ẨM THỰC TRONG VĂN HÓA, VĂN HỌC TRUNG QUỐC

 

Nguyễn Hạnh Vân

1.    Mở đầu

Trong nền văn hóa Trung Quốc, các món ăn được chế biến cầu kì tinh xảo, màu sắc hương vị tinh tế đã đưa đất nước này đi khắp mọi miền trên thế giới.  có rất nhiều người nước ngoài yêu mến người Trung Quốc bắt đầu từ việc yêu thích những món ăn của đất nước này. Ẩm thực không chỉ ở trong nền văn hóa Trung Quốc mà còn xuất hiện rất nhiều ở trong văn học.

Để hiểu rõ hơn về bài viết, trước hết chúng ta cần nắm được khái niệm về ẩm thực. 飲食 ẩm thực theo nghĩa Hán Việt thì “ẩm” nghĩa là “uống”, “thực” nghĩa là ăn[1], nghĩa hoàn chỉnh là ăn uống, là một hệ thống đặc biệt về quan điểm truyền thống và thực hành nấu ăn, nghệ thuật bếp núc, nghệ thuật chế biến thức ăn, thường gắn liền với một nền văn hóa cụ thể. Nó thường được đặt tên theo vùng hoặc nền văn hóa hiện hành. Một món ăn chủ yếu chịu ảnh hưởng của các thành phần có sẵn tại địa phương hoặc thông qua thương mại, buôn bán trao đổi. Những thực phẩm mang màu sắc tôn giáo cũng có những ảnh hưởng rất lớn tới ẩm thực. Mở rộng ra thì ẩm thực có nghĩa là một nền văn hóa ăn uống của một dân tộc, đã trở thành một tập tục, thói quen. Ẩm thực không chỉ nói về “văn hóa vật chất” mà còn nói về cả mặt “văn hóa tinh thần”.

2.    Ẩm thực trong văn hóa Trung Quốc

Ẩm thực trong văn hóa, cuộc sống của người Trung Quốc dường như có vị trí quan trọng. Khi bạn đến chơi nhà, mời khách bữa cơm là cách tiếp đãi nhiệt tình nhất của họ. Khi gặp việc ma chay cưới hỏi, bất kể chuyện vui chuyện buồn, thì mời cơm là việc không thể thiếu được. Năm hết tết đến, khi chúng ta đến nhà người thân, bạn bè chúc tết là ăn, những món quà tặng nhau cũng là đồ ăn thức uống. Tiết Đoan Ngọ, Tiết Trung thu, sinh nhật, bạn bè gặp nhau cũng là ăn, những món quà tặng nhau cũng là đồ ăn. Chỉ cần có lí do là nhất định phải ăn, ăn xong là xong, không cần cái gì nữa cả. Không những người sống cũng phải ăn, mà người đã mất cũng phải ăn, cho nên vào Tiết Thanh Minh người ta thường bày tiệc rượu trước mộ người thân, đó là tục lệ của rất nhiều nơi ở Trung Quốc.

2.1 Cách hiểu về chữ cật (ăn) trong tiếng Hán

Đối với cách nhìn về chữ “”(ăn) được phản ánh tự nhiên trong ngôn ngữ. Trong tiếng Hán ý nghĩa chữ “ ” (ăn) thì rất phức tạp rất nhiều trường hợp đều dùng chữ “” với nghĩa là ăn, nghĩa tốt nghĩa xấu đều có. Ví dụ, khi chịu tổn thất thì gọi là “  ” (chịu thiệt), khi có những suy nghĩ viển vông là “   ”(đũa mốc mà chòi mâm son), được mọi người chào đón có thể gọi là “ ” (được mọi người chào đón), người ăn bám gọi là “ ”  ăn bám). Khi nói về nghề nghiệp cũng thường dùng “” (ăn) để biểu đạt, làm công việc gì thì dựa vào nghề đó để gọi tên, “ ” (làm cầu thủ), “ ” (làm giáo viên), có thể gọi như vậy, có công việc thì gọi là ăn cơm, công việc không ổn định bấp bênh thì gọi là “ 饭吃” (kiếm bát cơm manh áo), thất nghiệp thì gọi là “ ” (mất bát cơm ).

2.2 Cách bày biện các món ăn của người Trung Quốc

Cách bày biện các món ăn Trung Quốc cũng rất độc đáo. Đối với người nước ngoài mà nói đa phần mỗi người có một suất ăn riêng, của ai người đấy ăn, thể hiện sự độc lập của người phương Tây. Trong mắt rất nhiều người Trung Quốc, như vậy là không thân thiết, thiếu đi sự quan tâm, mà còn rất lãng phí. Thua xa người Trung Quốc khi mà mười hay mười hai người Trung Quốc cùng ăn một mâm cơm, dùng chung một bát canh. Trong mâm cơm mọi người cùng cầm đũa gắp thức ăn nói cười vui vẻ, không khí rất là chan hòa ấm cúng.

Như vậy người phương Tây sẽ đặt ra câu hỏi mọi người cùng ăn một đĩa thức ăn, mà cái bàn xa như vậy, liệu có người không gắp được hay không? Trong mâm cơm của Trung Quốc chúng ta có thể thấy họ giải quyết việc này một cách hợp lí, đó là việc mọi người thường nhường thức ăn cho nhau. Có hai cách là họ mời khách gắp trước để khách ăn những món ngon, hay là chủ động gắp thức ăn cho khách.

