NGÔN NGỮ LƯU ĐÀY TRONG TRUYỆN NGẮN ISAAC BASHEVIS SINGER

TS Vũ Minh Đức

Khoa Ngữ Văn – Trường Đại học Tây Bắc

 

1. Mở đầu

Isaac Bashevis Singer (1904 - 1991) là nhà văn sáng tác bằng tiếng Yiddish đoạt giải Nobel Văn học năm 1978. Tác phẩm của ông vừa nóng hổi tính thời sự với bức tranh đời sống Do Thái đương đại trong không gian xuyên quốc gia, vừa hoài nhớ quá khứ về những năm tháng đau thương của dân tộc Do Thái. Kể những chuyện của “ngày nay” hay chuyện của “những ngày đã qua”, truyện ngắn của “phù thủy truyện kể” này thường kết nối mạch nguồn Do Thái truyền thống để sau những câu chữ là cả kho trầm tích văn hóa Do Thái và nỗi niềm “dân tộc được lựa chọn”. Dẫu viết về quá khứ thông qua những hồi tưởng của những nhân vật thời hiện tại về những gì họ đã trải qua suốt năm tháng lưu lạc, hay viết về tình cảnh cô đơn lạc lõng của con người trước hiện tại ở một miền đất xa lạ, truyện ngắn của I.B. Singer luôn u uẩn tâm thức lưu đày của một dân tộc bị làm cho tản mát khắp mặt đất. Những “vết tích bản cổ” của cổ mẫu lưu đày (exile archetype) đã khơi dậy và bùng lên mạnh mẽ trong tâm thức con người hiện đại bởi sự tương hợp. I.B. Singer phục dựng lễ hội phục sinh cổ mẫu lưu đày trong truyện ngắn của mình không chỉ để phản ánh thân phận người Do Thái trong suốt tiến trình lịch sử bị bức hại và truy sát, mà ông còn đặt ra vấn đề về chấn thương tinh thần của con người và phương thức ứng xử của họ trước thân phận lưu đày. Đồng thời vấn đề bản sắc Do Thái được đặt ra một cách riết róng trong mối quan hệ với căn tính bản ngã và căn tính văn hóa.

2. Nội dung

Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp trong đời sống hàng ngày, thông qua ngôn ngữ con người trao đổi tâm tư, tình cảm,… nhờ đó mà con người thêm hiểu nhau. Nhưng kể từ khi Chúa làm cho dân của Người không nói cùng một thứ tiếng, thay vào đó là nói bằng vô vàn thứ tiếng khác nhau, do đó con người trên mặt đất “không cùng tiếng nói” khó có thể hiểu nhau.

2.1. Bức tranh ngôn ngữ và xung đột bản sắc

Bức tranh ngôn ngữ trong truyện ngắn I.B. Singer phong phú và đa dạng với đủ thứ tiếng mà loài người đang sử dụng, gồm cả tiếng mẹ đẻ của người Do Thái (Yiddish, Hebrew) và cả những ngôn ngữ của những người không phải Do Thái (Anh, Nga, Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Đức, Ba Lan…). Các nhân vật của ông gặp trở ngại trong giao tiếp hàng ngày, thậm chí là xung đột do sự khác nhau về ngôn ngữ. Xung đột ngôn ngữ là khởi đầu của mọi sự xung đột tiếp theo trong cuộc sống và dẫn đến bi kịch không hiểu nhau, không thống nhất tư tưởng, suy nghĩ, hành động. Xung đột ngôn ngữ xoay quanh những hoài nghi và bất đồng về bản sắc: “Chỉ khi xuất hiện những hoài nghi và bất đồng xoay quanh vấn đề bản sắc thì ngôn ngữ đã trở thành công cụ chuyên chở rõ ràng nhất cho bản sắc đó mới trở thành vấn đề xung đột thường xuyên gay gắt. Khi một tình thế như vậy diễn ra thì mỗi yếu tố ngôn ngữ đều trở thành chủ đề tranh luận đối với các bên xung đột, bao gồm cả những tiểu tiết nhỏ nhặt nhất của cấu trúc ngôn ngữ mà nếu ở trong một tình thế khác sẽ chỉ làm bận tâm một nhóm nhỏ chuyên gia mà thôi” [3,282].

