GIÚP LƯU HỌC SINH LÀO ĐÁNH VẦN TIẾNG VIỆT THEO BỘ SÁCH CẢI CÁCH TIẾNG VIỆT

 

Họ và tên: Nguyễn Thị Hoa

Tổ Tiếng Việt – Khoa Ngữ văn

 

I. Đặt vấn đề

Hiện nay, song hành tồn tại hai bộ sách tiếng Việt: sách cải cách giáo dục và sách công nghệ giáo dục. Cách đánh vần theo hai bộ sách là khác nhau. Bài viết này chia sẻ về cách đánh vần theo bộ sách cải cách giáo dục để thuận tiện cho các Lưu học sinh Lào học tiếng Việt.

 

  Bìa sách "Tiếng Việt 1 tập 1"                Bìa sách "Tiếng Việt 1 tập 2"              

           

              Bìa sách “Tiếng Việt 1, Tập 1”                                Bìa sách "Tiếng Việt 1, tập 2"

II. Giúp Lưu học sinh Lào đánh vần tiếng Việt như thế nào cho đúng theo bộ sách cải cách tiếng Việt tập một, tập hai (Đặng Thị Lanh – Chủ biên, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, Tái bản lần thứ 15, 2017)

1. Phân biệt tên gọi chữ cái và âm đọc chữ cái

Nhiều người nhầm lẫn giữa tên gọi chữ cái và âm đọc chữ cái. 

 

                        Bảng chữ cái với tên gọi và âm đọc

                                  Bảng chữ cái với tên gọi và âm đọc

Ví dụ:

 Chữ b, tên gọi là "bê", âm đọc là "bờ". 

Để nhớ và phân biệt tên gọi và âm đọc có thể dùng câu sau:

Chữ "bê" (b) em đọc là "bờ"
Chữ "xê" (c) em đọc là "cờ", chuẩn không?

Đặc biệt có ba chữ cái c (xê), k (ca), q (quy) đều đọc là "cờ".

Hiện nay, chữ q không gọi tên là "cu" nữa mà gọi tên là "quy".

Để học sinh nhanh thuộc cách phát âm các chữ cái tiếng Việt, chúng ta có thể dạy cho các em tập hát bài hát “Em là trò ngoan” của nhạc sĩ Lê Thống Nhất.

A, á, ớ, bờ, cờ, dờ, đờ, e.  Ê, gờ, hờ, i, cờ, lờ, mờ, nờ. O, ô, ơ, pờ, cờ, rờ, sờ, tờ. U, ư, vờ, xờ, y…học thật mau! Bao chữ cái nào cùng đọc bạn ơi! Khi thuộc rồi, em nào sợ bạn cười. Em luôn chăm, đừng là học trò lười. Luôn vâng lời vì em là trò ngoan.

Với các phụ âm, nguyên âm ghi bởi hai hay ba chữ cái thì chúng ta nên nhớ bảng sau:

 

                           Bảng đọc các phụ âm, nguyên âm ghi bởi 2-3 chữ cái.

 

2. Đặc điểm ngữ âm và đặc điểm chữ viết của  tiếng Việt

Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập, những đặc điểm loại hình này có ảnh hưởng đến việc lựa chọn nội dung và phương pháp dạy học Học vần.

Về ngữ âm, tiếng Việt là ngôn ngữ có nhiều thanh điệu, các âm tiết được nói rời, viết rời, rất dễ nhận diện. Mặt khác, ranh giới âm tiết tiếng Việt trùng với ranh giới hình vị. Do vậy, hầu hết các âm tiết tiếng Việt đều có nghĩa. Chính vì điều này, tiếng (có nghĩa) được chọn làm đơn vị cơ bản để dạy học sinh học đọc, viết trong phân môn Học vần.

Với cách lựa chọn trên, ngay từ bài học tiếng Việt đầu tiên, học sinh đã được tiếp cận với một tiếng tối giản, là nguyên liệu tạo nên các từ đơn và từ phức trong tiếng Việt. Cũng vì vậy, học sinh chỉ học ít tiếng nhưng lại biết được nhiều từ chứa những tiếng mà các em đã biết.

