PHÙ THỦY TRONG TRUYỆN NGẮN ISAAC BASHEVIS SINGER

 

TS. Vũ Minh Đức

Khoa Ngữ Văn –Đại học Tây Bắc

 

Truyện ngắn I.B. Singer sinh thành trên mảnh vườn văn học dân gian Do Thái, nơi đầy ắp các câu chuyện li kì, huyền ảo về ma quỷ. Bởi thế, một cách tự nhiên nhất, những nhân vật ma quỷ trở thành phần hồn vía trong các sáng tác của ông. David G. Roskies khẳng định: “ông chưa bao giờ Do Thái hơn khi viết về ma quỷ; chưa bao giờ khôi hà, trẻ trung và vui vẻ hơn khi viết về một hồn ma”. Từ góc nhìn từ sự, I.B. Singer sử dụng người kể chuyện ma quỷ (The demon as storyteller) trong truyện ngắn của mình để tạo nên sắc màu Do Thái rất đặc trưng: “Không gì Do Thái hơn một hồn ma Do Thái. Lorelie tóc vàng ở Rhine, sheydim tóc đen từ ngôi nhà Do Thái, từ từ bước ra sau bếp lò vào một buổi chiều Sabath, khi những người trong gia đình đang ở lễ cầu nguyện. Tức lúc sinh ra tới lúc qua đời, một người Do Thái phải đấu tranh với những sheydim này, những kẻ ăn uống giống con người, với ruhin hồn lìa khỏi xác, và với lilin, kẻ đã ám ảnh hình hài con người, nhưng cũng có cánh. Ketev nguy hiểm nhất vào buổi chiều và mùa hè nóng bức, khi Lilith, vợ của Samael, làm hại trẻ sợ sinh và các bà mẹ”.

Vì sao phù thủy thường gắn liền với phụ nữ mà không phải nam giới? Đa số là mụ phù thủy mà ít xuất hiện lão phù thủy?

Theo cách lí giải của Kinh dịch: Con gái út được biểu thị bằng quẻ Đoài (兌), con gái giữa được biểu thị bởi quẻ Ly (離), con gái lớn biểu thị bằng quẻ Tốn (巽), nhưng chỉ có người đàn bà lớn tuổi (Thái âm) mới được biểu thị bởi quẻ Khôn (坤). Quẻ Khôn là quẻ thuần âm. Cực âm đại diện cho thế lực âm, tà, và thâm sâu huyền bí nhất được dùng để mô tả người thay thế cho các thế lực âm tà nhất trong thế giới huyền linh. Chỉ có âm lực cao độ mới dẫn đến sự độc ác, bạo lực, xảo quyệt. Người xưa mượn các nguyên tố biểu thị âm lực để gán cho họ cái khả năng tà vạy, trược ác nhằm phục vụ và giải thích cho một khuynh hướng cổ. 

Từ góc nhìn Phân tâm học, C.G. Jung cho rằng phù thủy chính là sự phóng chiếu của cái anima nam tính, “nữ phù thủy là bản sao giống cái của kẻ chịu tội thay, họ chuyển vào đó những yếu tố tăm tối của những xung năng trong con người họ” [1,742]. Ông cho rằng: “Phù thủy chỉ là một biểu tượng của những năng lượng tạo sinh có tính bản năng vô kỉ luật, không được thuần hóa, và những năng lượng ấy có thể tác động đi ngược với lợi ích của cái tôi, của gia đình, của thị tộc. Phù thủy là người nhận đảm đương những sức mạnh đen tối của vô thức, biết cách sử dụng sức mạnh đó, do vậy đảm bảo cho mình những quyền năng đối với những người khác” [1,743].

