MỘT SỐ HÌNH THỨC SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY VÀO DẠY HỌC TIẾNG VIỆT TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

ThS. Nguyễn Ngọc Mai

Bộ môn Lý luận và phương pháp dạy học Ngữ văn

Khoa Ngữ văn - Trường Đại học Tây Bắc

 

 

Dạy học bằng bản đồ tư duy là một phương pháp dạy học khá hiệu quả trong quá trình dạy học đã và đang được áp dụng rộng rãi tại các trường phổ thông trong cả nước. Đặc biệt, phương pháp này đã góp phần đổi mới cách tổ chức dạy học của giáo viên đồng thời góp phần bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh trung học phổ thông phù hợp với các mục tiêu đổi mới phương pháp dạy học: dạy học theo hướng hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động.

I. Đặt vấn đề

Bản đồ tư duy (BĐTD) hay còn gọi là sơ đồ tư duy, giản đồ tư duy là một lý thuyết được khởi xướng từ Tony Buzan (chuyên gia hàng đầu thế giới về nghiên cứu hoạt động của não bộ) từ những năm 70 của thế kỷ XX và nó đã trở thành một trong những phương pháp làm việc tích cực được sử dụng ở rất nhiều quốc gia trên thế giới. Ở Việt Nam, lý thuyết này mới được biết đến trong vài năm trở lại đây, việc vận dụng nó còn chưa thực sự phổ biến, đồng thời các tài liệu nghiên cứu về phương pháp này cũng chưa phong phú cả về số lượng và chất lượng. Theo chủ trương đổi mới phương pháp dạy học, bắt đầu năm 2010, dự án "Phát triển giáo dục THCS II" bắt đầu triển khai phương pháp dạy học sử dụng bản đồ tư duy đến các trường học và cơ sở đào tạo trong cả nước và từ đó đến nay, phương pháp này đã có tác dụng đáng kể trong việc phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh và tương tác của giáo viên – học sinh.

II. Sử dụng bản đồ tư duy vào dạy học tiếng Việt ở THPT

1. Bản đồ tư duy và dạy học bằng bản đồ tư duy

Mặc dù có rất nhiều quan điểm về bản đồ tư duy nhưng nhìn chung các hướng nghiên cứu đều thống nhất: Bản đồ tư duy là hình thức ghi chép sử dụng màu sắc, hình ảnh, đường nét, chữ viết… nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, tóm tắt những ý chính của một nội dung, hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức với sự tư duy tích cực, sáng tạo. Đối với dạy học, BĐTD được sử dụng như một  công cụ, phương tiện hỗ trợ giáo viên và học sinh hệ thống hóa kiến thức một cách hệ thống và khoa học.

Cơ chế hoạt động của BĐTD chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các mạng lưới liên tưởng (các nhánh). BĐTD có cấu tạo như một cái cây kiến thức gồm nhiều cành và nhánh nhỏ. Từ ý chính tỏa đi các nhánh lớn và nhánh nhỏ, mỗi nhánh đại diện cho một đơn vị kiến thức theo hệ thống. Các "cành", "nhánh" càng nhiều thể hiện nội dung kiến thức càng phong phú, sâu rộng. Khi đọc BĐTD, chúng ta đọc từ trung tâm tỏa đi các nhánh theo thứ tự từ lớn đến nhỏ tương ứng với các ý chính và ý phụ.

(Hình ảnh mô phỏng cách triển khai bản đồ tư duy )

 

          Tính tầng bậc và tính hệ thống là hai đặc trưng cơ bản của tiếng Việt, do đó, khi dạy học phân môn tiếng Việt, giáo viên có thể khéo léo kết hợp hình thức dạy học này để tăng cường khả năng ghi nhớ, khắc sâu kiến thức và phát huy tư duy sáng tạo cho học sinh. Bản đồ tư duy có thể được vẽ bằng tay với các vật liệu đơn giản như giấy, bút màu, phấn, bảng... hoặc thiết kế trên một số phần mềm như: coggle.it, bubbl.us, mindomo.com, spiderscribe.net, thinkbuzan.com...

