ĐẶC ĐIỂM TRI NHẬN VỀ CÁCH THỨC ỨNG XỬ VỚI MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN QUA TỪ BIỂU HIỆN BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI TRONG TIẾNG THÁI Ở VIỆT NAM

TS Hà Thị Mai Thanh

Khoa Ngữ Văn – Trường Đại học Tây Bắc

 

1. Dẫn nhập

Theo Dirk Geeraerts [3], các loại quan hệ nghĩa khác nhau có giá trị ràng buộc các từ lại với nhau. Khi tồn tại trong hệ thống, các từ hiện tồn một mạng quan hệ nghĩa, một trong số đó là: quan hệ tổng phân nghĩa, quan hệ đa nghĩaquan hệ bao thuộc.

          Từ biểu hiện bộ phận cơ thể người (BPCTN) thuộc lớp từ vựng cơ bản - lớp từ chỉ các sự vật, sự việc, hiện tượng gần gũi chung quanh con người, quen thuộc với mọi người và phản ánh được nhiều thông tin về trạng thái cổ xưa của mỗi ngôn ngữ. Theo y học, BPCTN nhìn từ bên ngoài (yếu tố ngoại hiện) được chia thành các khu vực/ vị trí: thượng đình, trung đình, hạ đình và tứ chi. Trong bài viết này, tác giả chỉ đi vào nghiên cứu từ biểu hiện BPCTN thuộc ba khu vực: thượng đình, trung đìnhtứ chi.

          Để làm sáng tỏ đặc điểm tri nhận về cách thức ứng xử của dân tộc Thái với môi trường, thủ pháp phân tích ngữ cảnh và phương pháp phân tích trường hợp được sử dụng khi khảo sát các ngữ liệu trên bậc câu trong tiếng Thái. Ý nghĩa của các từ biểu hiện BPCTN sẽ được xét trong quan hệ giữa chúng với các từ trong văn bản và những yếu tố hữu quan bên ngoài văn bản. Trong quá trình phân tích, miêu tả, những trường hợp điển hình sẽ được so sánh, đối chiếu với từ có nghĩa tương đương trong tiếng Việt. Nguồn ngữ liệu được sử dụng cho mục đích nghiên cứu gồm: (1) Quam tô lang - Lời kể từ xa xưa (Truyện cổ tích của người Thái), (2) Quam chiên lang - Lời truyền lại từ xa xưa trong lịch sử ông cha, (3) Lời nói hằng ngày của người Thái, (4) Làn nọi ỉn khắp - Cháu nhỏ vui hát (Đồng dao Thái), (5) Quam khắp Xống chụ xồn xào - Truyện thơ "Tiễn dặn người yêu", (6) Quam Kén Kẻo - Truyện thơ Kén kẻo.

 

 

 

2. Kết quả khảo sát

 

Biểu đồ hình cột thể hiện số lượng từ biểu hiện BPCTN phản ánh cách thức ứng xử

của dân tộc Thái với môi trường tự nhiên

2.1. Cách thức ứng xử với môi trường rừng của dân tộc Thái qua từ biểu hiện bộ phận cơ thể người

            Từ xưa tới nay, cuộc sống người Thái luôn dựa vào "pá pu - rừng núi". Họ lên rừng tìm thức ăn và khai phá đồi núi thành "hày - nương" để trồng trọt. Chính tập quán sinh hoạt và sản xuất như vậy đã phản chiếu vào những tác phẩm văn học dân gian Thái.

(1) Nang còi yền chàư vạu phùa:

- Hau àu cằn đảy xàm mua hày. Chơ dú tang hươn tà nai hư mưng bo phăng hềnh táo ma họt hươn đảy nghin piến cuồng hùa chàư xìa, bơ bớng mè mia ok cà xằng.

(Nàng từ từ yên tim (bình tĩnh) bảo chồng:

- Chúng ta lấy nhau được ba mùa nương. Khi còn ở (bên) nhà mắt ngoại (bên ngoại), anh bảo nghe lắm. Giờ trở về đến nhà được nghe thay trong tim (thay lòng đổi dạ) đi, không xem vợ ra gì cả). [11,36]

Lời nói của người vợ trong ví dụ (1) được miêu tả, dẫn dắt bởi cảm xúc yền chàư - yên tim (bình tĩnh). Thời gian ba năm chung sống được tính bằng "ba mùa nương rẫy" (xàm mua hày). Công việc nương rẫy gắn kết tình nghĩa vợ chồng, đủ để người vợ yền chàư - yên tim (bình tĩnh) níu giữ hạnh phúc.