Trong số các truyện ngắn của I.B. Singer được kết nối với cổ mẫu (nữ)/ (mụ) phù thủy (witch), ta phải kể tới Cunegunde, Cái chết của Methuselah, Phù thủy, Henne lửa. Sức mạnh hắc ám không phải là điều gì vô cùng thần bí và kì quái, trong Hene lửa, sức mạnh ấy đơn giản đến từ lời nói. Khởi thủy là lời, bởi vậy, cả khi chưa hành động, chỉ cần con người nói ra thì nó cũng trở thành hành động. Motiekhe trong Khổng lồ và Tí hon trong một lần tức giận, cô đã buông lời xúc phạm tới Motie - người chồng tí hon của mình, bà chế giễu hình hài nhỏ bé của ông. Motie quyết định sẽ kiếm cho cô một người chồng thật to lớn, để  anh xứng đôi với cô khi dạo phố. Moitekhe thực tình không mong muốn có thêm người chồng nào khác trừ ông, bởi tình cảm cô dành cho Motie thật lớn lao, nó vừa là tình vợ chồng, vừa là tình mẫu tử. Nhưng những lời cô nói ra trong lúc nóng giận tưởng vô hại, trái lại nó khứa vào tim tim chồng cô những nỗi đau không sao vá lành. Henne trong Henne lửa cũng là người đàn bà ác khẩu như Motie. Henne là người phụ nữ có cách cư xử kì dị với chồng và bốn đứa con gái. Tất cả đều cho Henne là người đàn bà ngập trong tội lỗi nên họ đã đặt cho bà biệt danh Henne Fire. Vào một buổi tối mùa đông, Kopel người đàn ông hàng xóm nhìn thấy ngọn Lửa bốc cháy ở ngôi nhà của người thợ giày bên kia đường. Đó không phải là Lửa bình thường. Cái mà ông ta trông thấy chỉ là ảo ảnh. Lửa bốc cháy từ ngôi nhà của Henne. Lửa chờn vờn bay lượn như ma quỷ: “Những ngọn lửa nhỏ bay quanh như những con chim. Váy ngủ của Henne đang bốc cháy. Kopel giựt chiếc váy khỏi người bà và bà đứng đó trần truồng như ngày bà chào đời” [3,140]. Mọi người xa lánh Henne vì không ai muốn gánh chịu những hậu quả do tội lỗi của bà gây ra. Trong lúc bà tới gặp giáo sĩ, ngôi nhà của bà đã bị bốc cháy trước sự bất lực của lính cứu hỏa. Những lời nguyền rủa của Henne đối với chồng, con và những người hàng xóm lập tức hiệu nghiệm, mang lại rắc rối và hoạn nạn. Henne chết bởi chính lời nói của mình, những ngôn từ mang sức mạnh hủy diệt của Lửa. Những ngẫu nhiên và màu sắc thần bí được I.B. Singer sử dụng tạo nên nhiều lớp lang cho câu chuyện. Từ những ngẫu nhiên ấy, nhà văn đặt ra vấn đề về sức mạnh của ngôn từ – khởi thủy là lời (logos). Lời nói cũng có khả năng làm tổn thương con người, “lời nói đọi máu”. Đồng thời, ngôn từ cũng có thể giết chết người nói khi họ không làm chủ được nó. Không những thế, thông qua hình tượng nhân vật Henne, kẻ dùng lời như một phương thức “gây tội”, I.B. Singer đặt ra vấn đề “phạm tội trong tâm tưởng”, sự chống lại Chúa trong tâm tưởng chứ không nhất thiết được hiện thực hóa thông qua hành động cụ thể. Lửa cháy ở bên ngoài là hình ảnh được “phóng lớn” và “rửa hình” từ bức tâm ảnh được vây thắt chằng chịt bởi những cấm đoán khác. Vô thức là Lửa, là khao khát được nổi loạn và vi phạm lời răn của Chúa.

