NGHỆ THUẬT NHÂN CÁCH HÓA TRONG THƠ HAIKU CỦA MATSUO BASHO

 

                                                                                                            ThS. Hà Thị Hải

                                                                                                            Khoa: Ngữ Văn, ĐHTB

1. Mở đầu

            Matsuo Basho là bậc thầy haiku lỗi lạc, người đã hoàn thiện thể thơ haiku độc đáo của xứ sở mặt trời mọc. Thơ haiku của Basho chẳng những nổi tiếng ở Nhật, quen thuộc với mọi người Nhật mà còn nổi tiếng thế giới như một loại thơ độc đáo vô song. Xưa nay, người ta ca tụng thơ haiku của Basho là đỉnh cao của thơ ca Nhật Bản và thơ ca phương Đông không phải chỉ bởi vì nội dung thơ phong phú, thẳm sâu chất Thiền mà còn vì tài năng sáng tạo nghệ thuật hiếm có của ông. Nhờ ông mà thơ haiku mới có vẻ đẹp độc đáo và có sức sống mạnh mẽ nhường ấy. Trong sáng tạo thơ ca, M. Basho thường sử dụng biện pháp nhân cách hóa và đó là một nét đặc sắc trong nghệ thuật ngôn ngữ thơ haiku của ông.

2. Nội dung chính

2.1. Khái niệm nhân cách hóa

            Nhân cách hóa là "gán cho loài vật hoặc vật vô tri hình dáng, tính cách hoặc ngôn ngữ của con người thật" [3, tr. 704]. Nhân cách hóa còn được gọi tắt là nhân hóa, là một dạng đặc biệt của ẩn dụ, chuyển những đặc điểm của con người sang những đối tượng không phải là con người như nhận định của giáo sư Đinh Trọng Lạc: "Nhân cách hóa là một biến thể của ẩn dụ, trong đó người ta lấy những từ ngữ biểu thị thuộc tính, dấu hiệu của con người để biểu thị thuộc tính, dấu hiệu của đối tượng không phải là con người, nhằm làm cho đối tượng được miêu tả trở nên gần gũi, dễ hiểu hơn, đồng thời làm cho người nói có khả năng bày tỏ kín đáo tâm tư, thái độ của mình" [2, tr. 63]. Nhân hóa được sử dụng rộng rãi trong ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày và trong ngôn từ nghệ thuật. Ví dụ: Trong sinh hoạt hàng ngày ta vẫn thường nghe nói: Điếu cày kêu sòng sọc, đá đổ mồ hôi… Trong ngôn từ nghệ thuật, các nhà văn, nhà thơ vẫn hay sử dụng nhân hóa: “Tre xung phong vào xe tăng đại bác, tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín…” (Thép mới). Yakamochi, nhà thơ lỗi lạc của Nhật Bản đã nhiều lần sử dụng biện pháp nhân hóa trong thơ ông:

                                    Chim cu ơi

                                    ta quên trồng cây hạnh

                                    cho em đến hót rồi

                                    giờ đây hối tiếc

                                    chẳng làm sao nguôi.

                                                            (Bài 4172 - Manyoshu)

Các nhà nghiên cứu văn học và bạn đọc thường thông qua những biểu hiện nhân cách hóa của đời sống thiên nhiên để phát hiện diện mạo, những vận động của thế giới tâm hồn và cảm xúc của con người. Ví dụ:

                                                Ngoài rèm thước chẳng mách tin

                                    Trong rèm dường có bóng đèn biết chăng

                                                Đèn có biết dường bằng chẳng biết

                                    Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi....

                                                                                    (Chinh phụ ngâm - Đặng Trần Côn)

            Trong đoạn thơ trên, nhờ biện pháp nhân cách hóa của tác giả, những sự vật vô tri như thước, đèn như đồng cảm với tâm hồn người chinh phụ, chúng có hồn, có tình như con người.

