CÂU HỎI GIÚP HỌC SINH NHẬN BIẾT THÀNH PHẦN BỀ MẶT CỦA VĂN BẢN VĂN HỌC TRONG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU

 

                                         TS Phạm Thị Phương Huyền

                                         Khoa Ngữ Văn – Trường Đại học Tây Bắc

 

1. Mở đầu

Xu hướng đổi mới dạy học văn hiện nay chính là bước chuyển đổi từ dạy kiến thức sang dạy phát triển năng lực. Tức là chuyển từ hoạt động bình giảng, diễn giảng của giáo viên sang khuyến khích học sinh tự đọc. Vì thế, người giáo viên không còn là người truyền thụ tri thức một chiều mà là người tổ chức, hướng dẫn hoc sinh cách đọc hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại. Để thực hiện tốt yêu cầu đó, mỗi giáo viên cần thiết kế một hệ thống câu hỏi tương ứng với các giai đoạn đọc hiểu để dẫn dắt học sinh tiếp xúc trực tiếp với văn bản, giúp học sinh biết cách vận dụng những kĩ năng phân tích, suy luận để đưa ra được các dẫn chứng trong văn bản làm cơ sở cho các nhận định, phân tích của mình. Bài báo này sẽ gợi ý cách thiết kế câu hỏi giúp học sinh nhận biết thành phần bề mặt của văn bản văn học trong dạy học đọc hiểu.

2. Nội dung

2.1. Văn bản văn học

Văn bản văn học là sản phẩm sáng tạo của nhà văn, là đối tượng thưởng thức, tiếp nhận của người đọc. Văn bản văn học thường đi sâu vào phản ánh hiện thực khách quan, khám phá thế giới tình cảm và tư tưởng, thoả mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người. Văn bản văn học là sự kết tinh quá trình tư duy nghệ thuật của tác giả, biến những biểu tượng, ý nghĩ, cảm xúc bên trong của tác giả thành một sự thực văn hoá xã hội khách quan cho người đọc suy ngẫm.

Văn bản văn học có một số đặc trưng cơ bản như: tính chỉnh thể, tính chất tưởng tượng, hư cấu, tính chất tái kí hiệu hoá biểu tượng hoá các ấn tượng, kinh nghiệm sống của con người… Văn bản văn học, đó là một sáng tác ngôn từ, một khối thống nhất, liên kết chặt chẽ của các thành tố hợp thành. Chẳng hạn, câu tục ngữ “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng” là một chỉnh thể mà trong kết cấu vững bền của nó, mực và đèn, đen và sáng hàm chứa những nội dung ý nghĩa mà những chữ ấy thông thường tách riêng ra không có được. Chỉ trong chỉnh thể thì hình thức và nội dung đích thực của văn bản mới xuất hiện. Trong văn bản thơ, các chữ phải kết hợp với nhau theo một cách nào đó mới tạo ra được hình thức câu thơ lục bát hay câu thơ tự do có nhịp điệu và nhạc điệu riêng. Trong văn bản tự sự, các yếu tố chi tiết, sự kiện phải được liên kết theo quy luật nào đó mới tạo ra được hình thức chân dung, cốt truyện, phong cảnh, nhân vật… Văn bản văn học văn học luôn có khả năng tái kí hiệu hoá, biểu tượng hoá các ấn tượng, kinh nghiệm sống của con người. Chẳng hạn, hình ảnh “Đất” và “Nước” trong bài thơ Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm vừa gắn liền với những điều gần gũi, thân thuộc “Đất là nơi anh đến trường/ Nước là nơi em tắm” vừa mang tính huyền thoại, thiêng liêng “Đất là nơi chim về/ Nước là nơi rồng ở”. Ngôn từ trong văn bản văn học được trau chuốt, lựa chọn, được tổ chức đặc biệt với nhiều phương thức và biện pháp tu từ. Ngôn từ trong văn bản văn học luôn được “lạ hoá”, tức là gọi tên sự vật bằng những cách gọi khác do nhà văn sáng tạo ra nhằm đem đến một cách nhìn, cách cảm mới cho người đọc. Chẳng hạn, Chế Lan Viên gọi Hồ Chí Minh là Người đi tìm hình của nước, Tố Hữu gọi chị Trần Thị Lí là Người con gái Việt Nam. Trong Truyện Kiều, ngoài từ nước mắt, Nguyễn Du còn dung nhiều từ khác để thay thế như: lệ, giọt châu, giọt ngọc, giọt sương, giọt hồng, giọt tủi, dòng thu. Ngoài các thành ngữ, tục ngữ tác giả còn tạo ra những nhóm từ mới có âm luật chặt chẽ như: Thảm lấp sầu vùi, nắng giữ mưa gìn, ngọn hỏi ngành tra… Tính chất tưởng tượng, hư cấu cũng là đặc trưng quan trọng của văn bản văn học. Tính hư cấu nói lên mối quan hệ đặc biệt giữa văn học và hiện thực. Nếu như trong giao tiếp đời thường tác giả và chủ thể lời nói là một và yếu tố quyết định là chủ thể lời nói thì trong văn bản văn học, tác giả thực luôn lánh đi nhường lời cho chủ thể lời nói (người kể chuyện, nhân vật trữ tình) nói hộ. Lời văn là lời của một chủ thể hình tượng và sức mạnh của lời văn nằm ở tầm vóc khái quát của chủ thể ấy. Khi lời anh vệ quốc nhớ bầm trong bài thơ Bầm ơi của Tố Hữu cất lên thì cái quan trọng là lời của anh vệ quốc chứ không phải lời của tác giả Tố Hữu. 