Trong văn học phương tây, nữ phù thủy trở thành hình tượng nhân vật phổ biến trong thế giới truyện cổ tích, thường quen gọi là mụ phù thủy. Đó là những mụ già xấu xí, khó tính, độc ác, khôn ngoan, sống trong ngôi nhà biệt lập với mọi người (ngôi nhà chân gà ma quái), thường ăn thịt trẻ con. Để phát huy sức mạnh hủy diệt, các phù thủy thường có phép thuật và biết làm bỏ bùa để hãm hại kẻ khác. Vật dụng quen thuộc của phù thủy là cây chổi biết bay. Đặc biệt, phù thủy thường hay nguyền rủa (curse)/ tiên tri tai họa giáng xuống cộng đồng. Cunegunde trong truyện ngắn cùng tên vốn là một bé gái mồ côi đáng thương, sống cùng anh chị. Nhưng do chính cuộc sống xô đẩy, dồn ép, để tự bảo vệ mình Cunegunde đã trở thành phù thủy. Mở đầu tác phẩm, Cunegunde hiện lên với hình dạng xấu xí, ma quái: “Nhỏ và mập, mụ có mắt và mũi to như mắt và mõm chó bun, cằm rộng” [2,259], tóc bết và xoắn lại với nhau như những chiếc sừng gớm ghiếc, đi chân đất và mặc quần áo vá. Cũng như mọi phù thủy, Cunegunde sống ẩn mình ở túp lều giữa đầm lấy trong rừng sâu – không gian gắn liền với cái chết, tội ác và cả sự ruồng bỏ. Không chỉ người làng cấm con cái họ không được phép bén bảng hay đi qua túp lều của “con rắn độc Cunegunde” mà ngay cả những con vật cũng xa lánh mụ. Chim làm tổ trên mái nhà khác nhưng tuyệt nhiên không ai nghe thấy tiếng chim hót trên mái lều của mụ.

Không còn niềm tin ở sự che chở và lòng thương xót của Chúa, bởi Cunegunde chịu vô vàn ức hiếp và đau khổ, tất cả mọi thứ như chống lại cô, người ta đánh cô tàn bạo, các loài vật cáo, sói, chồn, chó hoang…đuổi theo. Sau sự kiện bị một mụ già đánh bất tỉnh trên đồng cỏ, Cunegunde đáng thương và ngoan đạo quyết học các phép thuật bảo vệ chính mình. Những tấm bùa ma thuật được mụ làm ra từ việc pha chế rất từ rất nhiều các độc tố và các vật dơ bẩn: “Những bà già vác cuốc ra đồng không phải để bới khoai mà là đào rễ cây và cỏ dại phục vụ cho ma thuật của mụ. Có một người bào chế trong lếu của mụ: những điều nhơ bẩn của quỷ và nọc rắn, sâu bắp cải, dây lây nhây cùng với một người đàn bà đã bị treo cổ” [2,260]. Thức ăn của phù thủy không phải là ra củ mà thường là thịt động vật, những thứ người dân ghê tởm thì với bà lại rất cuốn hút: thịt chó, thịt mèo, và cả thịt chuột chết trên cánh đồng. Những lời nguyền của của Cunegunde ban đầu là hành động bản năng mang tính tự vệ khi bị chế nhao, sau chuyển thành bản năng xâm hại, giết chóc. Những người thuộc thế hệ của mụ chẳng còn ai, mụ đã già và không ai chế nhạo nữa, tuy nhiên lúc này mụ đã quen nguyền rủa. Lúc nào mụ cũng lầm bầm: “Chết chóc và tai họa, lửa và dịch bệnh, lưỡi lở loét và phỏng rộp”. Song mọi tai họa đến với dân làng không phải đều xuất phát lời nguyền rủa của Cunegunde, đôi khi là hậu quả tất yếu của đời sống con người gây ra mà Cunegunde chỉ là người tiên tri nói trước cho mọi người biết điều gì sẽ xảy ra và vào thời gian nào. Trong không khi oi bức, hôi hám bốc lên từ đầm lầy, trận cuồng phong trước bão, Cunegunde ngửi thấy và biết được: “Đây không phải là cơn bão tai vạ, nó đã tích tụ trong nhiều tháng. Giữa những người nông dân trong làng xảy ra tham nhũng, bất công. Cunegunde cũng được được truyền về các yêu tinh, ma sói, và các loài gian ác khác. Những đứa con hoang không có cha. Các góa phụ loạn luân với con cái họ, nhiều người chăn gia súc thông dâm cùng bò, ngựa, lợn. Một ngọn đèn lập lòe trên đầm lầy vào ban đêm. Xương người bị đào lên bới những người thu hoạch khoai tây”. Cuối cùng, Cunegunde bị tiêu diệt bởi một hồn ma Stoch, chồng chưa cưới của Yanka, người mà Cunegunde cho thuốc độc nọc rắn có tác dụng quên đi câu chuyện tình đau buồn. Nhưng thuốc độc của mụ đã giết hại Yanka. Uất hận vì hành động độc ác của mụ phù phủy gây nên cảnh âm dương cách biệt, Yanka túm lấy mụ mà đập, kéo lê mụ trên sàn rồi giẫm chân lên bụng mụ. Cunegunde chết một cách thê thảm, mụ thấy mình đang bay trên không trung rồi rơi xuống địa ngục, mụ thấy xác người treo lơ lửng, những kẻ thù của mụ liên kết với nhau để trả thù mụ. Trong đau đớn tuyệt vọng, với những lời sau cùng, Cunegunde la lên “Mẹ thiêng liêng, cứu con!”. Cơn bão dội thẳng vào ngôi làng gây nên những thiệt hại lớn, nhưng không ai thiệt mạng, trừ Cunegunde: “Hôm sau, những người nông dân tới tìm mụ phù thủy thì thấy túp lều của mụ đã bị sập. Mụ bị ép về phía trước. Óc phòi ra khỏi hộp sọ, và không có gì còn lại ngoài đống xương. Một chiếc thuyền chở xác mụ tới một nhà thờ nhỏ”.