Về cấu tạo, âm tiết tiếng Việt là một tổ hợp âm thanh có tổ chức chặt chẽ, các yếu tố trong âm tiết kết hợp theo từng mức độ lỏng, chặt khác nhau: phụ âm đầu, vần và thanh kết hợp lỏng, các bộ phận trong vần kết hợp với nhau một cách chặt chẽ. Vần có vai trò đặc biệt quan trọng trong âm tiết. Đây là cơ sở của cách đánh vần theo quy trình lập vần (a- mờ - am), sau đó ghép âm đầu với vần và thanh điệu để tạo thành tiếng (lờ-am-lam-huyền-làm).

3. Cách đánh vần một tiếng

Ta thấy một tiếng đầy đủ có ba thành phần: âm đầu - vần - thanh, bắt buộc phải có: vần - thanh, có tiếng không có âm đầu.

Ví dụ 1:

Tiếng an có vần "an" và thanh ngang, không có âm đầu. Đánh vần: a - nờ - an.

Ví dụ 2: 

Tiếng ám có vần "am" và thanh sắc, không có âm đầu.

 Đánh vần: a - mờ - am - sắc - ám.

 Ví dụ 3:

Tiếng bầu có âm đầu là "b", có vần "âu" và thanh huyền.

Đánh vần: bờ - âu - bâu - huyền - bầu.

Ví dụ 4:

Tiếng nhiễu có âm đầu là "nh", có vần "iêu" và thanh ngã.

Đánh vần: nhờ - iêu - nhiêu - ngã - nhiễu.

Chú ý: Vần đầy đủ có âm đệm, âm chính và âm cuối.

Ví dụ 5:

Tiếng nguyễn có âm đầu là "ng", có vần "uyên" và thanh ngã.

Vần "uyên" có âm đệm là "u", âm chính là "yê", âm cuối là "n".

Đánh vần "uyên" là: u - i - ê - nờ - uyên hoặc u - yê(ia) - nờ - uyên.

Đánh vần "nguyễn" là: ngờ - uyên - nguyên - ngã - nguyễn.

Ví dụ 6:

Tiếng yểng, không có âm đầu, có vần "yêng" và thanh hỏi.

Vần "yêng" có âm chính "yê", âm cuối là "ng". Đánh vần: yêng - hỏi - yểng.

Ví dụ 7:

Tiếng bóng có âm đầu là "b", vần là "ong" và thanh sắc. Đánh vần vần "ong": o - ngờ - ong. Đánh vần tiếng "bóng": bờ - ong - bong - sắc - bóng.

Ví dụ 8: 

Tiếng nghiêng có âm đầu là "ngh", có vần "iêng" và thanh ngang. Vần "iêng" có âm chính "iê" và âm cuối là "ng". Đánh vần tiếng nghiêng: ngờ - iêng - nghiêng. Đây là tiếng có nhiều chữ cái nhất của tiếng Việt.

Ví dụ 9:

Với từ có hai tiếng con cá, chúng ta sẽ  đánh vần từng tiếng:

cờ - on - con - cờ - a - ca - sắc - cá.

                            Sử dụng từ và hình ảnh khi dạy đánh vần.

Sử dụng từ và hình ảnh khi dạy đánh vần

Ví dụ 10:

Phân biệt đánh vần "da" ( trong da thịt ) và "gia" (trong gia đình).

"da" : dờ - a - da. 

"gia" có âm hoàn toàn như "da" nhưng vì lợi ích chính tả được đánh vần là: 

gi (đọc là di) - a - gia.

III. Kết luận

Như vậy, chúng ta là những thầy giáo, cô giáo dạy tiếng Việt cho các em Lưu học sinh Lào đang học tiếng Việt tại trường Đại học Tây Bắc hoàn toàn có thể yên tâm về đánh vần các tiếng theo sách giáo khoa cải cách giáo dục. Do các tài liệu vẫn còn "vênh" nhau chút ít nên đề nghị các chuyên gia tiếng Việt chuẩn hoá thêm.

 

 

                                                                                                           

 T. J. Logan Jersey