Văn bản văn học là một cấu trúc, là một chỉnh thể do các yếu tố cấu thành để nhằm thể hiện nội dung tư tưởng và quan niệm thẩm mĩ của nhà văn. Trong đó, ba yếu tố cơ bản của cấu trúc văn bản văn học là: Văn bản ngôn từ, hình tượng văn học, ý nghĩa. Văn bản ngôn từ bao gồm các phương diện ngữ âm, ngữ nghĩa và đặc sắc thẩm mĩ của ngôn từ nghệ thuật (như vần nhịp điệu, sự trùng điệp…) Tuỳ theo đặc trưng thể loại mà văn bản ngôn từ được tổ chức khác nhau và có những quy tắc riêng cho mỗi loại (trữ tình, tự sự, kịch). Xuyên qua văn bản ngôn từ là lớp hình tượng văn học được xây dựng bằng chất liệu ngôn từ bao gồm các “hình ảnh ngôn từ” các “ý tưởng” “biểu tượng” tạo thành bởi các phép tu từ. Bên cạnh đó, hình tượng văn học còn bao gồm những cấu tạo “siêu ngôn từ” được kể và miêu tả ra như sự kiện, nhân vật, môi trường, hoàn cảnh. Các sự kiện có mở đầu, kết thúc, nhân vật có tính cách, số phận… Là một yếu tố của cấu trúc văn bản nằm sâu ở bên trong văn bản, ý nghĩa chính là đề tài, chủ đề, tư tưởng, cảm hứng, tình điệu thẩm mĩ đóng vai trò như những hạt nhân liên kết các yếu tố cấu trúc cũng như các yếu tố nhỏ hơn trong nội bộ mỗi yếu tố lại với nhau. Ý nghĩa này là một phức hợp ý nghĩa rất nhiều mặt, thể hiện trong nhiều mạch liên kết của văn bản ngôn từ và hệ thống hình tượng.

Khi dạy đọc hiểu một văn bản văn học, giáo viên cần nắm vững những đặc trưng nói trên của văn bản văn học để hiểu đúng bản chất của loại văn bản này, từ đó tổ chức cho học sinh đọc hiểu văn bản đúng với đặc trưng thể loại.

2.2. Câu hỏi trong dạy đọc hiểu văn bản

Để giúp học sinh biết cách đọc hiểu các tầng nội dung, ý nghĩa của văn bản văn học thì giáo viên cần phải thiết kế các hoạt động hướng dẫn học sinh đọc hiểu thông qua hệ thống câu hỏi. Bởi câu hỏi có vai trò quan trọng, tác động tích cực đến sự tiếp nhận của học sinh. Câu hỏi là một trong những phương tiện để giáo viên dẫn dắt học sinh chiếm lĩnh giá trị của văn bản một cách hiệu quả nhất.