Người nông dân Thái thường khai phá đồi núi để trồng ngô, lúa, vừng, bông, lạc, đỗ, dưa,…:

(2) Bả pò tay pày le hày khảu li mự kón nhăng hền hày chằn khay nị hền xlang hang đảy nghin khồm hùa chàư - Người trai Thái đi xem nương ngô thì mấy hôm trước còn thấy nương đẹp, bây giờ thấy xơ xác được nghe đắng trong tim. [11,43]

Ví dụ (2) một lần nữa minh chứng: cảm xúc của người Thái thường gắn với không gian núi rừng, nương rẫy. Biểu thức ngôn ngữ hày khảu li - nương ngôđảy nghin khồm cuồng chàư - được nghe đắng trong tim phản ánh sự gắn bó của người Thái với núi rừng, bên cạnh phương thức canh tác: trồng ngô, trồng lúa nương trên đồi và trồng lúa nước dưới những cánh đồng.

Đối với người Thái, "pá pu -  rừng núi" còn là nơi trú ngụ khi sự mưu sinh trở nên khó khăn, vất vả:

(3) Tênh cá hươn pày khảu tạu họt bón bơ mu hoi tìn kôn khảu ma họt -  Cả nhà đi vào rừng tới một nơi mà không có vết chân người vào tới nơi. [11,44]

Xét trên trục ngữ đoạn, sự kết hợp giữa từ tìn - chân (hoi tìn - vết chân) với từ pá - rừng và một từ mang ý nghĩa phủ định (bơ mi -  không có) cho biết tính chất của núi rừng, giá trị của rừng được đo bằng sự hiện diện của bàn chân người.

Sự gần gũi với "pá pu -  rừng núi" thể hiện ở sự gần gũi với các loài "xắt xính -  con vật" của người Thái trong từ biểu hiện BPCTN.

(4) Khảu bơ mi kìn, khảu li cỏ bơ mi, pùm pưng lụk páu xương tồ chắc chắn - Gạo không có ăn, ngô cũng không có ăn, bụng các con rỗng như bụng con ve. [11,34]

Từ pùm - bụng được so sánh với bộ phận cơ thể của một loài vật trong tự nhiên (tồ chắc chắn - con ve). Cấu trúc so sánh pùm pưng lụk páu xương tồ chắc chắn - bụng các con rỗng như bụng con ve đã thể hiện văn hóa sinh hoạt, sản xuất của người Thái rất gần gũi với môi trường tự nhiên.

Chính vì gần gũi với "pá pu - rừng núi" nên con người rất quen thuộc với các động vật rừng như: linh - khỉ, nhền mong - cầy hương, nộk cạu - cú,…

(5) Pưng linh nừng hền bả chự hiềm pá hền koén khơi, co tư kôm, xàu chắng lông pày thàm bớng - Một đàn khỉ thấy người gác rừng nhìn quen thuộc, cổ đeo gông, chúng mới xuống đi hỏi xem. [11,49]

(6) Măn xúc khảu xú ải nhền mong chòi hảư - Chàng thò tay vào nhờ chú cầy hương giúp cho. (11,52)

(7) Mưng nị ải xí pák / Mưng nị ải hả lằng / Xốp mưng tò khảng xà / mưng tà nộk cạu - Mày này ông bốn mồm / Mày này ông năm mũi / Mồm mày bằng miệng hang / Mắt mày bằng mắt cú. [9,73 – 74]

Khi hằng ngày tiếp xúc với rừng, người Thái có sự gần gũi với "cò mạy - cây cối". Ví dụ:

(8) Lịn mưng tò đàư / Tò lịn ứng cà / mưng tò đàư / Tò nuối mák xản -  Lưỡi mày bằng từng nào? - Bằng lưỡi lúc lắc / Mắt mày bằng nào? - Bằng quả sổ. [9,141-144]