2.2. Nghệ thuật nhân cách hóa trong thơ haiku của Matsuo Basho

            Là một nhà thơ haiku lỗi lạc, trong khá nhiều bài thơ của mình, Basho đã sử dụng biện pháp nhân hóa làm tăng thêm sức biểu cảm và vẻ đẹp của bài thơ, qua đó kín đáo bộc lộ tâm trạng, cảm xúc của tác giả. Ví dụ:

                                    Mùa xuân ra đi

                                    tiếng chim thổn thức

                                    mắt cá lệ đầy.

            Trong hành trình khám phá phương Bắc, Basho cùng các bạn thân chia tay sau khi đi chung thuyền một vài dặm. Ông ghi lại cảm xúc biệt li đó trong bài thơ haiku này. Trong thơ Basho, vạn vật và con người nhiều khi bình đẳng tuyệt đối. Thưởng thức những bài thơ viết về chim, cá, hạc, châu chấu... đến ánh trăng, mưa đông, tuyết rơi, dòng sông... người đọc đều có thể liên tưởng tương tự đến đời sống và tâm hồn con người. Các nhà nghiên cứu cho rằng, đó là nguyên lí bình đẳng, liên thông trong thơ haiku Basho. Do vậy, hình tượng thơ của Basho vừa phong phú, vừa giản dị, vừa có sức gợi to lớn đối với hứng thú cảm thụ của độc giả. Basho đã sử dụng biện pháp nhân hóa, gắn cho chim, cá những cảm xúc, đặc tính của con người. Vạn vật cũng nức nở, đau khổ, tiếc nuối trước nỗi buồn biệt li. Basho đã nhân hóa thiên nhiên, tạo vật, mượn đời sống thiên nhiên để nói hộ cho tình cảm con người. Biện pháp nhân hóa đã làm nổi bật nỗi buồn chia li của Basho khi chia tay những người bạn thân thiết của ông.

            Thích cái gì và không thích cái gì vốn là đặc tính của con người nhưng Basho đã đem đặc tính ấy đặt vào sự vật trong bài thơ haiku sau:

                                    Cây sồi

                                    không thích

                                    mùa hoa đào nở.

            Cây sồi chỉ có màu xanh của lá và xù xì thân mấu mà không có được hương sắc rực rỡ như hoa đào. Rất có thể nó sợ rằng hoa đào nở sẽ thu hút vạn vật và con người đến với hoa, nó sẽ cô đơn, bị bỏ quên... nên nó không thích mùa hoa đào nở. Nhân hóa cây sồi, làm cho cây có tình cảm như con người, Basho đã mượn đời sống của vạn vật, của cỏ cây hoa lá quanh ta để khắc sâu thêm nét tâm lí sợ cô đơn, sợ bị lãng quên, bị bỏ rơi của bản thân con người. Bài thơ nhỏ nhắn, xinh xắn mà sâu sắc là vậy.

            Basho gắn cho cỏ cây những trạng thái của con người như "đãng trí", "mệt mỏi"... để miêu tả dáng vẻ, thần thái của cây, giúp người đọc dễ dàng hình dung ra sự vật được miêu tả:

                                    Cây thường vi đãng trí

                                    bị chôn trong đám rêu

                                    tiếng cầu Phật.

            và

                                    Cây sợi tơ

                                    các lá

                                    mệt mỏi vì ánh trăng.

            Đặc biệt, ông thường hay miêu tả hình ảnh cây cối, vũ trụ trong trạng thái "ngủ mơ màng", "lơ mơ ngủ", "ngái ngủ"... vốn là những trạng thái ngủ của con người:

                                    Khóm liễu ngủ mơ màng

                                    tôi cứ nghĩ họa mi

                                    là linh hồn của nó.

            hay:

                                    Vì đêm ngắn

                                    cây bìm bìm

                                    lơ mơ ngủ.

            và

                                    Gật gù trên lưng ngựa

                                    tít trên cao trăng ngái ngủ

                                    mờ mờ như khói trà buổi sớm.

            Không chỉ gắn cho vạn vật tình cảm, trạng thái của con người, Basho còn biến vạn vật trong tự nhiên thành chủ thể hoạt động như con người:

                                    Đỉnh Arashi

                                    những ngày tháng sáu

                                    đặt mây lên mình.

            hay:

                                    Cây liễu xanh với tay

                                    chạm vào làn nước đục

                                    thủy triều buổi chiều đang lên.