          Ví dụ: Khi xét về đặc điểm cấu tạo từ tiếng Việt, nếu theo cách ghi chép thông thường, chúng ta có cách diễn đạt sau:

-         Từ tiếng Việt gồm:

·        Từ đơn

·        Từ phức:

ØTừ ghép: gồm ghép đẳng lập và ghép chính phụ

ØTừ láy: gồm láy bộ phận và láy hoàn toàn. Láy bộ phận gồm láy âm và láy vần.

Còn khi sử dụng bản đồ tư duy, chúng ta có:

2.  Một số hình thức ứng dụng bản đồ tư duy trong dạy học tiếng Việt:

2.1. Dùng bản đồ tư duy để dạy nội dung lý thuyết

·                    Giáo viên tạo bản đồ tư duy để hình thành lý thuyết tiếng Việt : Giáo viên đưa ra từ khóa (nội dung chính) của bài, trình tự tiến hành bài giảng như những tiết học thông thường và sử dụng bản đồ tư duy làm phương tiện hỗ trợ. Thông qua các hoạt động phát vấn, thuyết giảng, giáo viên lần lượt cung cấp từng đơn vị kiến thức của bài, tiếp cận đến phần nào, vẽ bản đồ tư duy đến đấy. Nếu giảng bằng máy chiếu, giảng đến phần nào, cho phần bản đồ thuộc đơn vị kiến thức ấy xuất hiện. Như vậy đến cuối bài, giáo viên đã cùng với học sinh hình thành được bản đồ tư duy bài học một cách đầy đủ và sinh động.

Ví dụ: Dạy bài Ngữ cảnh (Ngữ văn 11), giáo viên cung cấp từ khóa là “Ngữ cảnh”:

-         Giảng đến khái niệm, giáo viên vẽ/cho xuất hiện phần nhánh chính “Khái niệm”

-         Giảng đến các nhân tố của ngữ cảnh, cho xuất hiện nhánh “Các nhân tố” và các nhánh phụ: đối tượng giao tiếp, bối cảnh ngoài ngôn ngữ, văn cảnh và các nhánh nhỏ hơn….

 

·        Học sinh tạo bản đồ tư duy theo định hướng của giáo viên: Giáo viên đưa ra một từ khoá để nêu kiến thức của bài mới rồi yê u cầu học sinh vẽ bản đồ tư duy bằng cách đặt câu hỏi, gợi ý cho các em để các em tìm ra các tự liên quan đến từ khoá đó và hoàn thiện bản đồ tư duy. Qua bản đồ tư duy đó học sinh sẽ nắm được kiến thức bài học một cách dễ dàng.

Ví dụ:Dạy bài: “Phong cách ngôn ngữ khoa học”(Ngữ văn 12). Bài học này có 3 đơn vị kiến thức cơ bản là: Văn bản hoa học và ngôn ngữ khoa học; Đặc trưng phong cách ngôn ngữ khoa học; Phương tiện diễn đạt. Để giúp học sinh nắm được các đơn vị kiến thức trên, đầu giờ GV cho từ khoá “Phong cách ngôn ngữ khoa học” rồi chia lớp thành nhóm, yêu cầu học sinh vẽ bản đồ tư duy bằng cách đặt câu hỏi gợi ý cho các em:

-         Nhóm vẽ bản đồ tư duy phần Văn bản khoa học và ngôn ngữ khoa học

-         Nhóm vẽ bản đồ tư duy phần Đặc trưng phong cách ngôn ngữ khoa học

-         Nhóm vẽ bản đồ tư duy phần Phương tiện diễn đạt phong cách ngôn ngữ khoa học.