Trong tiếng Việt và tiếng Thái, BPCTN đều được so sánh với thiên nhiên bởi cùng chung một ý niệm "con người là thực vật", "con người là động vật". Nhưng lựa chọn loại thực vật, động vật nào để tri nhận về BPCTN thì có sự khác biệt giữa hai tiểu ngôn ngữ. Tiếng Việt có các cấu trúc so sánh như: Mắt sắc như dao; Mắt sắc như nước; Mắt lá dăm; Mắt bồ câu; Ti hí mắt lươn/ Thườn lườn mắt rắn;… Tiếng Thái có: lịn tò lịn ứng cà - lưỡi bằng lưỡi (quả) lúc lắc; tà tò nuối mák xản - mắt bằng quả sổ;… Các yếu tố lá dăm, dao, lươn,… phản ánh kinh nghiệm tương tác của người Việt với không gian vườn và không gian ruộng đồng. Các yếu tố tà nộk cạu - mắt cú, ứng cà - (quả) lúc lắc, mák xản - quả sổ,… phản ánh kinh nghiệm tương tác của người Thái với không gian núi rừng.

2.2. Cách thức ứng xử với môi trường nước của dân tộc Thái qua từ biểu hiện bộ phận cơ thể người

Từ xưa tới nay, cuộc sống của cư dân Thái gắn chặt với các dòng chảy tự nhiên. Từ biểu hiện BPCTN thuộc khu vực trung đình có số lượng lớn nhất (5/11 từ, chiếm 45.5%), từ biểu hiện BPCTN khu vực thượng đình có số lượng lớn thứ hai (4/11 từ, chiếm 36.4%), và từ biểu hiện BPCTN khu vực tứ chi có số lượng nhỏ nhất (2/11 từ, chiếm 18.2%). Sự gắn bó chặt chẽ giữa nước và con người thể hiện ngay trong các từ mang nghĩa chuyển để thể hiện tình cảm, tâm tính con người (nặm hùa chàư -  nước tim, {nặm mốc -  nước lòng, nặm ék -  nước óc). Không chỉ vậy, nếu được uống những nguồn nước quý thì bản chất con người sẽ thay đổi:

(9) Kìn nặm Bó Bồng măn hak chàư han - Kìn nặm Bó Ban măn hak chàư cả - Kìn nặm ta Bả măn hak chàư đếk phăn chan -  Uống nước Bó Bông nó khác tim can đảm - Uống nước Bó Ban nó khác tim kiên quyết - Uống nước sông Bả nó khác tim phản bội. [10, 4]

Theo khảo sát bước đầu, trong tiếng Việt, chúng tôi thấy phạm trù đất, phạm trù vật thể nhân tạo, thậm chí là hiện tượng tâm linh thường được sử dụng để nói về triết lí nhân sinh: ngoại cảnh chi phối tính cách con người. Ví dụ:

- Đất tốt trồng cây rườm rà / Những người thanh lịch nói ra dịu dàng / Đất xấu trồng cây khẳng khiu / Những người thô tục nói điều phàm phu.

- Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng.

- Đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy.

Với người Thái, triết lí nhân sinh trên được biểu hiện thông qua mối quan hệ giữa phạm trù nước với BPCTN: hùa chàư -  tim.

Sự gắn bó giữa người Thái với "nặm - nước (sông, suối, ao, hồ)" chặt chẽ tới mức trong 45 truyện cổ tích Thái được khảo sát đã có tới 10 truyện nói về mối tình giữa người với con gái hay con trai của "pùa Ngựa - vua Thuồng Luồng" (vị vua cai quản dưới nước theo quan niệm của người Thái). Ví dụ:

(10) Pày họt bón nặm khảu hu mè xào nghin môn lài tà lên lai xìa -  Đi đến chỗ nước nước vào lỗ (nước xoáy) cô gái nghe thấy mắt hoa đi [11,58]. Xét trên trục ngữ đoạn, từ tà -  mắt có sự kết hợp với nặm khảu hu -  nước vào lỗ (lối vào chốn cai quản của vua Thuồng Luồng) ở phía trước và từ biểu hiện trạng thái (lên lai -  hoa đi) ở phía sau. Ngữ liệu này nói về một cô gái Thái đem lòng yêu con trai vua Thuồng Luồng. Đây là lúc cô bắt đầu bước vào thế giới dưới nước.

Những sinh hoạt đời thường của dân tộc Thái diễn ra ở "ta - bến (nước)":

 (11) Làn nhinh: Êm pả pày cơ đàư để ải lung?

