuyện có được nhờ kể, chuyện nhờ kể mà nên”. Vì nói “câu chuyện” sợ người ta vẫn nghĩ đến “chuyện đã xảy ra” chưa từng kể đến chứ không phải là những “chuyện xưa kể rằng” - sản phẩm thường thấy trong nền văn hoá đọc. Thế nhưng, những rào đón như thế này thường cũng khó mà tự mình kín kẽ. Ta hoàn toàn có thể cật vấn rằng, vậy làm thế nào để biết đến những “cố sự ” đó? Huống hồ có cho đó là “sự cố” hay không lại còn là một chuyện khác. Làm thế nào để biết đó là những sự - việc tồn tại “vốn thế” (sự - việc dưới  “dạng bản lai chân diện mục”) trong “thực tế hiện thực”?[viii] Cái “câu chuyện/story/histoire/cố sự” theo nghĩa này phải được hiểu là những kết cấu sự kiện có tính cách “khách quan” chưa từng kinh qua bất cứ biểu thuật nào và vì thế không chịu bất cứ ảnh hưởng của một lập trường quan điểm hay sự “nhào nặn” của hình thức biểu thuật. Trên thực tế những câu chuyện ta đọc được, nghe được  không thể còn có “tính khách quan” giả tưởng đó được nữa. Tự sự học giải cấu trúc  dường như muốn đi đến cùng trong vấn đề này. Các nhà tự sự học giải cấu trúc cho rằng chúng ta (cả độc giả lẫn nhà viết truyện) chỉ có thể tiếp xúc với câu chuyện thông qua thoại ngữ tự sự đã sản sinh nên nó. Họ cho rằng tự sự học giả định sự kiện tồn tại trước thoại ngữ nói  về  hoặc biểu đạt c úng. Vì vậy đã kiến lập nên một trật tự tầng bậc. Thế nhưng tác phẩm tự sự trong quá trình vận tác thường lật nhào trật tự đó. Các tác phẩm tự sự không phải là biểu đạt sự kiện như là biểu đạt sự thực đã biết, mà là biểu đạt chúng như là sản vật của sức mạnh hay yêu cầu của thoại ngữ.