Sau khi các nhóm học sinh vẽ xong, yêu cầu các nhóm lên trình bày trước lớp để các học sinh khác bổ sung ý. Giáo viên kết luận qua đó giúp các em tự chiếm lĩnh kiến thức một cách nhẹ nhàng, tự nhiên nhưng rất hiệu quả, đồng thời kích thích hứng thú học tập của học sinh.

·        Dùng BĐTD để củng cố kiến thức sau mỗi tiết học và hệ thống kiến thức sau mỗi chương, phần…: Sau mỗi bài học hoặc các bài tổng kết, ôn tập, giáo viên hướng dẫn, gợi ý để học sinh tự hệ thống kiến thức trọng tâm, kiến thức cần nhớ của bài học bằng cách vẽ BĐTD. Mỗi bài học được vẽ kiến thức trên một trang giấy rời rồi kẹp lại thành tập. Việc làm này sẽ giúp các em dễ ôn tập, xem lại kiến thức khi cần một cách nhanh chóng, dễ dàng.

Ví dụ: dạy bài “Các yêu cầu về sử dụng tiếng Việt” (Ngữ văn 11). Sau khi dạy xong, giáo viên cung cấp hoặc yêu cầu học sinh vẽ bản đồ tư duy tổng kết kiến thức đã học của bài, cho học sinh nhận xét, sửa chữa và kết luận nội dung toàn bài.

2.2. Dùng bản đồ tư duy để dạy phần luyện tập, thực hành:

·        Phạm vi:Vì các loại bài tập tiếng Việt rất đa dạng, thời lượng dành cho luyện tập ở mỗi bài khá hạn chế nên không phải bài tập nào cũng có thể lập bản đồ tư duy một cách dễ dàng. Do đó, giáo viên phải lựa chọn loại bản đồ tư duy phù hợp và hiệu quả nhất để lập bản đồ tư duy. Thực tế cho thấy, sử dụng bản đồ tư duy Phù hợp với các bài luyện tập yêu cầu phân tích: Là dạng bài tập cho sẵn một ngữ liệu và yêu cầu phân tích, nhận diện các hiện tượng ngôn ngữ có trong ngữ liệu.

·        Áp dụng:Giáo viên ra bài tập cho học sinh, yêu cầu học sinh lập bản đồ tư duy để giải bản đồ tư duy để giải bài tập đó. Đây là dạng bài tập giúp học sinh chuyển lời giải bài tập từ ngôn ngữ thông thường sang ngôn ngữ tư duy. Sau đó, giáo viên yêu cầu học sinh khác nhận xét, đánh giá, sửa chữa và kết luận bài tập.

Ví dụ: Dạy phần luyện tập bài “Phong cách ngôn ngữ báo chí” (Ngữ văn 11). Giáo viên lựa chọn bài tập 1 SGK như sau:

Phân tích đặc trưng cơ bản của Phong cách ngôn ngữ báo chí thể hiện qua văn bản sau:

Ngày 3/2, tỉnh An Giang long trọng làm lễ đón nhận quyết định của Bộ Văn hóa – thông tin công nhận di tích lịch sử cấp quốc gia Ô Tà Sóc thuộc xã Lương Phi, huyện Tri Tôn. Đây là di tích cấp quốc gia thứ 15 của tỉnh An Giang. Ô Tà Sóc là vùng Sơn Lâm rộng khoảng 5km2 thuộc núi Giài. Với hệ thống hang động và đường mòn hiểm trở, từ 1962 đến 1967, nơi đây là căn cứ của tỉnh ủy An Giang, sau đó là căn cứ dự phòng của tỉnh…

(Báo Lao động số 35/2004)

Giáo viên định hướng cho học sinh lập bản đồ tư duy để trả lời câu hỏi: xác định chủ đề trung tâm, các nhánh chính, nhánh phụ tương ứng với từng nội dung trả lời. Kết quả là các em sẽ có một bản đồ tư duy như sau:

 

2.3. Dùng bản đồ tư duy trong kiểm tra đánh giá.

·        Phạm vi:Có thể áp dụng đa dạng với các hình thức kiểm tra đánh giá như kiếm tra miệng, kiểm tra viết. Tuy nhiên cần có sự cân nhắc và lựa chọn hợp lý, phù hợp với điều kiện thời gian và kiến thức.