Ngôn ngữ mang ý nghĩa như rào cản ngăn cách, làm cho con người trở nên xa lạ với nhau là nội dung của các truyện: Ông và cháu, Những thợ giày bé bỏng, Xóm di cư, Bài giảng, Anh bạn bọ cánh cứng… Những người thân thiết ruột thịt như ông và cháu trong truyện ngắn cùng tên rất khó khăn khi phải nói và nghe bằng một ngoại ngữ, ngôn ngữ dường như bất lực không đảm đương chức năng kết nối con người: “Cậu bắt đầu nói điều gì đó, rồi dùng que. Cậu kể ra những cái tên mà Reb Mordecai Meir chưa từng nghe qua. Cậu nói những câu chen lẫn tiếng Ba Lan, Nga, và Đức” (Ông và cháu) [13,305]. Hai người đồng bào trong Những người hàng xóm, sau này họ trở thành tình nhân của nhau nâng đỡ nhau đi tiếp quãng đời còn lại, lúc đầu mới gặp, họ đã xung đột, cãi lộn cũng chỉ bởi họ không chung “tiếng nói”: “Nhưng một lần, việc xảy ra khi hai người tới nhà tôi cùng lúc. Margit thấy giữa đống giấy của tôi một chữ (letter), bà đã nói với tôi về chữ ấy. Morris xem một tờ Nguyệt san Nam Phi in lại bản thảo của tôi. Tôi giới thiệu hai vị khách với nhau, dù họ sống cùng một tòa nhà đã nhiều năm, họ chưa từng gặp mặt nhau. Margit trở nên nghễnh ngãng vài tháng nay. Vì không thể đánh vần chữ “Terkeltoyb” bà nói nhỏ vào tai tôi, cau mày, phát âm sai cái tên. Cũng lúc ấy, bà gào bên tai Morris Terkeltoyb như thể ông là người nghễnh ngãng. Morris nói với bà bằng tiếng Anh, nhưng bà không hiểu điều ông nói. Ông chuyển sang tiếng Đức. Margit Levy lắc đầu khiến ông phải nhắc lại từng từ. Như một giáo viên khó tính, bà chữa lỗi ngữ pháp và phát âm của ông. Ông có thói quen nuốt từ, và khi ông trở nên phấn khích, giọng ông như thét. Chưa dùng xong cà phê, ông đứng dậy đi ra cửa. “Mụ điên này là ai?” ông hỏi tôi. Ông đóng sầm cửa như thể tôi trách lỗi ông đã trả đũa Margit Levy” [13,291]. Không chung tiếng nói của những con người sống cùng nhau dưới một mái nhà trong Những thợ giày bé bỏng đã tạo nên cảm giác xa cách của Abba với lũ cháu chắt của mình: “Lũ cháu, chắt không biết lấy một chữ Yiddish, ngay cả đến học một vài lời nói” [12,146]. Trong nỗ lực xóa đi khoảng cách của những người Do Thái nhập cư với cư dân bản địa, ngôn ngữ (chung) có thể xem như một nhịp cầu giúp họ thấu hiểu và thống nhất thành một khối, sự khác biệt ngôn ngữ đã phạt ngang nhịp cầu cảm thông chia cách họ về đôi bờ xa lạ: “Một ông lớn từ Paris tới thăm và chỉ nói bằng tiếng Pháp. Đám dân di cư chẳng hiểu ông ta nói gì. Bọn họ xấu hổ vì cái tiếng Do Thái, các đức ông từ thiện ấy” (Xóm di cư) [9,215]. Tấm thổ cẩm ngôn ngữ/ tiếng nói của các nhân vật trong truyện ngắn I.B. Singer được hiểu như trạng thái lộn xộn của các thứ tiếng – một hình phạt mà những con người hiện đại tiếp tục gánh chịu do “tính kiêu ngạo” của tổ tiên mình. Joseph Sherman đã chỉ ra mối liên hệ giữa tình trạng lộn xộn ngôn ngữ với bi kịch của người Do Thái: “Khi sự hỗn độn tự phô bày cùng những tưởng tượng sáng tạo của Singer như việc xây dựng lại tháp Babel đương thời cùng tính kiêu ngạo của lí trí trong thời đại Ánh Sáng. Nói lại bằng cách khác trong thứ ngôn ngữ khó nắm bắt của người hoài nghi những điều đã được chấp nhận với niềm tin hoàn hảo như thế giới không mơ hồ của thánh thần, và tái kiến tạo theo tính thất thường một cách tương đối những điều được hiểu một cách không chối cãi như ý chí tìm tòi, xã hội Do Thái hiện đại, những truyện kể của Singer kịch hóa bi kịch, để nói những thứ tiếng lộn xộn làm cho mọi người khó hiểu nhau, và Chúa không thể hiểu được mọi người” [5,205].

