“PÀ” (CÁ) TRONG TỤC NGỮ CỦA NGƯỜI THÁI

 

                                                                                               Lò Thị Hồng Nhung

                                                                                             Khoa  Ngữ Văn

 

Hình ảnh “pà” (cá) giữ vị trí quan trọng trong đời sống vật chất và tinh thần của dân tộc Thái. Từ lâu, hình ảnh “cá” đã đi vào nếp nghĩ, lối sống của người Thái và được vận dụng vào “ quám chiến láng” (tục ngữ) để biểu đạt nhiều vấn đề về triết lí nhân sinh.

Người Thái mượn hình ảnh “cá” để biểu đạt kinh nghiệm về thời tiết “Pà tền tạng hang hạ tím huôi” (Thấy cá ngược suối, nhảy qua trộc nước, thì sắp có lụt); “pà” được người Thái dùng biểu trưng cho tình yêu, sự hi sinh, chịu đựng mọi gian khổ vì con cái của bố mẹ qua câu: “Khắm khảu hảy ha pa/Khắm là hảy hẳư xía (Cầm cơm khóc đòi cá/ Cầm địu đòi lên vai); “Đảy nộc po me kin tà/Đảy pà pò me kin kảng (Được chim bố mẹ ăn mắt/ Được cá bố mẹ ăn xương). Hình ảnh “pà” còn được người dân Thái dùng để biểu trưng cho các tiêu chuẩn chọn vợ, chọn chồng hay kén rể: “Bấng sào, bấng mưa sỏn/Bấng báo, bấng mưa chọn kăn na” (Xem gái, xem lúc đang xúc cá/Xem trai, xem lúc đang làm cỏ be bờ); “Pẳm mạy củ, mạy cha sin cốc/Túc pa khẻ, pa nộc pói noong/Pên khươi liệng soong hươn, xam hươn kấng chăư po lả, me lả” (Đẵn cây sấu, cây sâng sát gốc/Đánh cá chiên, cá trắm thả ao/Làm con rể nuôi hai, ba nhà vừa ý mẹ cha). Trong mối quan hệ xã hội, hình ảnh “cá” được sử dụng để khuyên răn sự thận trọng  trong  ứng xử cũng như đánh giá người khác: “Báu chắc nặm hứ pấng pà/Báu chắc na, hứ pấng sum khảu púk” (Không biết nước hãy xem cá/Không biết ruộng hãy xem khóm lúa đang trồng”; ăn ở với nhau phải biết nhường nhịn đoàn kết “Thán phay đanh hàng pà chắng ngó/Thán phay báu đanh hàng pà báu ngó” (Đuôi cá cong bởi hòn than hồng/Hòn than không  hồng thì đuôi cá cũng chẳng cong), phản ánh tâm lý đề cao số đông, đề cao tinh thần tập thể “Pà pên mú pà tai/ Côn mi lai xum hứ mẳn” (Cá thành đàn cá chết/Người nhiều đoàn thì vững); phản ánh kinh nghiệm sống phải linh hoạt, thích nghi với môi trường xung quanh, sống trong môi trường nào thì quen môi trường đó “Pà quén nong/Chong quén mỏ” (Cá quen ao/Muôi quen nồi); góp phần phản ánh những nét đẹp trong sinh hoạt của người Thái,sự chu đáo, mến khách “Pay kin pa/Ma kin lảu/Tạu non xứa hốm pha” (Đi, ăn cá/Về, uống rượu/ Lại nằm đệm đắp chăn). Hình ảnh “pà” (cá) còn được dùng để biểu trưng cho triết lí hết sức giản dị nhưng lại là quy luật tất yếu của cuộc sống: việc đã rồi, sự đã rồi, không bao giờ trở lại trạng thái ban đầu nữa “Pà dảng báu cưn ma xáy/Cáy dảng báu cưn ma khăn” (Cá sấy không trở về đẻ/Gà sấy chẳng trở lại).

                “Pà” (cá) trong “quám chiên lang”  của người Thái mang nhiều ý nghĩa biểu trưng độc đáo, mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc.

 

 

            TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.    Cầm Cường (1993), Tìm hiểu văn học dân tộc Thái ở Việt Nam, Nxb KHXH.

2.    Cầm Trọng (1978), Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam, Nxb KHXH.

3.    Hoàng Trần Nghịch (1992), Phương ngôn, tục ngữ Thái, Nxb VHDT.

4.    Hoàng Tam Khọi (sưu tầm và dịch) (1973-1977),Tục ngữ dân tộc Thái (tập 1+2), Ty Văn hoá Lai Châu xuất bản.