MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC DẠY HỌC ĐỌC HIỂU CHO SINH VIÊN SƯ PHẠM NGỮ VĂN TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

 

                                                                         ThS. Phạm Thị Phương Huyền

Khoa Ngữ Văn - Trường Đại học Tây Bắc

                                      

I. Đặt vấn đề

Việc hình thành và phát triển năng lực dạy đọc hiểu văn bản cho giáo viên phổ thông và sinh viên sư phạm hiện nay đang là một vấn đề thời sự được nhiều nhà sư phạm quan tâm. Tuy nhiên, để giải quyết bài toán này đòi hỏi phải có sự đồng bộ từ nhiều khâu, sự tham gia của nhiều đối tượng: các chuyên gia đầu ngành về lĩnh vực phương pháp, các nhà quản lí giáo dục và trực tiếp là các giảng viên giảng dạy bộ môn lí luận và phương pháp dạy học Văn ở các trường sư phạm. Với vị trí là trường Đại học vùng, có nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực cho các tỉnh Tây Bắc, trường Đại học Tây Bắc đang nỗ lực tìm kiếm những biện pháp dạy học nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo tinh thần Nghị quyết 29 của Đảng. 

II. Nội dung

1. Một số thuật ngữ và vấn đề liên quan

1.1. Năng lực 

Năng lực là một khái niệm được nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Trong tiếng Anh, năng lực được thể hiện bằng các từ: competence, ability, capacity… Tác giả F.E.Weinert theo cách tiếp nhận tích hợp cho rằng: “Năng lực là những khả năng và kĩ xảo học được hoặc có sẵn của cá nhân nhằm giải quyết các tình huống xác định cũng như sự sẵn sàng về động cơ xã hội và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt” [DT2; tr 317].

Tác giả Denyse Tremblay dựa trên cách tiếp cận học suốt đời cho rằng: “Năng lực là khả năng hành động đạt được thành công và chứng minh sự tiến bộ nhờ vào khả năng huy động và sử dụng hiệu quả nhiều nguồn lực tích hợp của cá nhân khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống” [DT2; tr 318]. Như vậy, có thể hiểu ngắn gọn năng lực là khả năng của con người trong việc vận dụng tri thức, kĩ năng, kĩ xảo vào giải quyết công việc một cách có hiệu quả.

1.2. Năng lực cần có của người giáo viên dạy Văn tương lai

Đối với người giáo viên dạy Văn tương lai, phẩm chất và năng lực chung cần đạt được gồm: Phẩm chất chính trị đạo đức, lối sống: yêu nghề, gắn bó với nghề dạy học, có ý thức tổ chức kỉ luật và tinh thần trách nhiệm, có kĩ năng làm việc nhóm, hợp tác, cộng tác với đồng nghiệp để cùng thực hiện mục tiêu và chương trình giáo dục. Năng lực phát triển chương trình giáo dục nhà trường, phát triển chương trình môn học, phát triển các chủ đề dạy học trải nghiệm sáng tạo, phát triển chương trình dạy học ở cấp độ bài học theo hướng mở rộng kiến thức, phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh nhằm giúp cho việc học của học sinh trở nên thiết thực, gắn với thực tế cuộc sống, gắn với địa phương, vùng miền và tạo cơ hội học tiếp ở trình độ cao hơn... đó là những năng lực cần thiết mà mỗi sinh viên sư phạm cần phải tích lũy. Đặc biệt, người giáo viên tương lai không thể thiếu năng lực dạy học. Đó là năng lực tổ chức dạy học theo hướng tiếp cận năng lực của người học, thiết kế và tổ chức dạy học theo chủ đề liên môn, phát triển môi trường học tập cho học sinh, tư vấn hướng dẫn học sinh, đánh giá kết quả học tập của học sinh theo hướng tiếp cận năng lực. Ngoài ra, người giáo viên tương lai cần phải tự trang bị cho mình năng lực nghiên cứu khoa học, triển khai nghiên cứu khoa học ứng dụng ở trường phổ thông và các năng lực hoạt động xã hội khác…