           

                                    Trên bờ

                                    một cành liễu cúi xuống

                                    cố chạm đất.

            Núi trong thơ Basho cũng biết tự điểm trang cho mình thêm phần đẹp đẽ. Những đám mây đặt quanh đỉnh núi tạo nên vẻ đẹp huyền ảo, lãng mạn của không gian vũ trụ. Miêu tả cây liễu biết "với tay", "cúi xuống" cố chạm vào đất và nước không chỉ diễn tả tinh tế vẻ đẹp mềm mại, buông rủ xuống của cây liễu mà còn thể hiện khát khao được gần gũi, gắn bó, giao cảm với đời của vạn vật. 

            Basho coi thiên nhiên như con người để có thể kết bạn, để sẻ chia tâm sự, nỗi niềm:

                                    Dậy đi thôi

                                    cùng ta kết bạn

                                    cánh bướm ngủ say ơi!

            và

                                    Trao cho cây liễu

                                    mọi điều ước vọng

                                    mọi điều chán chê.

            Mơ ước, khát vọng, nỗi buồn, đau khổ, chán chường... tất cả đều có thể san sẻ được với thiên nhiên. Thiên nhiên có thể làm bạn với con người, làm vơi bớt nỗi niềm tâm sự của con người.

            Basho thường trò chuyện với vạn vật, cỏ cây như với con người:

                                    Này bướm, này bướm

                                    ta muốn hỏi ngươi

                                    về thơ Trung Quốc.

            và

                                    Nở nhanh lên

                                    hội hoa đang đến gần

                                    hoa cúc.         

            Nghệ thuật nhân hóa trong thơ haiku Basho còn biểu hiện ở cách xưng hô. Ông thường xưng "ta" và gọi các hiện tượng thiên nhiên như hoa, bướm, chim... là "em", "anh bạn" hay "ngươi", trong đó cách xưng hô "ta - em" xuất hiện với tần số lớn nhất:

                                    Năm dặm mỗi ngày

                                    ta đi tìm em đấy

                                    hoa đào yêu dấu ơi.

            hoặc:

                                    Con bướm

                                    ngủ trên chén hoa

                                    anh bạn họa mi đừng bắt nó.

            và

                                    Này bướm, này bướm

                                    ta muốn hỏi ngươi

                                    về thơ Trung Quốc.

            Chúng ta biết rằng thành phần lời thơ trữ tình bao gồm cả tiếng hô, tiếng chào, câu hỏi, đối đáp... Nó bao gồm sự xuất hiện thường xuyên của chủ thể lời nói ("tôi", "ta"...) và gắn với nó là cái giọng điệu cụ thể mang nội dung tâm lí cá thể. Cách xưng hô "ta - em" như trên đã đồng nhất nhà thơ với đối tượng miêu tả, biểu lộ tình yêu thương vô bờ của tác giả với thiên nhiên, cảnh vật. Cách xưng hô như vậy làm cho giọng điệu trong bài thơ trở nên nhẹ nhàng, tha thiết, tràn đầy tình yêu thương, gắn bó của con người với thiên nhiên. Đây cũng là cách xưng hô thường gặp trong thơ tanka Nhật Bản. Ví dụ:

                                    Ôi chim chidori

                                    trên sóng chiều Ômi

                                    nghe tiếng em hát

                                    mà lòng ta đau

                                    nhớ bao nhiêu điều.

(Hitomaro)

            Basho thường gọi cỏ cây, hoa lá theo cách gọi của con người:

                                    Hoa đinh hương ơi

                                    những giọt sương sáng

                                    em đừng để rơi.

            và

                                    Hoa triêu nhan ơi

                                    cả em rồi cũng

                                    chẳng là bạn tôi.