Dường như người ta nói nhiều hơn đến cái story “thâu nhận”, suy dẫn ra được từ một narrative: những “cố sự ” trong các truyện kể, chứ không phân tích những “chuyện đã xảy ra” chưa từng kể đến.  Nói đúng hơn chúng ta chỉ nói đến chúng khi   ý  thức được  rằng không giả  định  có một “cái gì” đó khá ổn định, có thể biểu  hiện lên qua  một số phương thức thì chúng ta sẽ không thể bàn được câu chuyện được  kể ra “như thế nào”. Vấn đề càng nổi rõ hơn khi ta cho rằng có nhiều nghệ thuật với những công cụ - chất liệu khác nhau (điện ảnh, vũ đạo...) cũng có thể thể hiện cho ta câu chuyện mà tự sự bằng lời đã kể cho ta. Đó chính là lí do khi ến cho trường phái hình thức Nga đề xuất khu biệt fabula (chỉ các nguyên tài liệu sự kiện phát sinh trong tuyến tính thời gian thực tế ) với syuzhet (hình thức biểu đạt các nguyên tài liệu đó). Chịu ảnh hưởng V.Shkhlovsky B.Eichenbaum – hai đại biểu của chủ nghĩa hình thức Nga đi tiên phong trong việc đề xuất phương pháp lưỡng phân vừa nói, đại biểu của chủ nghĩa cấu trúc Pháp T.Todrrov lần đầu tiên nêu cặp lưỡng phân câu chuyện (histoire) và thoại ngữ (discours) khu biệt tài liệu sự kiện với hình thức biểu đạt của tác phẩm tự sự. Đây dường như  đã trở thành tiền đề tất yếu của tự sự học. Một nhà cấu trúc luận Pháp khác - Genette cho rằng “câu chuyện-histoire” được tổ thành từ những tài liệu hẵng còn chưa được biểu thuật ở diễn ngôn (trần thuật) trong trật tự tuyến tính thời gian tự nhiên. Theo nghĩa này “câu chuyện-histoire” đối ứng với định nghĩa “fabula”. Còn khái niệm “thoại ngữ-discours” thì được Genette dùng để chỉ bao gồm t ất cả mọi đặc trưng mà tác giả đem đưa vào câu chuyện- histoire. Như vậy syuzhet theo cách hiểu của Boris Tomashevky - tự sự kể ra hoặc viết ra bao gồm các thủ pháp, các trình tự thuộc văn bản ngôn từ trở thành khái niệm đối ứng với khái niệm “thoại ngữ-discours” nói trên. Về sau Genette đã mở rộng nhị phân “câu chuyện-histoire”  và “thoại ngữ-discours” thành tam phân histoire/récit/narration. Chúng tôi sẽ quay trở lại với Genette khi nói đến phương pháp tam phân. Khu biệt của T.Todrrov rất có ảnh hưởng trong nghiên cứu tự sự học. Một nhà tự sự học Mĩ thậm chí đã dùng cặp thuật ngữ đặt tên cho một cuốn sách nghiên cứu cấu trúc tác phẩm tự sự - cuốn Story and Discourse của S.Chatman. Thế nhưng “story” của Chatman không tương ứng với “histoire” cấu trúc luận Pháp. “story-câu chuyện” của Chatman bao gồm sự kiện, nhân vật, bối cảnh cũng như sự sắp xếp bố trí tất cả những thứ đó. Trong khi đó theo Genette, sự sắp xếp bố trí này lại là một phương diện của “thoại ngữ - discours”. Chatman quan niệm “thoại ngữ-discours” là phương thức biểu đạt đối với “story-câu chuyện”. Vì vậy có thể nói đến “thoại ngữ” theo nghĩa đó đối với cả điện ảnh, vũ ba lê... mặc dù chúng sử dụng những công cụ chất liệu khác nhau.               Trên đây xuất phát từ cặp thuật ngữ narrative/narration bước đầu nói đến việc phân tách hai bình diện của một tác phẩm tự sự truyện kể. Cũng như nội dung và hình thức, fabula và syuzhet, story và disourse, chuyện và truyện[ix]... đây đều là thao tác nhị nguyên luận vận dụng để lưỡng phân đối tượng. Học giả người Pháp Genette đi tiên phong đề xuất phương pháp tam phân (Discours du recit. Seuil, 1972. J.E.Lewin dịch  ra tiếng Anh Narrative Discourse. Ithaca: Cornell Univ. Press, 1980. Discours du recit là một bộ phận trong sách Figures III, Paris: Seuil, 1972): 1) câu chuyện(histoire) tức nội dung được kể; 2) thoại ngữ tự sự/trần thuật (récit) tức diễn ngôn kể, đó là văn bản tác phẩm tự sự mà độc giả đọc; 3) hành vi trần thuật (narration)[x] tức quá trình hoặc hành động làm nảy sinh thoại ngữ. “narration” trong tam ph ân của Genette đề cập đến quan hệ  người nói/tác giả (“tiếng nói” tự sự) và người nghe/ độc giả. Có thể tạm hình dung tam phân của của Genette chính là tiếp tục nhị phân thoại ngữ tự sự thành diễn ngôn lời kể và hành vi sản sinh lời kể. Genette nhấn mạnh tầm quan trọng hàng đầu của hành vi tự sự: không có hành vi tự sự thì không có thoại ngữ tự sự, tức cũng không có chuyện được kể ra.  Lí thuyết của Genette được nữ học giả Shlomith Rimmon-Kenan tu chỉnh phát huy (Narrative Fiction, London: Methuen, 1983). Rimmon-Kenan lần lượt gọi đó là câu chuyện (story), văn bản(text) và hành vi tự sự (narration). Nhà tự sự học Hà Lan Mieke Bal cũng đề xuất phương pháp tam phân trong công trình Tự sự học xuất bản bằng tiếng Pháp (Narratologie, Paris: xét từ góc độ tự sự học..   Klincksieck, 1977. Phân biệt với bản tiếng Anh – Narratology, Univ. of Toronto Press xuất bản, 1985. C.van Boheemen dịch. Trong bản tiếng Anh có vấn đề trong việc chuyển dịch khái niệm). M.Bal dùng ba thuật ngữ: histoirerécit (với nghĩa thủ pháp hoặc kĩ xảo trần thuật) và texte narratif (văn bản tự sự). So với tam phân của Genette, récit của Bal nhấn mạnh đến kĩ xảo tự sự (narrative technique) còn histoire của ông cũng không giống với histoire của Genette, nó tương ứng với story của Chatman.    