·        Áp dụng:Giáo viên có thể lựa chọn các hình thức kiểm tra như yêu cầu vẽ bản đồ tư duy của một phần kiến thức hoặc đưa ra một bản đồ tư duy thiếu nhánh hoặc đảo vị trí các nhánh, yêu cầu học sinh hoàn thiện, sửa chữa.

3.Lưu ý khi sử dụng BĐTD vào dạy học tiếng Việt

          Phương pháp sử dụng BĐTD vào dạy học nói chung và dạy học tiếng Việt nói riêng có rất nhiều ưu điểm. Ngoài việc giúp học sinh hình thành phương pháp học hiệu quả, khả năng ghi nhớ lâu còn giúp học sinh học tập tích cực, phát huy tính chủ động sáng tạo và tạo môi trường học tập sinh động, mới mẻ cho học sinh. Tuy nhiên, phương pháp này không nên áp dụng cho các nội dung kiến thức có dung lượng lớn, dài và khó vì việc vẽ bản đồ tư duy gây mất nhiều thời gian do phải lựa chọn hình ảnh và từ ngữ. Bản đồ có dung lượng kiến thức lớn gây rối mắt, khó nhớ. Bên cạnh đó việc phân phối thời gian và điều tiết bài giảng không hợp lý có thể gây giảm hiệu quả bài giảng vì học sinh sa đà vào việc vẽ và trang trí bản đồ tư duy mà không tập trung vào hoàn thiện kiến thức.

Như vậy, muốn vận dụng hiệu quả phương pháp dạy học này, giáo viên phải chú ý một số yêu cầu sau:

·        Giáo viên phải nắm chắc kiến thức về bài giảng, có kỹ năng vẽ bản đồ tư duy một cách thành thạo

·        Giáo viên phải biết lựa chọn bài giảng, bài tập và hình thức kiếm tra đánh giá sử dụng bản đồ tư duy hợp lý.

·        Học sinh đã được cung cấp kiến thức và kỹ năng sử dụng, vẽ bản đồ tư duy từ trước và được rèn luyện thường xuyên.

·        Kết hợp với các phương pháp và hình thức dạy học khác để tăng hiệu quả bài học.

III. Kết luận

Như vậy, có thể thấy, dạy học bằng bản đồ tư duy là một hình thức dạy học khá hiệu quả trong dạy học và đặc biệt là góp phần đổi mới cách tổ chức dạy học của giáo viên đồng thời góp phần bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh trung học phổ thông phù hợp với các mục tiêu đổi mới phương pháp dạy học: dạy học theo hướng hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động.

 Tuy nhiên, cũng không nên quá làm dụng bản đồ tư duy và coi bản đồ tư duy như một phương pháp vạn năng trong dạy học tiếng Việt mà cần có sự kết hợp khéo léo với các phương pháp khác để một giờ học tiếng Việt thực sự là một giờ học hiệu quả. Nếu khắc phục được các mặt hạn chế trên, phương pháp sử dụng bản đồ tư duy vào dạy học có rất nhiều ưu điểm và góp phần vào nâng cao chất lượng dạy học tiếng Việt trong trường THPT.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Trần Đình Châu - Đặng Thị Thu Thủy (2010), Dạy tốt - Học tốt các môn học bằng bản đồ tư duy, NXB Giáo dục

2. Trần Đình Châu, Đặng Thị Thu Thủy; Bản đồ tư duy - công cụ hiệu quả hỗ trợ dạy học và công tác quản lý nhà trường, Báo Giáo dục&Thời đại, số 147 ngày 14/9/201

3. Trần Đình Sử (chủ biên) (2007), Ngữ văn 10, tập 1, NXB Giáo dục.

4. https://www.google.com.vn/

 T. J. Logan Jersey