Hệ thống câu hỏi được vận dụng trong dạy đọc hiểu văn bản tương đối phong phú, luôn gắn với yêu cầu đọc hiểu các thể loại và kiểu văn bản. Loại câu hỏi được sử dụng phổ biến trong dạy đọc hiểu văn bản văn học có thể kể đến như: Câu hỏi nhận biết; câu hỏi phản hồi đánh giá; câu hỏi so sánh, vận dụng, liên hệ; câu hỏi khái quát...

Câu hỏi nhận biết thường chỉ yêu cầu học sinh nhớ lại kiến thức đã biết và trả lời dựa vào trí nhớ, không cần suy luận nhằm tái hiện lại thế giới nghệ thuật của tác phẩm. Ðây là những câu hỏi ở mức độ thấp trong quá trình tư duy. Loại câu hỏi này yêu cầu câu trả lời chính xác. Hình thức của câu hỏi này thường là: Trong đoạn văn này (khổ thơ này) tác giả đã dùng những từ ngữ, hình ảnh gì để miêu tả nhân vật, tả cảnh...? Những từ ngữ, hình ảnh nào bộc lộ tính cách nhân vật, tình cảm của nhân vật? Những thủ pháp nghệ thuật nào đã được sử dụng trong đoạn văn, đoạn thơ trên?

Câu hỏi phân tích, suy luận là những câu hỏi ở mức độ cao, yêu cầu học sinh phải suy luận, phân tích, giải thích để tìm ra ý nghĩa của những sự kiện, hình ảnh, từ ngữ trong văn bản,... Loại câu hỏi này sẽ giúp học sinh phát triển khả năng tưởng tượng, liên tưởng. Hình thức của câu hỏi này thường là: Hình ảnh, chi tiết đó ... gợi cho em những suy nghĩ gì? Em hãy phân tích vai trò của nhạc điệu trong việc biểu đạt tình cảm của nhân vật trữ tình qua đoạn thơ trên. Văn bản có thể phân chia làm mấy đoạn? Cách sắp xếp các đoạn như vậy thể hiện dụng ý gì của tác giả?...

Câu hỏi phản hồi, đánh giá: Loại câu hỏi này yêu cầu học sinh phải bộc lộ quan điểm và suy nghĩ của mình về một vấn đề nào đó trong văn bản. Hình thức của loại câu hỏi này thường là: Có ý kiến cho rằng:…/ em thích ý kiến nào, vì sao? Em có đồng tình với tác giả khi miêu tả nhân vật/ chi tiết đó không? Vì sao? Em thấy kết thúc tác phẩm có hợp lí không? Vì sao?

Câu hỏi so sánh, vận dụng, liên hệ: Loại câu hỏi này giúp học sinh mở rộng phạm vi kiến thức ra ngoài văn bản đang đọc, liên hệ đến những kiến thức đã học hoặc vận dụng kiến thức đã học vào thực tế đời sống. Hình thức của loại câu hỏi này thường là: Nhân vật, chi tiết này khiến em liên hệ đến nhân vật hoặc chi tiết nào đã học? Trong cuộc sống em đã từng được trải nghiệm những cảm xúc giống với nhân vật đó chưa? Nếu là nhân vật đó, em sẽ xử sự như thế nào?

Câu hỏi khái quát: Ðây là loại câu hỏi có tác dụng rèn cho HS khả năng tổng hợp, khái quát vấn đề bằng cách tóm tắt lại một phần nội dung bài học, rút ra chủ đề văn bản, quan điểm, thái độ của tác giả... Loại câu hỏi này thường được xây dựng trên các yếu tố: chủ đề văn bản, tư tưởng, giọng điệu, phong cách nghệ thuật của tác giả. Hình thức của loại câu hỏi này thường là: Em hãy rút ra tư tưởng chủ đề của tác phẩm. Qua hình tượng nhân vật... tác giả muốn gửi đến độc giả thông điệp gì? Loại câu hỏi này thường được sử dụng sau khi giáo viên đã trình bày xong một vấn đề và thường được dùng để củng cố hoặc kiểm tra kiến thức đã học.