Với mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn hiện nay hướng đến mục tiêu hình thành và phát triển năng lực của học sinh, đặc biệt là năng lực cảm thụ thẩm mĩ: “Môn Ngữ văn hình thành và phát triển ở học sinh các năng lực sử dụng tiếng Việt, tiếp nhận văn học, cảm thụ thẩm mĩ, phương pháp học tập, tư duy đặc biệt là phương pháp tự học, năng lực ứng dụng những điều đã học vào cuộc sống” [1; tr 276]. Như vậy, để giúp cho học sinh đạt được những năng lực trên, người giáo viên dạy Văn tương lai phải có năng lực dạy học đọc hiểu, tức là có khả năng tổ chức cho học sinh tự khám phá giá trị của tác phẩm văn học, biết nhận ra cái hay, cái đẹp của tác phẩm thông qua việc định hướng, dẫn dắt của chính mình.

1.3. Thực trạng năng lực dạy học đọc hiểu của sinh viên sư phạm Ngữ văn trường Đại học Tây Bắc

Năng lực dạy học đọc hiểu thể hiện qua quá trình giáo viên hướng dẫn học sinh sử dụng những kỹ năng để đọc hiểu văn bản bằng các hoạt động, thao tác và theo một quy trình nhất định nào đó. Trong dạy học đọc hiểu văn bản, giáo viên chỉ là người hướng dẫn, nêu vấn đề để học sinh trao đổi, thảo luận; là người dạy về phương pháp đọc chứ không phải đọc thay, đọc giùm, biến học sinh thành thính giả thụ động của mình. Giáo án của giáo viên chủ yếu phải là giáo án về phương pháp đọc cho học sinh. Tuy nhiên, dù sử dụng phương pháp và phương tiện nào thì giáo viên cũng cần thiết kế các hoạt động sao cho có thể giúp học sinh tự đọc văn bản và biết vận dụng các kỹ năng phân tích, suy luận để đưa ra được các dẫn chứng trong văn bản làm cơ sở cho các nhận định, phân tích của mình. Có lúc phải để cho mỗi học sinh có quyền đọc hiểu theo kinh nghiệm cảm xúc cá nhân. Từ đó hình thành cho các em khả năng phân tích và tổng hợp văn bản. 

Tuy nhiên, khảo sát những buổi rèn luyện nghiệp vụ của sinh viên trong Khoa Ngữ văn và tham khảo những nhận xét, đánh giá của giáo viên hướng dẫn ở nhà trường phổ thông sau mỗi đợt kiến tập, thực tập sư phạm, chúng tôi thấy rằng: rất ít sinh viên chủ động thực hiện đúng quy trình dạy một giờ đọc hiểu văn bản và dẫn dắt học sinh đọc hiểu văn bản theo yêu cầu của dạy học đọc hiểu. Phần lớn giờ dạy đọc hiểu của sinh viên vẫn là những giờ giảng văn mà phương pháp thuyết trình giữ vai trò chủ đạo. Sau mỗi giờ giảng, học sinh chưa được hình thành phương pháp đọc văn để dần dần các em có thể tự đọc văn, hiểu tác phẩm văn học một cách khoa học, đúng đắn. Giáo án thiết kế giờ dạy đọc hiểu văn bản của sinh viên còn đơn điệu, nội dung kiến thức chủ yếu tham khảo trong sách giáo viên, sách thiết kế bài giảng mà chưa có sự đầu tư thỏa đáng. Đặc biệt, sinh viên chưa biết cách đặt câu hỏi để dẫn dắt học sinh khám phá tác phẩm. Các năng lực khác như: viết bảng, đọc diễn cảm, thiết kế hoạt động cho học sinh… của nhiều sinh viên còn yếu.

Vì vậy, để hình thành và phát triển năng lực dạy học đọc hiểu văn bản cho người giáo viên tương lai ngay khi họ còn ngồi trên giảng đường đại học, các giảng viên của các cơ sở đào tạo sư phạm cần liên tục tìm kiếm và cập nhật những giải pháp phù hợp với đặc thù của từng đơn vị trên cơ sở phân tích được thực trạng năng lực dạy học đọc hiểu của sinh viên.