Một trong những yếu tố có tính then chốt làm nên sự phân biệt giữa các tộc người trên thế giới với nhau chính là ngôn ngữ. Itamar Even-Zohar, nhà nghiên cứu văn hóa người Do Thái, khi bàn về vấn đề “Xung đột ngôn ngữ và bản sắc dân tộc” trong Lí thuyết đa hệ thống trong nghiên cứu văn hóa và văn chương nhận thấy khi ngôn ngữ đóng vai trò như là “ý hệ kí hiệu” (semiotic ideology) thì nó mang giá trị biểu trưng về bản sắc văn hóa: “Ngôn ngữ không chỉ là phương tiện tương tác và kết nối, không chỉ là công cụ thiết thực của chính quyền nhà nước trong thời hiện đại hay cổ đại. Ngôn ngữ còn là một phương tiện biểu thị cho giá trị biểu tượng. Nhờ lựa chọn một ngôn ngữ, một cư dân hay một nhóm người trong xã hội mới có thể tuyên xưng đâu là bản sắc mà nó muốn trưng ra cho chính mình cũng như cho phần còn lại của thế giới” [3,280]. So với các yếu tố như tôn giáo, màu da, chủng tộc thì ngôn ngữ là rào cản ngăn cách hiệu quả nhất. “Hàng rào ngôn ngữ đôi khi còn sâu hơn sông hơn biển, cao hơn núi nhưng con người trong xã hội hiện đại đã nhanh chóng vượt qua hàng rào đó để học hỏi lẫn nhau về văn hóa” [7,15]. Bên cạnh những nhân vật người Do Thái tìm cách thích nghi với môi trường văn hóa mới bằng cách chuyển sang sử dụng ngôn ngữ của dân tộc khác: “Mọi người cố gắng học ít nhất vài tiếng Hebrew. Trong những năm tháng phiêu bạt, nhiều người trong số họ dã dạy cho nhau tiếng Nga, Đức, Anh, và cả tiếng Hungari và Uzubekistan” (Anh bạn bọ cánh cứng) [11,124-125], bộ phận còn lại mang nỗi niềm trăn trở về tương lai, số phận của tiếng nói cha ông, cũng là số phận và tương lai dân tộc Do Thái. Hành vi chuyển ngữ, rời bỏ tiếng nói truyền thống Yiddish, Hebrew để nói ngoại ngữ tương đương với hành vi cải đạo, do đó, một số ít người Do Thái kính Chúa kiên trung với đức tin của mình bằng cách giữ gìn tiếng nói dân tộc, chấp nhận nói thứ tiếng bị khinh rẻ và kì thị như chấp nhận hình phạt nói ngôn ngữ bị lưu đày từ muôn kiếp nào. Ông già Reb Abba trong Những thợ giày bé bỏng xem sự lưu đày của ông cũng như toàn thể người Do Thái là hình phạt phải gánh chịu cho những tội lỗi chính họ đã phạm phải: “Abba tin rằng ông, giống tất cả người Do Thái kể từ khi Đền thờ thứ Hai bị phá hủy, sống trong cảnh lưu đày, xa quê hương ở Eretz Israel, bởi vì ông đã phạm tội, và không phải vì Chúa bất tín (unfaithful) hay bất lực (powerless)” [1,31]. Những nhân vật này thường là người luôn trăn trở về tương lai của ngôn ngữ Do Thái trước một thực tế không chỉ các dân tộc khác khinh bỉ ngôn ngữ Do Thái mà ngay cả những người Do Thái cũng quay lưng lại với tiếng nói được xem như tinh huyết dân tộc: Người bạn của Kafka, Những thợ giày bé bỏng, Anh bạn bọ cánh cứng, Bài giảng,…