Ải lung: Măn pày áp hùata luồng đẹo đê.

Làn nhinh: Pày hờng lẹo á ải lung?

Ải lung: Chọm pày đó.

(Cháu gái: Mẹ bác (bác gái) đi đâu rồi đấy bố bác (bác trai).

Bác trai: Nó đi tắm (gội) đầubến to rồi mà.

Cháu gái: Đi lâu rồi à bố bác (bác trai)?

Bác trai: Mới đi thôi). [12,15]

Người phụ nữ Thái thường áp hùa - gội đầu ở "ta". "Ta" là khu vực nước sạch sẽ với độ sâu vừa phải ở sông, suối gần nơi sinh sống của các bản mường người Thái. Người Thái chia "ta" làm hai khu vực là "ta nừa -  bến trên" (bến dành cho đàn ông) và "ta tảư - bến dưới" (bến dành cho phụ nữ và trẻ em). Đó là nơi diễn ra những sinh hoạt hàng ngày (tắm, gội, giặt giũ,…) của người dân Thái ở các bản mường.

Nếu sinh hoạt hàng ngày (tắm, gội, giặt giũ,…) của người Thái gắn bó chặt chẽ với không gian nước hoang sơ, rộng lớn (sông, suối) thì người Việt lại gắn bó với không gian nước trong gia đình nhỏ hẹp hơn (giếng, bể, chum,…):

- Lên chơi giải muộn trên nhà chị Hoài, thỏa mắt nhất là vào những ngày bắt gặp chị gội đầu. Cái mớ tóc mây sải rưỡi ấy quả là một công trình không cô phụ đến lò sáng tạo của Hóa Công, mỗi khi chị tắm giặt cho nó bằng thứ nước gội cổ điển của người mình. Quả bồ kết. Hạt mùi già. Rễ hương bài [Nguyễn Tuân, Tóc chị Hoài].

- Theo lệ thường, nàng ra cái chum để ở đầu nhà múc nước. Thấy trong bát nước có cặn, nàng đổ đi và cầm cái gáo khoắng nước thật kĩ, để mặc cho những giọt mưa trên mái nhà rỏ xuống tóc, xuống cổ [Nhất Linh, Lạnh lùng].

Nhìn từ góc độ "dĩ nhân vi trung", kết cấu pák - mồm, miệng + nặm -  nước, pák -  mồm, miệng + bó - mó nước cho biết mối quan hệ gần gũi giữa người Thái với môi trường nước. Mối quan hệ này phải chăng xuất phát từ văn hóa định cư của người Thái. Dẫu là người Thái Đen hay Thái Trắng thì cộng đồng người Thái thường làm nhà dựng bản trên thổ đất sau nhà là núi, trước nhà là sông, suối. Hành trình đi buôn bán kiếm tiền của chàng trai trong Quam khắp Xống chụ xồn xào -  Truyện thơ "Tiễn dặn người yêu" đều mang dấu ấn của bản làng gắn với tên sông trong mỗi vùng địa lí theo kiểu tên sông trở thành tên hành chính, tên bản:

(12) Khuồn chai chắng pày Tà Bú àu lè

Pày Tà Hè àu phải

Pày Tà Sại àu mák lang pao

(Anh mới đi Tà Bú lấy đĩa

Đi Tà Hè lấy vải

Đi Tà Sại lấy quả cau)

[14, 5]

Theo chú thích địa danh vùng Tây Bắc thì Tà Bú là bến sông Đà, thuộc xã Mường Bú, huyện Mường La, tỉnh Sơn La. Tà Bú cũng như Tà Hè, Tà Sại trước kia đều là nơi buôn bán sầm uất thuộc bến sông Đà nhưng thuộc huyện Thuận Châu, Yên Châu.