Như vậy, để giờ dạy đạt được thành công, thêm sinh động, cuốn hút, người giáo viên cần vận dụng câu hỏi sao cho phù hợp với nội dung kiến thức và năng lực của học sinh.     

2.3. Hệ thống câu hỏi giúp học sinh nhận biết thành phần bề mặt của văn bản

Thành phần bề mặt (còn gọi là thành phần bề nổi của văn bản) là thành phần nội dung và hình thức được hiển thị ngay trong cấp độ ngôn từ của văn bản mà người đọc dễ dàng nhận ra. Đó là thể loại, bố cục, đề tài, chủ đề và các tín hiệu thẩm mĩ của văn bản như: hình ảnh, ngôn từ, các biện pháp tu từ, phương thức biểu đạt, phong cách ngôn ngữ… Thành phần bề mặt của văn bản còn là nội dung hiện thực được phản ánh trực tiếp trong cụ thể của văn bản. Nếu văn bản thuộc thể loại tự sự, kịch thì đó diễn biến của câu chuyện, vở kịch. Nếu văn bản thuộc thể loại trữ tình đó là nhân vật trữ tình, là mạch cảm xúc của bài thơ… Vì thế trong quy trình dạy đọc hiểu văn bản, việc giúp học sinh nhận biết các thành phần bề mặt của văn bản chính là nhiệm vụ đầu tiên mà người giáo viên cần thực hiện. Bởi lẽ học sinh chỉ có thể nắm bắt được các thành phần bề mặt của văn bản mới có thể hiểu, giải thích, phân tích và có những phản hồi, đánh giá về văn bản đó.

Thông thường để giúp học sinh nhận biết thành phần bề mặt của văn bản thì loại câu hỏi nhận biết sẽ được giáo viên sử dụng với tần suất cao nhất. Bởi lẽ loại câu hỏi này vừa phù hợp với mục đích đọc hiểu lại vừa phù hợp với mọi đối tượng học sinh.

Giáo viên có thể quan tâm thiết kế một số loại câu hỏi sau:

2.3.1. Câu hỏi nhận biết thể loại

 “Thể loại văn học (người phương Tây gọi là genre, người Trung Quộc gọi là “thể tài” là một hình thức chỉnh thể của tác phẩm văn học. Tác phẩm văn học nào cũng có một hình thể, có một “thể” cấu tạo, thể thức ngôn từ nhất định. Các hình thức cá biệt ấy hết sức đa dạng. Song giữa các tác phẩm khác biệt ấy lại thấy có những điểm gần giũ nhau về ngôn từ, hình tượng, cấu tạo, hình thành nên những “loại” nhất định. “Loại” đó là những nét tương đồng ngoại hình làm nên thể loại văn học. “Thể loại chỉ những nét chung của các tác phẩm cụ thể, cá biệt, đa dạng” [3; tr.143].

Việc đặt câu hỏi để học sinh xác định thể loại của văn bản có vai trò rất quan trọng, bởi lẽ khi xác định chính xác thể loại của văn bản, học sinh sẽ có định hướng tiếp nhận văn bản theo đúng đặc trưng của thể loại đó. Chẳng hạn, cùng là những sáng tác thuộc loại hình văn học dân gian có hình thức tương đối giống nhau nhưng nếu thể loại của văn bản là ca dao thì học sinh sẽ hiểu cần phải chỉ ra được tình cảm, cảm xúc của nhân vật trữ tình được bộc lộ trực tiếp trong tác phẩm. Nếu văn bản thuộc thể loại tục ngữ thì cần phải chỉ ra được những bài học kinh nghiệm được tác giả dân gian đúc rút và truyền lại cho hậu thế là gì.

Khi thiết kế câu hỏi để học sinh nhận biết thể loại của văn bản, giáo viên cần đặt câu hỏi với nội dung rõ ràng, dễ hiểu, hướng vào trọng tâm vấn đề cần hỏi.

Ví dụ:

+ Em hãy cho biết thể loại của văn bản trên là gì?

+ Em có hiểu biết gì về thể loại đó?

+ Thể loại này định hướng cho em cách đọc hiểu văn bản như thế nào?