2.2. Ngôn ngữ Yiddish và bản sắc thiểu số

Ngôn ngữ Do Thái, đặc biệt là Yiddish ngôn ngữ cổ của người Do Thái được coi là thứ “ngôn ngữ của người dân thường và của những người mẹ, có nguồn cội từ thời trung cổ và hợp lưu từ nhiều nền văn hóa khác nhau mà nhờ chúng dân tộc này vẫn giao tiếp được với nhau trong suốt nhiều thế kỉ bị tứ tán ở xứ người” [6], là thứ ngôn ngữ mang trong nó những lớp trầm tích văn hóa của người Do Thái trải qua năm tháng lịch sử đầy biến động và dữ dội, “thứ ngôn ngữ của sự tha hương, không có đất đai, không biên giới, không được chính phủ nào bảo hộ, thứ ngôn ngữ không có lời nào dành cho vũ khí, đạn dược, diễn tập quân sự, chiến lược chiến tranh; thứ ngôn ngữ bị tất cả những người không phải Do Thái và những người Do Thái được giải phóng xem thường… Nói cách bóng bẩy, Yiddish là thứ ngôn ngữ thông thái và khiêm nhường của tất cả chúng ta, là đặc ngữ của nhân loại đang sợ hãi nhưng vẫn luôn hi vọng” [10]. Với các nhân vật của I.B. Singer, tiếng Yiddish là linh hồn và bản sắc Do Thái, và tình yêu đối với tiếng mẹ đẻ cứu giúp “những đứa con lưu lạc” nơi xứ người thoát khỏi nguy cơ bị đồng hóa ngay cả khi sử dụng ngoại ngữ trong cuộc sống hàng ngày. Nhận xét về hiện tượng này, Susann L. Gardberg viết: “Tình cảm với ngôn ngữ Yiddish là trái tim và tâm hồn của các nhân vật của Singer. Các tác phẩm của ông tràn ngập những người Do Thái – Đông Âu có cách hành xử được điều khiển bởi đam mê. Những người Do Thái – Ba Lan, sống ở Mĩ, nói tiếng Anh nhưng tư duy Yiddish” [4,65].