Vậy thì nếu nhị phân ta phải ý thức được rằng không thể có chuyện trước lúc kể, hoặc nói cách khác trước lúc vào/lên truyện (ta có cách nói “... lên sân khấu; ... thành phim; ...lên/vào mạng”...) những cái đem kể chỉ là đề tài, tài liệu, chất liệu. Đó là chuyện bếp núc của nhà văn. Mặt khác, cũng nên thấy truyện chỉ có một nhưng câu chuyện mỗi độc giả “đọc ra” là không giống nhau. Bản “tóm tắt cốt truyện” của các độc giả trên thực tế lại là một “văn bản/thoại ngữ kể chuyện” mới. Nếu như đã từng có cách nói cực đoan “cái chết của tác giả” thì từ những năm 90 cũng đã xuất hiện cách hiểu cực đoan cho rằng không kể thuộc thể loại nào chỉ cần độc giả  trong ngữ cảnh nhất định xem là có “tính truyện” (narrativity) thì đó sẽ là tự sự. Có cách nói đùa một cuốn danh bạ điện thoại chính cũng là một cuốn tiểu thuyết mà nhân vật thì quá thừa mà hành động thì quá thiếu. Chúng ta sẽ không nói quá nhiều đến tác giả ngoài đời, khi chuyện  kể xong “tác giả đã chết” (R.Bathes). Ta sẽ chỉ chú ý đến cấu trúc bổ ngang của một tác phẩm tự sự. Lúc đó trong thao tác tư duy logic việc lưỡng phân nhị nguyên hai bình diện chuyện và truyện là cần thiết, tuy sự thực narative và naration là tương sinh đồng tồn – đó là hai mặt của một thực thể. Tồn tại của chúng là tồn tại như những bình diện/phương diện đối ứng trong một giả định lí luận trừu tượng. Không ý thức đầy đủ và thường xuyên về điều đó, một số nhà nghiên cứu đã phân tích từng phương diện  như là những thực thể cô lập. Chẳng hạn có người tìm cách chứng minh “sự độc lập tương đối” của “story/câu chuyện/cố sự” bên ngoài chất liệu (ngôn từ, hình ảnh phim, động tác vũ đạo, hành động sân khấu) biểu thuật nó. Hoặc ngược lại có người lại tìm kiếm khu vực “tương trùng” giữa “story/câu chuyện/cố sự” và “thoại ngữ/ discours”. Mặt khác, nếu ta đồng thời còn chú ý đến chiều bổ dọc của cấu trúc truyện, chiếu cố đến các bậc (instances) và cấp độ trần thuật (niveaux narratifs)[xi] trong tác phẩm tự sự thì ta buộc phải lưu ý đến tiếp nhận và ngữ cảnh. Theo thiển ý của chúng tôi, những người phản đối phương pháp tam phân với lí do hành vi hoặc quá trình trần thuật (narration) và thoại ngữ trần thuật là không thể “phân tách” chính là do không ý thức rõ ràng về vấn đề  bình diện và tầng bậc.[xii] Bản thân chúng tôi cho rằng phương pháp tam phân đã chỉ ra ba bình diện quan trọng của tự sự. Ba bình diện đó phải được hình dung là tam diện nhất thể, chúng đồng sinh đồng tồn. Tam phân không phải là một bổ sung cho nhị phân theo cách tiếp tục lưỡng phân  một trong hai bình diện của nhị phân. Chúng tôi dùng hình ảnh “tam giác tự sự” sau để minh hoạ cho nhận thức này:

                       

 

           story/câu chuyện                           thoại ngữ/discours/truyÖn

  

 

                                hành vi trần thuật /narration

Phương pháp lưỡng phân vấp phải sự chống đối của những người nhất nguyên luận. Đến lượt phương pháp tam phân lại hứng chịu sự phản đối đến từ một bộ phận  chủ trương nhị nguyên lưỡng phân. Và rồi dường như tất cả lại trở thành đối tượng phê phán của các nhà giải cấu trúc. Nếu tự sự học còn tiếp tục, và thực tế nó phải tiếp diễn mặc cho ai đó hô hào “phản tự sự học” thì thực tế chúng ta vẫn bắt buộc đối mặt với lịch sử và như vậy tức phải đối mặt với tự sự. Sự thực đó bắt buộc chúng ta không thể né tránh được việc phân tích tự sự. Và như vậy là cho dù  giữ lập trường nhất nguyên luận hay giải cấu trúc luận  thì con người vẫn phải không ngừng thức nhận tự sự, tức  vẫn phải tiến hành trong óc những  thao tác tư duy nhất định, dù đó là  lưỡng phân hoặc tam phân hay là giải cấu trúc đi nữa.

..............................................................                                                                             

[i] Xem thêm Trần Đình Sử (chủ biên), Tự sự học, Nxb. ĐHSP. Tác phẩm của Tzvetan Todorov: Grammaire du “Décam eron”. The Hague: Mouton, 1969.

[ii] Tự sự học phân biệt hai hiện tượng ai đang lên tiếng kể (một giọng nói, một tiếng nói) và ai đang quan cảm thế giới (một trường nhìn, một tiêu điểm ) trong trần thuật. Xuất  hiện xu hướng dùng kái niệm góc nhìn tự sự  để dịch chung cho  hai thuật ngữ  narrative perspective và focalization. Tuy nhiên điều quan trong là chúng ta phải tiếp tục phân biệt cái góc nhìn tự sự giữ vai trò là một giác độ quan sát toàn bộ thế giới tự sự với một cấp độ thấp hơn - ánh mắt, hay trường nhìn nhân vật người trần thuật trong truyện. Cái sau này nằm trong bình diện câu chuyện, cấu thành đối tượng quan sát của góc nhìn tự sự là cái thuộc về bình diện biểu đạt câu chuyện bằng một hệ thống thoại ngữ  chung mà ta gọi là văn bản truyện.

[iii]  Brian Richardson, “Recent Concepts of Narrative and the Narratives of Narrative Theory”Style 34 (2000), p.174.   

[iv] Năm 1966, cha đẻ của giải cấu trúc luận Jacques Derrida từ Pháp qua thăm Mĩ. Diễn thuyết của Derrida về lí luận  giải cấu trúc chủ  nghĩa chống Logos trung tâm luận của ông gây chấn động lớn trong giới học giả Mĩ. Cùng với Paul de Man, James Hillis Mille là hai học giả Mĩ đi tiên phong trong việc vận dụng tư tưởng giải cấu trúc luận vào trong văn học ở Mĩ. Tác ph ẩm nổi  tiếng Đọc giải tự sự (Reading narrative) của Mille là hành động giải  tự sự học rất có tiếng tăm. Chương mở đầu - chương bộc  lộ nền tảng tư tưởng giải cấu trúc luận trong nghiên cứu tự sự học của cuốn sách chính là dành để  đối thoại với Aristotele (“dỡ bỏ” học thuyết về tình tiết cốt truyện trên cơ sở cắt nghĩa lại “ tình tiết” tác phẩm Oedius the King - Ơ đíp làm vua). Mille rõ  ràng  không chỉ  là  nghiên cứu  tự sự mà chính là nghiên cứu tự sự học. Công cuộc ananarratology của Mille chính là mở ra cái gọi là khoa học về tự sự học. Học giả Trung Quốc Thân Đan dịch ananarratology là “phản tự sự học” (Xin xem Giải độc tự sự, Bắc Kinh đại học xuất bản xã, 2002, tr. 240). Suy xét đến thực tế thao tác phân tích của Mille cũng như cách đặt thuật ngữ với tiền tố ana chứ không phải là anti (chống, phản) chúng tôi mạnh dạn dùng cách nói giải tự sự học. Mặc dù chúng ta cũng đã biết cách nói “giải cấu trúc” -  “Deconstrution”.

[v] Chúng tôi nói “Trung Quốc đại lục”. Đài Loan và Hongkong ở trong một không khí học thuật khác. Chẳng hạn, khi các học giả đại lục mới bắt đầu làm quen với lí luận tự sự học và bước đầu vận dụng vào nghiên cứu trước tiên tự sự tiểu thuyết thì ở Đài Bắc đã xuất bản những cuốn như  Trung Quốc tảo kì tự sự văn luận tập (Vương Tịnh An), nghiên cứu tự sự học các tác phẩm tản văn lịch sử  thời kì đầu của Trung Quốc như Tả TruyệnSử KíChiến Quốc Sách... Nói “Trung Quốc đại lục” cũng đồng nghĩa với việc không tính đến những tác phẩm tự sự học viết bằng tiếng Trung của học giả Âu Mĩ mặc dù chúng xuất bản tại Trung Quốc. Chẳng hạn trường hợp Trung Quốc tự sự học của Andrew H.Plaks. Cả hai cuốn vừa nói - một nghiên cứu tự sự tiểu thuyết, một nghiên cứu tự sự lịch sử này đều dẫn dụng đến các đại bi ểu lớn của tự sự học kinh điển Pháp như T. Todorov, R.Barthes ngay từ những trang đầu tiên.

[vi] Trần Đình Sử  (chủ biên), Tự sự học, tr.21. Nxb. ĐHSP.

[vii] Trần Đình Sử  (chủ biên), Tự sự học, tr.21. Nxb. ĐHSP.

[viii] Trên tinh thần đó, ta thử đọc một đoạn trong một cuốn sách triết mới xuất bản gần đây:

“Phải  hiểu “sự thật khách quan” trong nghĩa nào?  Sự thật của khách-thể, của vật-thể? Vật-thể không có sự thật. Nó là nó, tự nó di-động như nó di-động, chấm hết. Điều đúng hay sai ở sự hiểu-biết của ta về sự vận-động ấy, và độ chính xác của  hiểu-biết ấy tuỳ thuộc khả-năng hành-động của ta để tác-động vào vật-thể. Theo quan-điểm biện-chứng, phải hiểu “sự thật khách quan”, “khoa học” trong nghĩa sau: tuỳ khả-năng hành-động hiện nay của ta để tác-động vào thế giới, một người trình bày cho đồng loại điều mình biết hay tưởng rằng mình biết về quan-hệ-về-lượng giữa những vât-thể trong thế giới ấy; khi thử-nghiệm xác-nhận rằng dự đoán của người ấy đúng, ta có thể tin rằng người ấy nói sự-thật cho đồng loại về những quan-hệ giữa những vật-thể kia, rằng chàng không tán dóc về vấn đề ấy, rằng chàng trình-bày một thuyết-trình khoa học. Những vật-thể cũng như những tương-tác giữa chúng không có tính khoa học. Chỉ thuyết-trình con người nói về chúng cho người khác mới có tính khoa-học hay không khoa-học. Thế-giới vật-chất tồn-tại và vận-động không thèm đếm xỉa tới ý nghĩ của ta về nó. (... ...) Không thể có sự-thật trong thế-giới vật-chất vì trong thế-giới đó không có sai-lầm và cũng không có giả-dối. (... ...) Sự-thật, kể cả sự-thật khách-quan chỉ có thể có trong nhân-giới, thế-giới của ngôn ngữ, của quan-hệ giữa người với người”. (Phan Huy Đường, Tư duy tự-do. Nxb. Đà Nẵng, 2006. Tr. 54-55 . Tác giả tự dịch từ nguyên tác tiếng Pháp. Chúng tôi dẫn đúng chính tả bản in).