Cunegunde, mụ phù thủy độc ác của ngôi làng, nhưng mụ cũng thật đáng thương. Qua bi kịch đau đớn của Cunegunde, dường như I.B. Singer đặt ra vấn đề sự dồn đẩy của môi trường sống phi nhân tính khiến con người trở nên tha hóa. Cunegunde vốn là bé gái mồ côi đáng thương, số phận đau khổ từ khi chập chững những bước đi đầu tiên. Khi người cha còn sống, khi những cơn say, ông thường đánh đập. Anh trai và chị gái bà tròng ghẹo, dọa nạt bà bằng những câu chuyện về Dziad và Bubuk, về yêu tinh Tekla. Cunegunde chăn ngỗng trên cánh đồng, mưa đá to như con ngỗng rơi trúng đầu cô bé sáu tuổi và làm chết một con ngỗng đực, bởi thế cô bị đánh. Không một ai yêu thương và che chở cho đứa bé mồ côi tội nghiệp, trái lại tất cả đều chống lại cô, bắt nạt và ức hiếp cô. Để có thể bươn trải trong cuộc đời, bản năng sống thôi thúc khả năng tự vệ ở con người để có thể giúp chủ thể chống chọi với những sự xâm hại từ bên ngoài. Tuy nhiên khi bản năng tự vệ không được kiểm soát sẽ trở thành bản năng xâm hại thù nghịch con người, đuổi cùng giết tận, tìm mọi cách để thủ tiêu đối phương. 

Từ điểm nhìn kì ảo, bản năng xâm hại – phần thú tính được khoác lên tấm áo choàng đen tối của sức mạnh hắc ám. Nhưng từ phương diện tâm lí, có thể lí giải, ma thuật của phù thủy là dư thừa và bùng nổ của nguồn năng lượng tính dục, bản năng. Hiểu như thế, càng thấy ý nghĩa sâu sắc toát lên từ tác phẩm của I.B. Singer, trong con người luôn tiềm tàng hai nguồn năng lượng tích cực và tiêu cực, nếu được yêu thương thì mặt tích cực sẽ tỏa sáng thu hẹp sự tỏa bóng của năng lực tiêu cực, nhưng nếu tiếp cận với nguồn năng lượng chết như thù hận, hãm hại… ngay tức khắc, nguồn năng lượng âm tính trỗi dậy mạnh mẽ, nó tỏa bóng (âm)/ (râm) che khuất vùng sáng của trí tuệ và lương tri, đam mê xác thịt và hũy diệt tàn phá con người và thế giới quanh mình.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Chevalier. J & Gheerbrand. A (2015), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, Phạm Vĩnh Cư (chủ biên dịch), NXB Đà Nẵng.

2. Herz, Sarah K., and Donald R. Gallo (2005) From Hinton to Hamlet: Building Bridges Between Young Adult Literature and the Classics. 2nd ed. Westport, CT: Greenwood.

3. Singer. I.B (1964), Short Friday and Other Stories, Fawcett Books, Greenwich, Connecticut, The United States of America.