Ngôn ngữ Do Thái có nguy cơ trở thành một tử ngữ, thay vào đó, họ sẽ nói những ngoại ngữ như là tiếng nói của kẻ khác: “Chúng tôi đi dạo qua những con đường mờ tối, mỗi phố mang tên một nhà văn Hebrew hoặc một học giả Do Thái. Tôi đọc các kí hiệu ở khắp các cửa hàng quần áo. Công cuộc hiện đại hóa tiếng Hebrew đã tạo ra một thuật ngữ như nịt vú, coóc xê, kiểu tóc nữ và thuốc xức tóc. Họ đã tìm thấy nhiều thuật ngữ trần tục trong Kinh Thánh, Talmud - Babylon, Talmud Jerusalem, Midras, và cả Zohar” (Anh bạn bọ cánh cứng) [12,128-129]. Những kẻ nói “tiếng nói của kẻ khác” và những kẻ nói tiếng nói thiểu số đều là những kẻ cô đơn, lạc lõng, những kẻ “bị bật rễ”, họ luôn cô đơn, lập dị, ngốc nghếch trong mắt của số đông. I.B. Singer thường sử dụng người kể chuyện nhà văn (the writer as a narrator) nhà văn Do Thái, những người “nói” thứ ngôn ngữ lạc lõng khi sáng tác bằng một ngôn ngữ xa lạ với cuộc sống hiện đại như tiếng Yiddish hay Hebrew và viết những câu chuyện thần bí, ma quỷ. Tác phẩm họ viết ra trở nên xa lạ, thậm chí là nhảm nhí và điên khùng trong mắt mọi người (bao gồm cả người Do Thái và những người ngoại quốc): Không có gì là ngẫu nhiên, Kẻ buôn lậu, Không chốn nương thân, Vanvild Kava, Một đêm ở Brazil, Bản thảo, Cạm bẫy, Người bạn của Kafka, Những người hàng xóm, Bài giảng, Hành trình tâm linh, Khách sạn, Người viết thư, Gọi hồn, Ăn nhờ ở đậu, Quà tặng, Quán ăn tự phục vụ, Hanka, Xóm di cư, Tù nhân, Những người xa lạ, Cạm bẫy, Tín dụng an toàn… Morris Terkeltoyb trong Những người hàng xóm là một nhà văn tài năng nhưng các bản thảo ông gửi đi đều bị từ chối đăng bởi ông sáng tác bằng tiếng Yiddish, hơn nữa, chúng được viết theo bút pháp của chủ nghĩa thần bí Do Thái – những chuyện tưởng như hoang đường đối với con người hiện đại, theo suy nghĩ của mọi người và của nhân vật người kể chuyện có lẽ Morris Terkeltoyb mắc bệnh hoang tưởng. Chỉ tới khi đọc những di vật của Morris trong chiếc va li ông mang theo suốt đời, “tôi” mới ngỡ ngàng hiểu ra: “Không, Morris Terkeltoyb không phải kẻ mắc chứng bệnh hoang tưởng như tôi từng nghĩ về ông” [13,297]. Những tác phẩm thuộc về nền văn hóa khác, nền văn hóa bị lãng quên bỗng chốc được các nhà văn làm sống lại trên xứ người trong văn nghiệp của những nhà văn bị khước từ (bản thảo) như một ẩn dụ của sự không chấp thuận cho anh ta vào cộng đồng. Tất cả đã cô lập những con người nói tiếng nói lạc lõng, và bằng nỗi quan hoài đầy khắc khoải với tiếng nói của ông cha, họ cũng tự cô lập mình. Đó là Valvid Kava, một nhà văn dị hợm với những câu chuyện của kẻ hoang tưởng đã viết mấy chục trang tiểu luận về loài ngựa một cách điên rồ, là Jacques Kohn luôn bị tất cả biên tập viên từ chối đăng bài trong Người bạn của Kafka… họ hiện lên trong tác phẩm như nạn nhân (victim) của ngôn ngữ.