            Bên cạnh Basho, nhà thơ haiku lỗi lạc Yosa Buson cũng sử dụng biện pháp nhân hóa làm cho thiên nhiên trong thơ ông đầy sức sống, chan chứa tình cảm như con người:

                                    Khuya, con quạ

                                    chợt kêu lên

                                    vì nhớ mùa thu.

            hay:

                                    Mùa xuân, dòng sông

                                    chờ những bông hoa đang trôi

                                    dâng Phật.

            Con quạ biết nhớ mùa thu, dòng sông biết chờ đợi hoa, trăng đi thăm hỏi người... Những hình ảnh nhân hóa ấy làm cho thơ Buson có hồn, bay bổng và tràn đầy cảm xúc.

            Yotsuna cũng coi thiên nhiên như con người:

                                    Ai kia không rỗi

                                    nên lỗi hẹn rồi

                                    nhưng chim cu ơi

                                    em vẫn đến

                                    bởi không quên lời.

                                                            (Bài 1499 – Manyoshu)

            Khi miêu tả thiên nhiên, thi tiên Lí Bạch cũng thường xuyên sử dụng biện pháp nhân hóa. Ông thổi hồn vào trăng, sương, gió, núi, cây cối, chim chóc... làm cho thiên nhiên trong thơ ông như những người bạn có thể chia sẻ nỗi buồn, làm vơi bớt nỗi cô quạnh của con người:  Tạm cùng trăng với bóng

                                    Vui cho trọn ngày xuân

                                    Ta hát, trăng bâng khuâng

                                    Ta múa, bóng loạng choạng...

                                                            (Nguyệt hạ độc chước)

                                    Chim bầy bay vút hết

                                    Mây lẻ đi một mình

                                    Nhìn nhau không thấy chán

                                    Chỉ có núi Kính Đình.

                                                            (Độc tọa Kính Đình sơn)

            Như vậy, trong thơ haiku của Basho, việc sử dụng nghệ thuật nhân hóa đã làm tăng thêm giá trị biểu cảm của thơ ông và nhân cách hóa là biện pháp nghệ thuật thường được các nhà thơ sử dụng.

3. Kết luận

            Với việc đem những đặc tính của con người gán cho sự vật, biến sự vật thành chủ thể hoạt động như con người, coi thiên nhiên như người bạn tâm tình và lối xưng hô với thiên nhiên nhẹ nhàng, thân thiết "ta - em"... Basho đã làm sự vật được miêu tả trong thơ haiku của ông tràn đầy sức sống, có hồn, có tình, mang lại hiệu quả thẩm mĩ và sức hấp dẫn lớn đối với bạn đọc mọi thế hệ. Trong thơ haiku của Basho, việc sử dụng biện pháp nhân hóa đã làm sự sống ở thế giới tự nhiên xung quanh bị cuốn vào và trở nên đồng cảm với đời sống tâm hồn của nhân vật trữ tình. Nghệ thuật nhân cách hóa trong thơ Basho nảy sinh từ trí tưởng tượng bay bổng, lãng mạn của nhà thơ đã đưa tình cảm sâu lắng và nguyện vọng của nhà thơ hòa nhập làm một với đối tượng miêu tả, khiến cho thơ ông phong phú, giàu sức quyến rũ và lôi cuốn lòng người.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Nhật Chiêu (1994), Basho và thơ haiku, NXB Văn học, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Đinh Trọng Lạc (2008), 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội.

[3] Hoàng Phê (chủ biên) (1992), Từ điển tiếng Việt, Trung tâm từ điển ngôn ngữ, Hà Nội.

[4] Thái Bá Tân (2010), "800 bài thơ của M. Basho", http://thaibatan.com.

[5] Ngô Minh Thủy (2003), Nhật Bản – Đất nước, con người, văn học, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội.

[6] Nguyễn Nam Trân (2011), Tổng quan lịch sử văn học Nhật Bản, NXB Giáo dục Việt Nam, Vĩnh Phúc.

[7] Trần Đình Sử (2001), Những thế giới nghệ thuật thơ, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội.

[8] Trần Thức Việt (2011), Văn học Đông Nam Á và Đông Bắc Á, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội.

 

 

 T. J. Logan Jersey