[ix] Trong tiếng Việt những chữ như: chuyệnchuyềnchuyếnchuyển và truyệntruyện và truyền, cùng các cách nói “kể về/kể hết/kể lại/kể nên/kể ra/kể ra cũng buồn/đáng kể, ...” xét từ góc độ tự sự học đều rất đáng chú ý.

[x] Cũng có học giả Pháp dùng thuật ngữ  naration theo nghĩa ngược lại Genette. Chẳng hạn J.Ricardou dùng thuật ngữ này để chỉ “thoại ngữ tự sự” (discourse) chứ không phải là “hành vi tự sự”. 

[xi] Thuật ngữ dẫn theo Lại Nguyên Ân (Về việc mở ra môn trần thuật học trong nghành nghiên cứu văn học ở Việt Nam trong sách Tự sự học, Nxb. ĐHSP, tr.150. Tác giả bài viết giới thiệu một cách hệ thống vấn đề bậc và cấp độ trần thuật). Giáo sư Trần Đình Sử  gọi là “kết cấu của các tầng bậc trần thuật” (Tự sự học - một bộ môn nghiên cứu liên nghành giàu tiềm năng in trong Tự sự h ọc, Nxb. ĐHSP, tr.18).

[xii] Tiêu biểu cho lập trường phản đối phương pháp tam phân (cho dù tam phân của G. Genette, Shlomith Rimmon-Kenan hay Mieke Bal) là giáo sư Thân Đan (Đại học Bắc Kinh). Xin xem: Chương I Tự thuật học dữ tiểu thuyết văn thể học nghiên cứu. Bắc Kinh đại học xuất bản xã, hoặc Dan Shen, Narrative, Reality, and Narrator as Construct: Reflections on Genette’s “Narrating” (Narrative 10, 2002). Vấn đề chỉ có thể nói rõ hơn khi đã giới thiệu đầy đủ lập luận của Bà. Vậy mà, ngay lập tức chúng ta có thể nêu vấn đề tại sao nữ học giả phản đối quan điểm nhất nguyên luận bằng cách chứng minh lưỡng phân “story/câu chuyện/cố sự” và “thoại ngữ/discours” là cần thiết và có thể - lại không thể tiếp tục lưỡng phân “discours” thành “récit” và “narration”? Riêng trường hợp “meta-fiction” (tiểu thuyết về tiểu thuyết) Thân Đan cho là ngoại lệ - tức có thể tam phân. Chúng tôi thì lại cho rằng trường hợp “meta-fiction” có thể áp dụng tam phân không phản ánh tính chất ngoại lệ thực sự. Đơn giản chỉ là tiểu thuyết về tiểu thuyết cũng là tiểu thuyết tức cũng là một dạng thức tự sự bằng lời. Hy vọng sẽ có dịp trở lại với vấn đề này.

 

Nguồn: http://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/tu-su-hoc-ten-goi-luoc-su-va-mot-so-van-de-li-thuyet