Con người không chỉ là chủ thể nói bằng ngôn ngữ, nói về ngôn ngữ mà đến lượt ngôn ngữ chi phối tác động lại chính chủ thể phát ngôn. Con người là nạn nhân của ngôn ngữ cũng là nội dung của cuốn tiểu thuyết Enemies, A Love Story (Những kẻ thù, một câu chuyện tình) của I.B. Singer, ngôn ngữ là tác nhân gây ra cái chết của con người. Marilyn R. Chandler trong bài viết Death by the Word: Victims of Language in Enemies, A Love Story (Chết bởi ngôn từ: Những nạn nhân của ngôn ngữ trong “Những kẻ thù, Một câu chuyện tình”) đã viết: “Một câu chuyện cay đắng về cuộc sống giữa đống đổ nát của ngôn ngữ. Ở đó Singer phản ánh trong mối quan hệ với George Steiner, George Orwell, và nhiều nhà phê bình văn hóa hậu chiến đã bày tỏ về tình trạng được thổi phồng và xuyên tạc của ngôn ngữ trong lịch sử vừa qua đe dọa rời bỏ như tất cả sự không rõ ràng. Ngôn ngữ, họ phàn nàn, đã trở nên lìa bỏ nguồn sống tinh thần cho nó sức mạnh. Sinh ngữ đã trở thành một thứ sai lạc, một tác nhân sai lạc, và những điều đó người ta đã ghi lại bằng từ ngữ bị đe dọa nguy hiểm bởi dịch bệnh lây lan của sự vô nghĩa: những kẻ đó sống bởi ngôn ngữ sẽ chết bởi ngôn ngữ” [5,137]. Ngôn ngữ không chỉ là phương tiện giao tiếp, mà còn là linh hồn và đời sống của nhân vật. Cổ mẫu ngôn ngữ lưu đày trong ý nghĩa nguyên sơ biểu thị tình trạng lộn xộn của ngôn ngữ của các chủng người là nguyên nhân làm cho con người không hiểu nhau dường như đến văn học hậu hiện đại, ngôn ngữ mảnh vỡ (fragment language) với tính chất rời rạc, đứt đoạn, phân mảnh có thể ít nhiều liên quan tới cổ mẫu ngôn ngữ lưu đày, tuy nhiên được thể hiện trong một hình hài mới.

Mất phương hướng trong chuyến đi tới Mĩ khi bản thảo cho bài giảng ngày mai bàn về số phận và tương lai của tiếng Yiddish cho đồng bào mình trên đất khách, nhưng nhân vật “tôi” người kể chuyện, nhà văn trong Bài giảng vẫn luôn hi vọng, tin tưởng vào sức sống bất diệt của ngôn ngữ dân tộc: “Bài giảng với những điều tôi dự đoán về một tương lai chói lọi của tiếng Yiddish làm tôi lo lắng. Điều gì đã làm tôi trở nên lạc quan một cách bất ngờ như vậy? Theo quan điểm của riêng tôi, phải chăng tiếng Yiddish sẽ không bị hủy diệt” [8,66]. Cũng như các nhân vật của mình, sống trên đất Mĩ xứ sở nói tiếng Anh, I.B. Singer lựa chọn viết bằng tiếng Yiddish đăng trên một tờ báo dành cho những người Do Thái nhập cư (Jewish Daily Forward), một sự lựa chọn “khốc liệt” bởi không có nhiều độc giả đọc các sáng tác tiếng Yiddish. Dành cả đời viết về một nền văn hóa đã bị hủy hoại một cách tàn nhẫn trong Thế chiến Hai bằng một thứ ngôn ngữ bị đẩy tới bờ vực của sự hủy diệt, ông kiên quyết viết bằng thứ tiếng mẹ đẻ, tiếng nói của một tộc người thiểu số, thứ ngôn ngữ chỉ có được một bộ phận rất ít độc giả đón nhận. Ngay cả khi xác quyết viết bằng ngôn ngữ Do Thái, I.B. Singer cũng đứng trước một tình thế buộc phải đấu tranh và lựa chọn giữa tiếng Yiddish (ngôn ngữ của văn hóa bình dân thuộc về đời sống hàng ngày) và Hebrew (ngôn ngữ dành cho văn hóa quý tộc và văn hóa chính thống). Do đó, “Cuộc đấu tranh giữa tiếng Yiddish và tiếng Hebrew không chỉ về vấn đề ngôn ngữ mà còn về bản chất đáng mong muốn của dân tộc” [3,288].