Sự gần gũi với "nặm -  nước" của dân tộc Thái còn được thể hiện qua nghề đánh cá. Hoạt động đánh bắt cá của dân tộc Thái diễn ra trên trong không gian rộng (sông, suối) hoặc không gian hẹp (ao) với nhưng công cụ đánh bắt thô sơ:  xà - vợt (miệng hình tam giác bằng tre, dưới có lưới kín dùng để vớt cá); hè - chài; chủm - vó; mong - lưới; ly, chặng (dụng cụ bằng lưới với diện tích rộng để ngăn các dòng chảy tự nhiên). Ví dụ:

          (13) Tạo chắng ban quam hảư tênh mương phăng đì

           Tẳng ly vạy tênh hánh xàm que

           (Tạo mới ban lời cho cả mường nghe rõ

           Dựng ly để trên cả ba dòng)

                                             [15,10]

Xét trên trục ngữ đoạn, từ tẳng - dựng là hoạt động của "mư -  tay" kết hợp với từ biểu hiện dụng cụ đánh cá lyhánh xàm que -  cả ba dòng đã thể hiện hoạt động đánh bắt cá rộng lớn của cư dân Thái xưa. Đây là ngữ liệu được trích từ Quam Kén Kẻo -  Truyện thơ Kén kẻo - một trong những truyện thơ cổ nổi tiếng được lưu truyền trong nội bộ dân tộc Thái. Tạo Bun Khàn làm chủ mường Ka Hạn, kén chọn mãi vẫn chưa được người nào ưng ý. Cuối cùng, tạo mới tìm được nàng Inh Xe nhan sắc tuyệt vời. Tạo Bun Khàn tổ chức một đám cưới linh đình để đón nàng Inh Xe về làm vợ. Tạo rất yêu thương và chiều chuộng vợ. Tạo ban lệnh cho dân mường làm ly tại cả ba dòng sông để bắt cá về cho nàng.

Sự gần gũi với môi trường nước thể hiện đậm đặc trong truyện thơ Xống chụ xồn xào -  Tiễn dặn người yêu. Mọi phương diện của cuộc sống đều có sự hiện diện của nước. Từ nhu cầu sinh nhai, kiếm tiền lấy vợ:

(14) Hè xàm xok chắng lính lông nòng

Mong xen tà chắng lính lông nặm

Chai chắng pày dú hùa hè tọt hè lải

Dú tải hưa tọt hè póng mong mày

(Chài ba "xok" (khoảng cách từ khuỷu tay đến đầu ngón tay dài nhất) mới buông xuống ao

          Lưới muôn mắt mới buông xuống nước

          Anh mới đi về đầu thuyền quăng chài mềm

          Ở lái thuyền quăng chài so lưới chỉ) [14,5]

          Đến lời đánh giá, bình phẩm về giá trị của người con rể:

          (15) Báu đáng tư cup chỉa mương Púa him nặm

          Báu đáng xàn hè nằng hươn kù dú koản

          (Không đáng đội nón giấy mường Púa ven sông

          Không đáng đan chài ngồi nhà ta ở quản)

[14,57]

Động từ lính - buông, tọt -  quăng, xàn - đan miêu tả hoạt động đánh bắt cá trong các biểu thức: lính lông nòng -  buông xuống ao, lính lông nặm - buông xuống nước, tọt hè lải - quăng chài mềm, báu đáng xàn hè -  không đáng đan chài là các "nét nghĩa tiền giả định kết hợp" (là nét nghĩa của từ đòi hỏi những từ kết hợp với nó trong câu phải có nét nghĩa đồng nhất với nó mới cho được những kết hợp bình thường [1,698-699]) của mư - tay cho biết phương tiện lao động, hoạt động sinh tồn của người Thái gắn bó chặt chẽ với môi trường nước.

Dấu vết của nền văn minh nông nghiệp lúa nước của người Thái trong ngữ liệu khảo sát còn được thể hiện ở nét nghĩa tiền giả định kết hợp của tà - mắt, hù -  tai, đằng - mũi, khẻo - răng: khỉ đằng - cứt mũi, khỉ hù -  cứt tai, khỉ khẻo - cứt răng, khỉ tà - cứt mắt. Kinh nghiệm trồng trọt giúp con người ý thức được yếu tố quan trọng giúp cây lúa phát triển là nước và phân. Chẳng thế mà tục ngữ Việt có câu: "Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống". Nhận thức về tầm quan trọng của các yếu tố tham gia vào quá trình canh tác cây lúa phải là kết quả lâu dài gắn bó với nghề nông nghiệp. Các kết hợp khỉ - cứt + hù - tai/ tà - mắt / đằng - mũi trong ngôn ngữ Thái cho thấy ảnh hưởng đậm đặc của tư duy nông nghiệp đối với sự tri nhận về BPCTN. Nhất là trong mối tương quan với những từ trong tiếng Việt như: dỉ mắt, dáy tai, nước mũi, dỉ mũi.