Thực ra mời như thế nào đi nữa thì ý nghĩa của nó cũng giống nhau mà thôi. Khi có món ngon thì chủ nhà ăn ít đi hoặc không ăn, với ý nghĩa nhường cho khách ăn nhiều hơn. Đồng thời chủ và khách đều hiểu được ý của nhau, người khách biết rằng người chủ nhường món ngon cho mình để nhường lại. Để khắc phục tình cảnh khó khăn này thì tốt nhất là người chủ nhà gắp người khách và người khách gắp cho người chủ nhà, như vậy vừa không mất thì giờ mà bữa cơm lại thể hiện tình cảm thân thiết.

Ngay từ những việc nhỏ như trên chúng ta có thể nhìn thấy được tình cảm đạo đức tốt đẹp của người Phương Đông xưa, người Trung Quốc xưa nhất định là đã bỏ nhiều thời gian để nghiên cứu vấn đề ăn cái gì và ăn như thế nào?

3.    Ẩm thực trong văn học Trung Quốc

Trong văn học Kinh thi là tập thơ đầu tiên của Trung Quốc, sáng tác trong khoảng thời gian hơn 500 năm và cách đây 2000 năm, có bài Thất nguyệt ở phần Quốc phong đã có nhắc đến ẩm thực.

                        Lục nguyệt thực uất cập úc,    

                        Thất nguyệt phanh quỳ cập thực.

                        Bát nguyệt bác táo,

                        Thập nguyệt hoạch đao,

                        Vi thủ xuân tửu,

                        Dĩ giới my thọ.          

                        Thất nguyệt thực qua,

                        Bát nguyệt đoạn hồ,

                        Cửu nguyệt thúc thủ.

                        Thái đồ tân hư,          

                        Thực ngã nông phu.

(Trích Hợp tuyển văn học Châu Á, tập 1, Văn học Trung Quốc, NXB ĐHQG HN, tr.55)

Dịch nghĩa là “Tháng sáu ăn quả lê và quả mận, tháng bảy nấu quì, nấu đậu. Tháng tám đập táo, tháng mười gặt lúa, nấu rượu mùa xuân. Tháng bảy ăn dưa, tháng tám hái bầu, tháng chín hái mè. Hái các thứ rau đắng mà ăn, phải chặt cây có mùi hôi làm củi, bữa cơm của người nông phu chỉ có thế.”

Nếu như trong tiếng Trung hiện đại sử dụng từ “” cật là ăn, thì trong văn học Trung Quốc xưa lại sử dụng từ “” thực làm động từ ăn. Đoạn trích diễn tả cuộc sống vất vả của nhân dân lao động lúc thu hoạch ngày mùa. Bữa cơm của người nông dân Trung Quốc xưa rất đạm bạc, đơn sơ.

Lí Bạch là một trong những nhà thơ danh tiếng nhất thời Thịnh Đường, được người đời sau tôn làm Thi tiên. Thơ Lí Bạch phóng khoáng, vấn vương hoài cổ. Nhà thơ hòa cùng thú vui tao nhã là uống rượu ngắm trăng trong bài thơ Nguyệt hạ độc chước.

                       Hoa gian nhất hồ tửu,

                       Độc chước vô tương thân.

                       Cử bôi yêu minh nguyệt,

                       Đối ảnh thành tam nhân.

                       Nguyệt ký bất giải ẩm,

                            Ảnh đồ tùy ngã thân.

                            Tạm bạn nguyệt tương ảnh,

                            Hành lạc tu cập xuân.

                            Ngã ca nguyệt bồi hồi;

                            Ngã vũ ảnh linh loạn.

                            Tỉnh thì đồng giao hoan.

( Hợp tuyển văn học Châu Á, tập 1, Văn học Trung Quốc, NXB ĐHQG HN, tr.182)

Dịch nghĩa

                     Trong hoa một bình rượu,

                     Một mình rót uống, không ai là bạn thân.

                     Nâng chén mời trăng sáng,

                     Cùng bóng mình, hóa ba người.

                     Trăng đã không biết uống rượu,

                     Bóng chỉ theo thân mình.

                     Tạm làm bạn với trăng và bóng,

                     Hưởng niềm vui cần phải kịp ngày xuân.

                     Ta hát, trăng bồi hồi không đi,

                     Ta múa, bóng bập bùng quay cuồng.

                     Lúc tỉnh cùng nhau vui,

                     Sau khi say, lại cùng phân tán,

                     Tình chơi vu vơ thắt chặt mãi mãi,

                     Hẹn hò nhau trên cao vút sông Ngân!

Ở đây có thêm một từ để hiểu về rót rượu, đó là “độc chước”, nhà thơ rót rượu một mình để uống, không bạn bè, không người thân, rất đỗi cô độc. Nhưng khi cúi xuống chợt nhận ra có Ta - Trăng - Bóng. Trăng lại không biết uống rượu được thể hiện qua từ “bất giải ẩm”. Bài thơ thể hiện cuộc uống rượu và nỗi lòng của tác giả. Cứ như thế ẩm thực đi vào trong thơ, gần gũi với đời sống thường ngày.

4. Kết luận

Ẩm thực là chiếc gương soi chân thực cho nền văn hóa nói chung và văn học nói riêng của mỗi quốc gia. Ẩm thực gắn bó và phát triển cùng mỗi bước đi của quốc gia đó. Trên mỗi chặng đường ẩm thực luôn xuất hiện đa dạng, phong phú, muôn hình, muôn vẻ. Bài viết này góp phần nhỏ bé của mình, giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về vị trí, vai trò của ẩm thực Trung Quốc thông qua nền văn hóa, văn học.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

          [1] Thiều Chửu, 2009, Hán Việt tự điển, Nxb Thanh Niên.

[2] Lưu Đức Trung (Chủ biên), 1999, Hợp tuyển Văn học Châu Á, tập 1, Văn học Trung Quốc, NXB ĐHQG, Hà Nội.

 

                    

 T. J. Logan Jersey