2. Biện pháp nâng cao năng lực dạy học đọc hiểu văn bản cho sinh viên

2.1. Trang bị thêm lí thuyết về đọc hiểu và dạy học đọc hiểu văn bản

Vấn đề đọc hiểu và dạy đọc hiểu văn bản đã được các nhà nghiên cứu trong nước quan tâm từ lâu, trên thị trường cũng xuất hiện nhiều tài liệu nghiên cứu. Tuy nhiên, trong chương trình đào tạo của khoa Ngữ văn trường Đại học Tây Bắc hiện nay vẫn chưa có nội dung đọc hiểu và phương pháp dạy đọc hiểu. Trước thời đại công nghệ thông tin phát triển với tốc độ chóng mặt, nhiều sinh viên cũng tự giác tham khảo nguồn tài liệu về đọc hiểu và dạy đọc hiểu trên sách, báo, tạp chí hoặc trên mạng internet. Tuy nhiên, có nhiều nguồn tài liệu được sinh viên tham khảo trên mạng internet chưa được phê duyệt về nội dung. Vì thế, việc trang bị kiến thức về đọc hiểu và lí thuyết về phương pháp dạy đọc hiểu là rất cần thiết đối với sinh viên.

Giảng viên dạy bộ môn phương pháp dạy học cần định hướng cho sinh viên tham khảo các nguồn tài liệu nghiên cứu về đọc hiểu và dạy đọc hiểu của các nhà nghiên cứu uy tín như: Nguyễn Thanh Hùng, Trần Đình Sử, Đỗ Ngọc Thống, Nguyễn Trọng Hoàn, Nguyễn Thị Hạnh, Hoàng Hòa Bình… Từ đó phân tích cho sinh viên hiểu rõ bản chất của việc dạy đọc hiểu để sinh viên nắm được những điểm khác biệt giữa phương pháp này với phương pháp giảng văn truyền thống: “Dạy văn bản nghệ thuật theo phương pháp đọc hiểu là mô phỏng con đường tiếp nhận tác phẩm văn học. Phương pháp này được thực hiện trong khuôn khổ học đường dưới sự hướng dẫn của thầy cô và sự cộng tác của các bạn. Hoạt động đọc hiểu diễn ra như một lao động sáng tạo mang tính thẩm mĩ của học sinh, ở đó mỗi em giải mã hệ thống tín hiệu thẩm mĩ của tác phẩm, nhập thân vào tác phẩm, sống và cảm xúc cùng nhân vật trong tác phẩm, bộc lộ sự thông hiểu, cảm thụ về tác phẩm và chia sẻ ý kiến với bạn bè, thầy cô để hoàn thiện cách cảm thụ của mình” [1; tr25]. 

Như vậy, dạy học theo phương pháp đọc hiểu là việc tổ chức cho học sinh giải mã văn bản bằng con đường ngược lại với hoạt động tạo lập văn bản của tác giả, tức là đi từ hình thức diễn đạt đến nội dung và giá trị của văn bản. Tên gọi của phương pháp này đã thể hiện tinh thần đổi mới vì nó đã đề cao vai trò của chủ thể tích cực, sáng tạo của học sinh trong hoạt động đọc phân biệt với phương pháp dạy học có tên gọi thể hiện sự đề cao vai trò của giáo viên: thuyết trình, diễn giảng, giảng văn, bình giảng… Việc trang bị những kiến thức về đọc hiểu và dạy đọc hiểu sẽ giúp sinh viên dễ dàng hình thành năng lực đọc hiểu và dạy đọc hiểu.

2.2. Tăng cường hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên

Trong công tác đào tạo sư phạm, vấn đề rèn luyện nghiệp vụ, bồi dưỡng tay nghề cho người học là một nội dung rất quan trọng, bởi lẽ người học được đào tạo ra là để làm nghề dạy học, làm “thợ dạy”. Nếu chỉ được tiếp xúc với khối lượng kiến thức suông mà không được rèn luyện thực hành, thực tập thường xuyên thì sinh viên sẽ gặp nhiều khó khăn, lúng túng trong thực tiễn dạy học ở trường phổ thông sau này. Thậm chí nhiều sinh viên phải học lại nghề dạy học từ chính đồng nghiệp khi họ đã là những giáo viên thực thụ. 

Hiện nay, chương trình đào tạo giáo viên sư phạm Ngữ văn của trường Đại học Tây Bắc chưa dành nhiều sự quan tâm cho vấn đề rèn luyện nghiệp vụ sư phạm. Học phần rèn luyện nghiệp vụ sư phạm được phân bố vào kì học thứ 7 của chương trình. Nội dung chủ yếu hướng vào việc soạn giáo án và dự giờ giáo viên phổ thông. Số lượng buổi dự giờ chỉ từ 01 đến 03 buổi. Sau khi dự giờ, sinh viên ít được giáo viên phổ thông tổ chức rút kinh nghiệm giờ giảng. Giảng viên đại học mặc dù giữ vai trò hướng dẫn sinh viên soạn giáo án trước khi dự giờ nhưng nhiều khi sự hướng dẫn của giảng viên và thực tiễn giờ dạy của giáo viên phổ thông chưa có sự ăn khớp. Vì vậy, chương trình đào tạo cần thiết phải điều chỉnh theo hướng tăng cường nội dung rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên. Cần rèn luyện nghiệp vụ cho sinh viên ngay từ năm thứ nhất theo những yêu cầu cụ thể nhằm giúp sinh viên sớm được hình thành và phát triển năng lực dạy học. 

Để nâng cao năng lực dạy học, trước hết giảng viên cần hướng dẫn sinh viên rèn luyện một số kĩ năng như: viết bảng, đọc diễn cảm, kĩ năng làm việc với sách giáo khoa…

2.2.1. Rèn kĩ năng viết bảng

Việc ghi và trình bày bảng của người giáo viên luôn đòi hỏi những yêu cầu về tính khoa học, tính sư phạm và tính thẩm mĩ. Vì vậy, việc rèn kĩ năng viết bảng cho sinh viên nên được thực hiện ngay từ kì học thứ nhất của quá trình đào tạo nhằm nâng cao ý thức nghề nghiệp và hứng thú học tập cho sinh viên. 

Trước khi rèn luyện kĩ năng viết bảng, giảng viên phải giới thiệu và phân tích cho sinh viên hiểu rõ quy tắc viết bảng và những kĩ thuật cần thiết từ cách cầm phấn, điều khiển viên phấn, tư thế đứng, cách chia bảng… 

Giảng viên phải viết mẫu trước và yêu cầu sinh viên phân tích mẫu viết bảng của mình dựa trên những vấn đề lí thuyết đã được lĩnh hội. Sau đó căn cứ vào điều kiện thực tế của Khoa, giảng viên thực hiện quá trình rèn kĩ năng viết bảng cho sinh viên sao cho hiệu quả nhất. Có thể chia sinh viên theo từng nhóm nhỏ, mỗi nhóm từ 05 đến 07 sinh viên để các em nâng cao ý thức trách nhiệm hơn đối với từng thành viên trong nhóm mình và tạo không khí thi đua giữa các nhóm. Khuyến khích sinh viên rèn kĩ năng viết bảng ở mọi lúc, mọi nơi chứ không chỉ bó hẹp trong phạm vi giờ học.

Khi rèn kĩ năng viết bảng cho sinh viên, giảng viên cần thể hiện thái độ tận tình, tỉ mỉ đặc biệt chú ý quan tâm hơn đến những sinh viên còn nhiều hạn chế về chữ viết. Cần thường xuyên khích lệ để tăng cường niềm đam mê, hứng thú đối với sinh viên. 

2.2.2. Rèn kĩ năng đọc diễn cảm

Một trong những yêu cầu của việc dạy và học môn Ngữ văn hiện nay là rèn cho học sinh các kỹ năng “nghe - nói - đọc - viết”. Vì vậy, trước khi tìm hiểu văn bản, giáo viên cần tổ chức cho học sinh đọc văn bản. Đọc là bước đầu để hiểu tác phẩm. Đọc tác phẩm văn học trước hết chúng ta tiếp xúc với những hình thức nghệ thuật cụ thể của ngôn từ nghệ thuật. Đó là những dấu câu và cách ngắt nhịp, là vần điệu, âm hưởng và nhạc tính, là từ ngữ và hình ảnh, là câu và sự tổ chức đoạn văn, là văn bản và thể loại của văn bản. Nhưng đọc như thế nào lại là một vấn đề mà người giảng viên cần phải chú trọng và định hướng cho sinh viên ngay trong quá trình học tập ở giảng đường đại học. 

Giảng viên cần cung cấp một hệ thống lí thuyết giúp sinh viên hiểu rõ vai trò và bản chất của việc đọc diễn cảm trong dạy học đọc hiểu. Đọc diễn cảm không chỉ đảm bảo đọc đúng hình thức câu chữ mà còn thể hiện được linh hồn của thế giới ngôn từ tác phẩm, có nghĩa là thể hiện được qua việc đọc những tình cảm, cảm xúc của nhân vật, giọng điệu cảm xúc của tác giả và những cảm nhận của cá nhân người đọc về văn bản. Yêu cầu của đọc diễn cảm được thể hiện ở nhiều cấp độ. Trước hết cần đọc đúng sau đó phải biết phối hợp và vận dụng ưu thế chất giọng tự nhiên của người đọc phù hợp với giọng điệu cảm xúc của nhà văn và nghĩa của văn bản. Luôn có ý thức bao quát sự theo dõi và đồng cảm cũng như thái độ của người nghe, hướng việc đọc vào họ để tăng thêm sức truyền cảm. Đặc biệt, phải thể hiện được mối quan hệ xúc cảm và sự hiểu biết sâu sắc của cá nhân đối với tác phẩm. Truyền đạt được sắc thái tình cảm, cảm xúc của ngôn ngữ, của nhân vật trong tác phẩm vừa thể hiện được thái độ tình cảm của tác giả ẩn sau sự miêu tả phản ánh nghệ thuật (đó là quá trình đồng cảm). Đồng thời kết hợp được thái độ tình cảm và sự đánh giá thẩm mĩ riêng của người đọc văn đối với văn bản, đây là quá trình cộng hưởng, sáng tạo trong đọc.

Để sinh viên có được kĩ năng đọc diễn cảm, giảng viên phải tổ chức cho sinh viên rèn kĩ năng này một cách thường xuyên, liên tục. Giảng viên cần kiên trì hướng dẫn sinh viên nhất là những em còn nhiều hạn chế về phát âm. Giảng viên cần lưu ý một số điểm sau đây:

+ Trước khi đọc diễn cảm, cần đọc thầm, đọc lướt để có những cảm nhận chung về văn bản. Để khi đọc diễn cảm sẽ biết cách tiếp cận văn bản với giọng đọc như thế nào cho phù hợp với tâm trạng, cảm xúc của nhân vật. 

+ Giảng viên cần đọc mẫu, hoặc cho sinh viên nghe, xem băng ghi âm, ghi hình thể hiện các văn bản qua những giọng đọc có sức truyền cảm để khơi gợi tạo độ lan tỏa tình cảm, cảm xúc của học sinh về văn bản. 

+ Yêu cầu từng sinh viên đọc văn bản. Trong khi sinh viên đọc, giảng viên ghi âm lại giọng đọc của sinh viên và khuyến khích sinh viên ghi âm lại giọng đọc của mình. 

+ Giảng viên nhận xét về cách đọc của sinh viên, chỉ rõ lỗi và cách sửa lỗi cho từng sinh viên.

+ Chia thành các nhóm, mỗi nhóm khoảng 05 sinh viên để sinh viên luyện đọc và góp ý, rút kinh nghệm cho nhau.

+ Tiếp tục yêu cầu từng sinh viên đọc trước lớp, giảng viên ghi âm lại giọng đọc của sinh viên và so sánh với lần đọc thứ nhất để đánh giá năng lực đọc của mỗi sinh viên một cách chính xác. 

+ Giảng viên nhận xét chung về quá trình rèn kĩ năng đọc diễn cảm của sinh viên giúp sinh viên nhận thức rõ hơn về năng lực đọc của mình để biết cách điều chỉnh và hoàn thiện giọng đọc một cách hiệu quả. 

2.2.3. Rèn kĩ năng làm việc với sách giáo khoa để thiết kế câu hỏi dẫn dắt học sinh đọc hiểu tác phẩm

Kết cấu của sách giáo khoa Ngữ văn hiện nay tương đối khoa học và thống nhất, bước đầu đã định hướng cho người dạy và người học cách đọc hiểu văn bản. Vì vậy, giảng viên cần nâng cao nhận thức cho sinh viên về vai trò của sách giáo khoa đối với việc thiết kế các hoạt động dạy học mà không nên thụ động tham khảo sách giáo viên và sách thiết kế bài giảng. 

Trước tiên, giảng viên cần yêu cầu sinh viên đọc kĩ các nội dung trong sách giáo khoa và định hình phần việc nào thuộc về người dạy, phần việc nào thuộc về người học từ đó hình dung quy trình đọc hiểu và dạy đọc hiểu văn bản gắn với đặc trưng thể loại.

Phần câu hỏi hướng dẫn học bài trong sách giáo khoa chủ yếu là loại câu hỏi yêu cầu học sinh vận dụng hiểu biết về đặc trưng thể loại để khám phá tác phẩm. Với một số văn bản, còn có các bài luyện tập. Số lượng, mức độ câu hỏi và bài luyện tập nhằm giúp học sinh hình thành các bước đọc hiểu, tiến tới hình thành một quy trình đọc hiểu. Hệ thống câu hỏi được thiết kế theo con đường: yêu cầu tìm hiểu, cắt nghĩa các chi tiết, yếu tố của văn bản; sau đó liên kết chúng lại, so sánh đối chiếu để tự rút ra ý nghĩa khái quát của nó. Vì vậy, giảng viên cần hướng dẫn sinh viên thiết kế hệ thống theo thứ bậc từ dễ đến khó, theo quy trình: phát hiện – phân tích – mở rộng – nâng cao. Tùy thuộc vào đối tượng học sinh để vận dụng các loại câu hỏi. Với đối tượng học sinh trung bình chỉ nên dừng lại ở dạng câu hỏi phát hiện và phân tích. Học sinh khá giỏi nên thiết kế đủ bốn loại câu hỏi như trên. Cần cho sinh viên thấy rõ có bao nhiêu yếu tố thuộc văn bản thì cũng có bấy nhiêu câu hỏi nhằm vào việc khai thác, khám phá tác phẩm. 

Như vậy, việc rèn kĩ năng làm việc với sách giáo khoa để thiết kế hệ thống câu hỏi giúp sinh vên nâng cao năng lực đọc hiểu và dạy đọc hiểu công việc quan trọng của người giảng viên trong mục tiêu đào tạo giáo viên sư phạm, phù hợp với triết lí giáo dục của Nhà trường “vững lí thuyết, giỏi thực hành, nhan vào thực tiễn”

III. Kết luận

Có nhiều biện pháp để nâng cao năng lực dạy học đọc hiểu văn bản cho sinh viên sư phạm Ngữ văn ở trường Đại học Tây Bắc. Trong thực tế hiện nay, vấn đề cấp thiết cần được thực hiện đó là phát triển chương trình đào tạo để trang bị thêm một số nội dung còn khuyết thiếu và chú trọng vấn đề rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên. Những biện pháp đã được chúng tôi đề xuất trên đây sẽ góp phần vào việc khắc phục những hạn chế, thiếu sót đang tồn tại ở một bộ phận không nhỏ sinh viên trong Khoa và hướng đến mục tiêu trang bị năng lực cho người học theo tinh thần đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo. 

-------------------------------------

1. Hoàng Hòa Bình (chủ biên) (2014), Dạy học Ngữ văn ở trường Phổ thông, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.

2. Hoàng Hòa Bình, “Năng lực và cấu trúc của năng lực” Tạp chí KHGD, số 117 (tháng 6/2015).

3. Bộ giáo dục và Đào tạo, Tài liệu Hội thảo chương trình GDPT tổng thể trong Chương trình GDPT mới. Tài liệu lưu hành nội bộ, tháng 3.2015

4. Nguyễn Thanh Hùng (2008), Đọc- hiểu tác phẩm văn chương trong nhà trường, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

5. Nguyễn Thanh Hùng, Năng lực đọc hiểu tác phẩm văn chương của học sinh THPT

6. Nguyễn Thanh Hùng (2008), Kĩ năng đọc hiểu Văn, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

7. Trần Đình Sử (2003), Đọc-hiểu VB - Một khâu đột phá trong nội dung và phương pháp dạy Văn hiện nay, Thông tin Khoa học Sư phạm, số 1, tháng 8/2003.

8. Đỗ Ngọc Thống Chương trình Ngữ văn trong nhà trường phổ thông Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

9. Phạm Thị Thu Hiền, “So sánh vấn đề đọc hiểu văn bản trong chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn của Việt Nam và một số nước trên thế giới”, Luận án tiến sĩ.