Như vậy, sự gần gũi với "nặm - nước" và "pá pu - rừng núi" của người Thái trong từ biểu hiện BPCTN đã thể hiện văn hóa ứng xử của dân tộc Thái với thế giới tự nhiên.

3. Kết luận sơ bộ

Với thủ pháp phân tích ngữ cảnh và phương pháp phân tích trường hợp được sử dụng khi khảo sát các ngữ liệu trên bậc câu trong tiếng Thái, bài viết bước đầu làm sáng tỏ được đặc điểm tri nhận về cách thức ứng xử của dân tộc Thái với môi trường tự nhiên. Sự gần gũi giữa từ biểu hiện BPCTN với phạm trù "nước", "rừng" bước đầu phản ánh đặc điểm tri nhận về cách thức ứng xử của dân tộc Thái với thế giới tự nhiên. Cuộc sống người Thái luôn dựa vào "pá pu - rừng núi", họ lên rừng tìm thức ăn và khai phá đồi núi thành "hày - nương" để trồng trọt. Cảm xúc của người Thái thường gắn với không gian núi rừng, nương rẫy. Không chỉ vậy, cuộc sống của cư dân Thái còn gắn chặt với các dòng chảy tự nhiên.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đỗ Hữu Châu (2005), Đỗ Hữu Châu tuyển tập, tập 2, Đại cương - Ngữ dụng học - Ngữ pháp văn bản, Nxb Giáo dục.

2. Nguyễn Văn Chiến (2004), Tiến tới xác lập vốn từ vựng văn hóa Việt (nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa), Nxb KHXH.

3. Dirk Geeraerts (2015), Các lí thuyết ngữ nghĩa học từ vựng, Phạm Văn Lam (dịch), Nxb ĐHQG Hà Nội.

4. Hoàng Phê (2010), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng.

5. Đặng Thị Hảo Tâm (2012), Ẩn dụ ý niệm "vàng" trong tiếng Việt nhìn từ góc độ miền nguồn, Tạp chí Ngôn ngữ, số 12, tr. 19 - 26.

6. Nguyễn Đức Tồn (2010), Đặc trưng văn hóa - dân tộc của ngôn ngữ và tư duy, Nxb Từ điển bách khoa.

7. Nguyễn Phương Thái (Chủ nhiệm đề tài) (2014), Đề tài khoa học công nghệ cấp Nhà nước: "Nghiên cứu, xây dựng và phát triển một số tài nguyên và công cụ thiết yếu cho xử lí văn bản tiếng Việt", Mã số: KC.01.20/11-15, Trường Đại học Công nghệ, ĐHQG Hà Nội.

8. Cầm Trọng (2005), Những hiểu biết về người Thái ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia.

 

NGỮ LIỆU KHẢO SÁT

9. Lò Văn Lả (Sưu tầm và dịch) (2011), Làn nọi ỉn khắp - Cháu nhỏ vui hát (Đồng dao Thái), Tài liệu đánh máy cá nhân (chưa xuất bản).

10. Lò Văn Lả (Sưu tầm và dịch) (2013), Quan chiên lang - Lời truyền lại từ xa xưa trong lịch sử ông cha, Tài liệu đánh máy cá nhân (chưa xuất bản).

11. Quam tô lang - Lời kể từ xa xưa (Truyện cổ tích) - Tư liệu điền dã thu thập từ nhiều người Thái cao tuổi tại các bản trong tỉnh Sơn La, gồm 52 truyện.

12. Lời nói hằng ngày của người Thái (Tư liệu điền dã thu thập từ nhiều người Thái cao tuổi tại các bản trong tỉnh Sơn La).

13. Hoàng Trần Nghịch - Tòng Kim Ân (1990), Từ điển Thái - Việt, NXB KHXH.

14. Quam khắp Xống chụ xồn xào -  Truyện thơ "Tiễn dặn người yêu", (1962), Nxb Tây Bắc.

15. Vương Trung (Sưu tầm và dịch) (2011), Quam Kén Kẻo - Truyện thơ Kén kẻo, NXB Lao động

 T. J. Logan Jersey