3. Kết luận

I.B. Singer từng viết: “Yiddish là kỉ niệm của chúng tôi, là nhịp cầu nối đôi bờ quá khứ và hiện tại”. Thái độ trăn trở với tiếng nói dân tộc và tìm cách bảo lưu tiếng mẹ đẻ của các nhân vật Do Thái cũng như của chính tác giả là cách lưu giữ truyền thống văn hóa dân tộc và lưu truyền quá khứ cho các thế hệ tương lai. Tiếp tục nói ngôn ngữ lưu đày đã làm cho dân tộc Do Thái li tán cũng là cách (cố) chấp nhận nói chung một thứ tiếng với hi vọng dù có phải chia lìa xa cách hay lạc mất nhau nhưng chừng nào còn chung tiếng nói là vẫn còn hi vọng được đoàn tụ, thống nhất và trở về như lời chúc của người Do Thái nhân dịp năm mới: Năm sau ở Jerusalem! Ngôn ngữ dân tộc là sợi dây bền chặt có khả năng cố kết dân tộc bởi sâu thẳm bên trong ngôn ngữ là văn hóa dân tộc, đấu tranh để giữ gìn tiếng mẹ đẻ thực chất là cuộc đấu tranh bảo tồn căn tính văn hóa dân tộc. Dù đất nước có bị xâm lăng thì căn tính dân tộc sẽ còn mãi trong ngôn ngữ như cách nói của nhà thơ Lưu Quang Vũ: “Nước chẳng mất khi Loa thành đã mất” (Tiếng Việt). Với Alfonse Daudet, tiếng mẹ đẻ là chìa khóa để mở ra cánh cửa của tự do: “phải giữ gìn nó và không bao giờ xao lãng, bởi vì, khi một dân tộc rơi vào vòng nô lệ, mà chừng nào họ vẫn giữ được tiếng nói của họ thì chẳng khác nào kẻ bị giam nắm được cái chìa khóa nhà tù” [2,284].

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Alexander E. (1990), Isaac Bashvis Singer: A Study of the Short Fiction, Twayne Publishers, United States of America.

2. Daudet A. (2006), Những vì sao, Trần Việt và Anh Vũ dịch, NXB Hội Nhà văn.

3. Even-Zohar I. (2014), Lí thuyết đa hệ thống trong nghiên cứu văn hóa và văn chương, Trần Hải Yến, Nguyễn Đào Nguyên dịch, NXB Thế giới.

4. Gardberg S.L. (2001), Isaac Bashevis Singer: Speak English, Think Yiddish – Adaptation versus Assimilation, Master of Arts in English, East Tennessee State University, United States of America.

5. Gilman S.L. (2006), Multiculturalism and the Jews, Routledge Taylor & Francis Group, New York.

6. Gyllensten L. (1978), Tuyên ngôn của Viện Hàn lâm Thụy Điển, Trần Tiễn Cao Đăng dịch, nguồn: http://vietnamnet.vn/.

7. Đỗ Thu Hà (2015), Giáo trình Văn học Ấn Độ, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.

8. Singer I.B. (1968), The Séance, Farrar, Straus and Giroux, New York.

9. Singer I.B. (1970), A Friend of Kafka and Other Stories, Farrar, Straus and Giroux, New York.

10. Singer I.B. (1978), Diễn từ nhận giải Nobel, Trần Tiễn Cao Đăng dịch, nguồn: http://vietnamnet.vn/.

11. Singer I.B. (1979), Old Love, Farrar, Straus and Giroux, New York.

12. Singer I.B. (1980), Gimpel the Fool, Farrar, Straus and Giroux, New York.

13. Singer I.B. (1984), A Crown of Feathers, Farrar, Straus and Giroux, New York.

 T. J. Logan Jersey