2.3.2. Câu hỏi nhận biết đề tài

Theo tác giả Trần Đình Sử: “Đề tài là khái niệm thể hiện phương diện nội dung tác phẩm văn học. Đó là phạm vi miêu tả trực tiếp của tác phẩm, là đối tượng đã được nhận thức, kết quả lựa chọn của nhà văn. Tầm quan trọng của đề tài là ở chỗ, nếu chưa nhận ra đề tài thì chưa thể bước vào tiếp nhận hình tượng. Việc xác định đề tài sẽ giúp người đọc liên hệ nội dung tác phẩm với một mảnh đời sống nhất định của thực tại” [107, tr.122- 123].

Khi thiết kế câu hỏi cho học sinh nhận biết đề tài của văn bản nên lựa chọn hình thức câu hỏi nhận biết với nội dung rõ ràng nhằm giúp học sinh dễ nhận diện và trả lời.

Ví dụ:

+ Theo em, tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao viết về đề tài gì?

+ Phạm vi hiện thực nào được tác giả phản ánh trực tiếp trong văn bản này?

+ Hoặc có thể thiết kế dạng câu hỏi trắc nghiệm: Trong các nội dung sau, đâu là đề tài của tác phẩm Chí Phèo?

A. Người nông dân     B. Người trí thức      C. Người lính    D. Người công nhân

2.3.3. Câu hỏi nhận biết chủ đề

Theo Phương Lựu: “Chủ đề là vấn đề cơ bản của tác phẩm, là phương diện chính yếu của đề tài... Chủ đề là góc độ, bình diện, con đường tác giả đưa dắt người đọc thâm nhập tác phẩm” [2, tr.263].

Khi đặt câu hỏi cho học sinh nhận biết chủ đề của văn bản, có thể sử dụng hình thức câu hỏi nhận biết với nội dung rõ ràng, dễ hiểu.

Ví dụ:

+ Chủ đề của văn bản này là gì?

+ Trong văn bản này nhà văn đã tập trung làm nổi bật những vấn đề chính yếu nào?

+ Vấn đề nào là vấn đề nổi bật nhất của văn bản?

Hoặc giáo viên có thể gợi mở bằng những kiến thức gần gũi với văn bản để dẫn dắt học sinh hướng vào câu hỏi như: Có nhiều bài thơ viết về đề tài người lính trong cuộc kháng chiến chống Pháp như Đồng Chí của Chính Hữu, Màu tím hoa sim của Hữu Loan. Trong bài thơ Đồng Chí, nhà thơ đã chú ý đến những điểm tương đồng về thành phần xuất thân, về sự thiếu thốn trong đời sống vật chất nhưng vượt lên trên tất cả là tình cảm đồng chí, đồng đội, sự chia ngọt sẻ bùi cùng chiến đấu vì lí tưởng. Vậy, trong bài thơ Tây Tiến nhà thơ Quang Dũng có quan tâm đến những vấn đề đó không? Hay ông đặt ra những vấn đề khác? Đó là vấn đề nào?

2.3.4. Câu hỏi nhận biết bố cục

Bố cục của văn bản là sự tổ chức, sắp xếp các phần để tạo thành một văn bản hoàn chỉnh. Bố cục có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện sự thống nhất chặt chẽ giữa chủ đề, tư tưởng với hệ thống nhân vật. Bố cục của văn bản là sự sắp đặt nội dung các phần trong văn bản theo một trình tự hợp lí. Hệ thống các phần của văn bản cho thấy mạch phát triển của vấn đề, thể hiện sự rành mạch trong suy nghĩ của người viết, góp phần tạo nên sức thuyết phục của văn bản.

Khi đặt câu hỏi để hoc sinh nhận biết bố cục của tác phẩm, giáo viên có thể sử dụng hình thức câu hỏi nhận biết hoặc phân tích với nội dung rõ ràng, dễ hiểu.

Ví dụ: Theo em bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng có bố cục gồm mấy phần? Nội dung của mỗi phần là gì?

Hoặc: Tây Tiến là một đơn vị bộ đội có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào để bảo vệ biên giới Việt Lào và làm tiêu hao lực lượng quân đội Pháp ở vùng Tây Bắc. Địa bàn hoạt động của đoàn quân Tây Tiến là vùng rừng núi rất hiểm trở nhưng cũng rất hùng vĩ, mĩ lệ. Chiến sĩ Tây Tiến phần đông là thanh niên Hà Nội nên rất đỗi lãng mạn, hào hoa. Bài thơ Tây Tiến được Quang Dũng viết để nhớ về đoàn quân Tây Tiến - đơn vị cũ của nhà thơ. Em hãy đọc kĩ bài thơ này và cho biết bài thơ có mấy ý chính, những khổ thơ nào truyền tải ý chính đó?

2.3.5. Câu hỏi nhận biết các tín hiệu thẩm mĩ

Theo tác giả Vũ Anh Tuấn: “Tín hiệu thẩm mĩ là những nút động nếu nhấn vào thì cả bài văn bừng sáng lên. Những nút động đó là những từ, ngữ, cách dùng từ đặt câu” [DT, 1, tr.96]. Có thể hiểu, tín hiệu thẩm mĩ (THTM) là toàn bộ những yếu tố hiện thực, những chi tiết của sự vật, hiện tượng trong đời sống được đưa vào tác phẩm vì mục đích nghệ thuật.

Trong văn bản văn học, THTM là những chi tiết nghệ thuật, những sự vật, hiện tượng tự nhiên, con người, đồ vật, hình ảnh, âm thanh… có khả năng bộc lộ chủ đề và tư tưởng của văn bản.

Khi đặt câu hỏi để học sinh nhận biết THTM, có thể sử dụng loại câu hỏi nhận biết hoặc phân tích để học sinh chỉ ra được những chi tiết, sự kiện… mà học sinh cảm thấy ấn tượng trong một đoạn văn bản hoặc cả chỉnh thể văn bản.

Ví dụ:

+ Em hãy liệt kê những hình ảnh, chi tiết, sự kiện mà em ấn tượng nhất trong văn bản này.

+  Em hãy chỉ ra những từ ngữ và hình ảnh độc đáo trong bài thơ.

+ Những hình ảnh, chi tiết, từ ngữ nào trong khổ thơ sau đây đã để lại ấn tượng sâu đậm cho em?

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi...

3. Kết luận

Hệ thống câu hỏi giúp học sinh nhận biết thành phần bề nổi của văn bản tương đối phong phú. Vì vậy, người giáo viên cần quan tâm đến việc thiết kế câu hỏi sao cho phù hợp với đặc trưng của văn bản văn học và những yêu cầu cụ thể của dạy đọc hiểu văn bản văn học. Đồng thời câu hỏi phải phù hợp với đối tượng học sinh để giúp học sinh phát huy tính chủ động trong quá trình đọc hiểu văn bản. Trong quá trình tổ chức các hoạt động học tập, giáo viên phải tôn trọng kết quả đọc hiểu của học sinh, để cho mỗi học sinh có quyền đọc hiểu theo trình độ, vốn hiểu biết, kinh nghiệm, cảm xúc của mình, từ đó hình thành cho học sinh khả năng phân tích và tổng hợp văn bản, giúp học sinh có năng lực đọc hiểu bất kì loại văn bản nào kể cả những văn bản được giảng dạy trong nhà trường và văn bản nằm ngoài chương trình.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Trương Thị Bích (2015), Rèn luyện năng lực tiếp nhận tác phẩm văn học cho học sinh trung học cơ sở, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội.

2. Phương Lựu (chủ biên) (2001), Lí luận văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội.

3. Trần Đình Sử (2007), Giáo trình Lí luận văn học, tập II, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội.

4. Đỗ Ngọc Thống (2010), “Trần Đình Sử và quan niệm về đọc hiểu văn bản trong nhà trường phổ thông Việt Nam”, Tạp chí Văn hóa Nghệ An, tháng 6.

5. Đỗ Ngọc Thống (2013), “Dạy học Ngữ văn trong nhà trường Việt Nam – hiện trạng, hướng phát triển và những vấn đề liên quan” in trong Kỉ yếu Hội thảo khoa học Quốc gia về dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông Việt Nam, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội.