NHẠC TÍNH TRONG THƠ HAIKU CỦA MATSUO BASHO

 

ThS Hà Thị Hải

Khoa Ngữ Văn – Trường Đại học Tây Bắc

                                                             

1. Đặt vấn đề

Matsuo Basho là nhà thơ haiku lỗi lạc của đất nước Nhật Bản. Cho đến ngày nay, thơ haiku của Basho vẫn lôi cuốn người đọc nhiều nước trên thế giới bởi nội dung phong phú và nghệ thuật đặc sắc của nó. Thơ haiku Basho là sản phẩm tinh thần riêng của người Nhật, là niềm tự hào của đất nước Phù Tang, xứ sở hoa anh đào. Sự bí ẩn, chiều sâu triết lí trong nội dung và đặc biệt nghệ thuật độc đáo, giàu tính thẩm mĩ của thơ ông vẫn luôn là đề tài hấp dẫn để các nhà nghiên cứu tiếp tục khai thác, tìm hiểu. Ngôn ngữ thơ haiku của Basho không chỉ giàu chất họa mà còn giàu nhạc tính. Các nhà nghiên cứu thơ haiku Basho trước đây như Nhật Chiêu, Lê Từ Hiển, Hà Văn Lưỡng đã đề cập đến nhịp điệu thơ Basho qua cách ngắt nhịp, điệp câu. Kế thừa những ý kiến khái quát đó, dựa vào lí luận văn học, qua khảo sát cuốn Basho và thơ haiku, Nhật Chiêu (tuyển dịch), NXB Văn học, Thành phố Hồ Chí Minh, 1994, người viết nghiên cứu một cách đầy đủ hơn, chi tiết hơn nhạc tính trong thơ haiku của Matsuo Basho, giúp người đọc thấy được cảm xúc thăng hoa cùng với cách sử dụng từ ngữ, cách tổ chức ngôn ngữ chặt chẽ và sinh động trong thơ Basho đã tạo nên sự âm vang, lan tỏa, đầy chất nhạc, khiến cho thơ ông phong phú, giàu sức quyến rũ và lôi cuốn lòng người.

2. Nội dung

2.1. Vài nét về nhạc tính trong thơ

 Nhạc tính trong thơ là “tính chất âm nhạc” [10,697] trong thơ. Trên thực tế, thơ ca luôn gắn bó chặt chẽ với âm nhạc. Nếu văn học sử dụng ngôn từ làm chất liệu, phương tiện để xây dựng hình tượng, để biểu đạt tư tưởng, tình cảm của con người thì “âm nhạc sử dụng âm thanh, cụ thể là nó sử dụng cơ cấu giai điệu, âm điệu, nhịp điệu, âm sắc, cường độ... được phát ra từ giọng nói con người, gắn liền với ngôn ngữ và lệ thuộc một mức độ quan trọng vào ngôn ngữ, hoặc phát ra từ những công cụ nhân tạo đặc thù (gọi là nhạc cụ) để chuyển tải, biểu đạt cảm xúc của người nghệ sĩ tới người nghe” [6,52]. Âm nhạc là ngôn ngữ trực tiếp của tâm hồn, qua thính giác nó tác động vào tận ngóc ngách của tâm linh.

Văn học, nhất là thơ ca luôn có quan hệ mật thiết với âm nhạc. Nhà thơ Eliot thuộc trường phái hiện đại nước Anh từng nói: "Tôi cho rằng, nhà thơ nghiên cứu âm nhạc sẽ có nhiều thu hoạch... Âm nhạc sẽ cho nhà thơ cảm giác tiết tấu và cảm giác kết cấu" [9,279]. Văn học đã vay mượn kết cấu và tiết tấu của âm nhạc.

Ngay trong thời kì thơ ấu của nhân loại, thơ ca, âm nhạc, vũ đạo kết hợp với nhau, dùng để tế lễ và chào mừng. Trong xã hội phong kiến thơ ca và âm nhạc cũng gắn bó với nhau chặt chẽ. Kinh thi, tập thơ đầu tiên của Trung Quốc, bài nào cũng được phổ nhạc.

Thơ ca và âm nhạc cùng diễn tả trực tiếp thế giới tâm hồn, nhịp đập trái tim của con người. Trong quá trình sáng tạo thơ ca, âm thanh được coi như cội nguồn của trực cảm sáng tạo. Âm thanh vừa khơi nguồn cảm hứng, vừa tạo trạng thái hưng phấn cho nhà thơ. Puskin nhấn mạnh, khi sáng tác, đầu óc nhà thơ tràn đầy âm thanh trong trạng thái hưng phấn. Sinle yêu cầu mỗi bài thơ phải gây được một ấn tượng về âm nhạc hoặc gợi ý ban đầu là một ấn tượng âm nhạc [9,277].

Nhạc tính trong thơ biểu hiện trước hết trong nội dung thơ. Nhạc tính biểu hiện ở thế giới cảm xúc của chủ thể trữ tình, theo nhà thơ Lê Đức Thọ, là nhạc bên trong và đây là loại nhạc rất quan trọng: Nhờ có nhịp điệu bên trong tâm hồn nhà thơ mà hiện thực được miêu tả không còn chung chung, dễ dãi nữa. Càng ngày, thơ càng phá tung những khuôn khổ hình thức cũ để giãi bày tự do cảm xúc, liên tưởng và tưởng tượng của nhà thơ. Nhưng dù không còn cái nhạc bên ngoài (được tạo nên bởi dùng từ tượng thanh, từ láy, việc tổ chức nhịp, vần, ngữ điệu, cấu trúc câu...), thơ vẫn còn chất nhạc bên trong (nhạc bên trong là bản chất tâm trạng, cảm xúc của nhà thơ: buồn vui, sôi nổi, mỏi mệt, bâng khuâng, hồi hộp, lo lắng, nuối tiếc...). Nhạc điệu bên trong gắn với nhịp tim, nhịp thở. Nhạc điệu bên trong chính là bản chất của trình độ thẩm mĩ, suy tưởng, xúc cảm. Nhạc bên trong là sinh khí, tạo sức sống, sức hấp dẫn bền lâu cho thơ. Chỉ có nhạc bên ngoài mà thiếu nhạc bên trong thì câu thơ kêu mà rỗng [DT 5,45]. Quan điểm về nhạc bên trong của thơ đã được lí luận đề cập đến một cách sâu sắc: “Thơ phản ánh cuộc sống qua những rung động của tình cảm” [8,367], khúc xạ nhịp đập của trái tim khi xúc động. Chính cảm xúc, tâm trạng được phản ánh trong thơ đã tạo nên nhạc tính cho bài thơ. Cảm xúc của con người thường đầy đủ mọi cung bậc: Vui, buồn, tức giận, lo âu, khắc khoải, bâng khuâng, trông ngóng, giục giã... giống như bản nhạc với những âm thanh cao thấp khác nhau. Ví dụ đoạn thơ đầu trong bài Tống biệt hành của Thâm Tâm:

Đưa người ta không đưa qua sông,

Sao có tiếng sóng ở trong lòng?

Bóng chiều không thắm, không vàng vọt,

Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Nhạc điệu của cảm xúc trong đoạn thơ này là nhạc điệu bâng khuâng, buồn, băn khoăn, lưu luyến, luyến tiếc... Không có nhạc điệu của tâm hồn thì đoạn thơ không thể gợi được liên tưởng rộng rãi và không thể làm say lòng độc giả đến như vậy được.

Trong thơ, luật hòa thanh khá quan trọng. Luật hòa thanh chủ yếu nói đến việc tổ chức nhịp điệu, vần, ngữ điệu trong thơ, sao cho hài hòa về âm thanh, đủ sức thể hiện được tứ thơ trong khi sử dụng từ ngữ, hình ảnh. Khi sáng tác thơ ca, các nhà thơ đã triệt để khai thác những khả năng của âm nhạc để vận dụng vào thơ văn. Theo PGS. Nguyễn Xuân Nam: “Nhạc tính trong thơ được thể hiện ra ở ba mặt sau đây: sự cân đối, sự trầm bổng và sự trùng điệp. Sự cân đối là sự tương xứng, hài hòa giữa các dòng thơ... Trầm bổng là sự thay đổi những âm thanh cao thấp khác nhau giữa thanh bằng và thanh trắc. Và cũng do sự phối hợp giữa các đơn vị ngữ âm tùy theo nhịp cắt để tạo nên nhịp... Sự trùng điệp của ngôn ngữ thơ thể hiện ở sự dùng vần, điệp câu, điệp ngữ” [8, 367-369].

Như vậy, nhạc tính trong thơ là khúc nhạc của cảm xúc, của tâm hồn và tài năng tổ chức từ ngữ, câu thơ, dòng thơ, bài thơ của nhà thơ.

Lí luận về nhạc tính thể hiện khá rõ trong thơ Việt Nam và thơ Trung Quốc. Thơ haiku Nhật Bản thuộc loại thơ ngắn nhất thế giới. Một bài thơ chỉ có 17 âm tiết, được ngắt làm ba đoạn, không quy định chặt chẽ về vần, luật; tiếng Nhật lại đa âm tiết, cho nên, có khi 17 âm tiết ấy thực ra chỉ có mấy từ và được viết thành một dòng. Bởi vậy, việc nghiên cứu nhạc tính trong thơ haiku không dễ dàng. Trong bài viết này, chúng tôi chỉ vận dụng một số yếu tố lí luận phù hợp để nghiên cứu nhạc tính trong thơ haiku của Matsuo Basho.

2.2. Biểu hiện của nhạc tính trong thơ haiku Matsuo Basho

2.2.1. Biểu hiện ở cảm xúc của chủ thể sáng tạo và ở âm thanh của cuộc sống được miêu tả

* Ở cảm xúc của chủ thể sáng tạo

Nhiều bài thơ haiku của Basho chất nhạc toát lên từ cảm xúc của nghệ sĩ sáng tạo:

Oki yo oki yo

waga tomo ni sen

neru kochô.

Dậy đi thôi

cùng ta kết bạn

cánh bướm ngủ say ơi.

Bài thơ như một lời giục giã (Oki yo oki yo - dậy đi, dậy đi), mời gọi da diết, thể hiện ước muốn được giao hòa, san sẻ, gắn bó của con người với thiên nhiên vạn vật. Bản thân cảm xúc đó đã mang chất nhạc rồi. Đó là khúc nhạc rộn ràng mà da diết của một trái tim yêu đời, khát khao niềm hạnh phúc được hòa nhập trong vũ trụ bao la.

          Bài thơ sau của Basho:

                               Sabishisa wo

                               tote kurenu ka

                               kiri hitoha.

                                         Một lá ngô đồng rơi

                                         mà sao bạn không đến

                                         bên nỗi buồn tôi.     

viết về mùa thu với hình ảnh chiếc lá ngô đồng rơi đã gợi nỗi buồn man mác lan tỏa ngay từ câu thơ đầu. Hai câu thơ sau biểu lộ sự băn khoăn, tự vấn và cả sự hờn trách của chủ thể trữ tình khi không có ai để chia sẻ nỗi buồn. Sự cô đơn, trống trải tràn ngập bài thơ. Nhạc trong thơ là nhạc của cảm xúc và tâm hồn. Nỗi buồn, sự cô đơn trống trải trong bài thơ vang lên khúc nhạc buồn nhẹ nhàng lan tỏa ở câu thơ thứ nhất, xoáy sâu ở câu thơ thứ hai và lặng xuống ở câu thơ thứ ba.

Thơ haiku của Basho chủ yếu là những khúc nhạc buồn, êm ả, sâu lắng vang lên từ đáy sâu tâm hồn với những cảm nhận tinh tế về thiên nhiên, tạo vật trước sự biến chuyển của vũ trụ trong bốn mùa xuân, hạ, thu, đông:

Ganjitsu ya

omeoba sabishi

aki no kure.

Ngày đầu xuân

sao mà tôi nhớ

chiều thu cô đơn.

và:

Shiratsuyu ni

sabishiki aji wo

wasururu na.

Không bao giờ quên

mùi vị cô đơn

của giọt sương trắng.

Đọc những câu thơ diễn tả cảm xúc của Basho, người đọc cảm nhận được những cung bậc cảm xúc mà tác giả đã trải qua, cảm thấy dường như mình đang cùng sống trong thế giới tâm tưởng của tác giả, cùng buồn trước mùa thu, cùng cô đơn khi bạn không đến, cùng giục giã, mong muốn được kết bạn... Nhạc điệu của tâm hồn đã gắn kết nhà thơ với độc giả. Tính nhạc trong thơ haiku của Basho rất đa dạng, tương ứng với sự đa dạng của cảm xúc dâng trào.         

* Ở âm thanh của cuộc sống được miêu tả

Nhạc tính trong thơ haiku của Basho không chỉ biểu hiện ở tâm trạng, cảm xúc của nhà thơ mà còn biểu hiện ở âm thanh của cuộc sống mà ông miêu tả. Có thể khẳng định thơ haiku của Basho tràn đầy âm thanh của cuộc sống.

Basho miêu tả một thế giới âm thanh của tự nhiên hết sức sống động như tiếng chim oanh hót:

Uguisu ya

yanagi no ushiro

yabu no mae.

Ôi chim oanh

hát trước rừng trúc

sau hàng liễu xanh.

          Tiếng ve kêu:

Shizukasa ya

iwa ni shimi iru

semi no koe.

Vắng lặng u trầm

thấm sâu vào đá

tiếng ve ngâm.

Đặc biệt, tiếng chim cu hót xuất hiện đậm đặc trong thơ haiku của Basho:

Hototogisu

koe yokotau ya

mizu no ue.

Tiếng chim cu

đi chênh chếnh

trên mặt hồ.

và:

Hototogisu

naku ya goshaku no

ayamegusa.

Vang tiếng chim cu

và lá diên vĩ

vươn năm bộ cao.

Trong 126 bài thơ bản dịch của Nhật Chiêu có đến hàng chục bài miêu tả tiếng chim cu - loài chim báo hiệu mùa hè, loài chim rất được thơ tanka và haiku ưa chuộng.

Basho còn miêu tả âm thanh của vũ trụ như tiếng thác đổ:

Ochikochi ni

taki no oto kiku

ochiba kana.

Đây và đó

âm thanh thác đổ

lá non tràn đầy.

Tiếng gió:

Fuyugare ya

yo wa hito iro ni

kaze no oto.

Mùa đông vò võ

thế gian một màu

và âm thanh gió.

Tiếng mưa đá:

Ikameshiki

oto ya arare no

hinokigasa.

Ôi dữ dội

tiếng mưa đá

đập lên ô tôi.

Trong thơ Basho, bên cạnh âm thanh của tự nhiên là âm thanh của cuộc sống thường ngày như tiếng rao của người bán cá:

Ika uri no

koe magirawashi

hototogisu.

Tiếng rao người bán cá

hòa trong tiếng chim cu

vang vang mùa hạ.

Tiếng chuông chùa, đền:

Kane kiete

hana nokawat suku

yube kana.

Tiếng chuông chùa tan

hương hoa đào buổi tối

như còn ngân vang.

Hana no kumo

kane wa Ueno

Asakusa ka.

Hoa đào như áng mây xa

chuông đền Ueno vang vọng

hay đền Asakusa.

Tiếng gà gáy:

Niwatori no

koe ni shigururu

ushiya kana.

Mưa đổ

trên chuồng bò

tiếng gà ó o.

Có những bài thơ Basho miêu tả âm thanh lắng đọng, thẳm sâu:

Shizukasa ya

iwa ni shimi iru

semi no koe.

Vắng lặng u trầm

thấm sâu vào đá

tiếng ve ngâm.

Bài thơ vẽ nên một khung cảnh buồn, heo hút, vắng lặng với hiệu quả độc đáo của âm thanh tiếng ve kêu (semi no koe). Tiếng ve xuyên vào cõi cô tịch, thâm u của thiên nhiên làm cho đá núi như mềm ra. Còn gì mỏng manh hơn tiếng kêu của con ve tận sâu trong rừng vắng. Tiếng kêu ấy dội qua muôn trùng vách đá, lắng đọng, thẳm sâu càng làm nổi bật không gian cô tịch, vô định, vắng lặng. Ở đây có sự đối lập giữa cái mỏng manh nhưng mềm mại, có phẩm tính lan tỏa (tiếng ve) với cái bất động, cứng lạnh (đá núi). Sự đối lập ấy cho thấy sự huyền nhiệm của sự sống. Tiếng ve xuyên qua đá núi, lắng đọng vào tâm thức chúng ta, tan biến trong biển Thiền thẳm sâu, tịch liêu. Khi con người và sự vật ở trong cảnh cô liêu, tĩnh lặng sâu xa cũng là lúc tất cả đã chìm vào hư vô, thoát khỏi bản ngã để tiến đến trạng thái vô ngã. Bài thơ thấm đẫm chất Sabi - niềm cô tịch vô ngã và mang màu sắc Thiền tông khá đậm. Âm thanh tiếng ve trong bài thơ tạo nên khúc nhạc buồn, lắng đọng mà thẳm sâu.

Việc miêu tả nhiều loại âm thanh trong một bài thơ của Basho cũng tạo nên hiệu quả nhất định trong việc thể hiện tính nhạc:

Ika uri no

koe magirawashi

hototogisu.

Tiếng rao người bán cá

hòa trong tiếng chim cu

vang vang mùa hạ.

Âm thanh tiếng rao người bán cá và âm thanh tiếng chim cu hòa vào nhau tạo nên khúc nhạc rộn ràng, tươi vui mà giản dị của cuộc sống.

2.2.2. Biểu hiện ở sự trùng điệp của ngôn ngữ thơ và ở cách ngắt nhịp

Ở sự trùng điệp của ngôn ngữ thơ

Chất nhạc trong thơ Basho không chỉ biểu hiện ở cảm xúc của tác giả, ở âm thanh cuộc sống được miêu tả mà còn biểu hiện ở sự trùng điệp của ngôn ngữ thơ.

Trùng điệp là một đặc điểm của ngôn ngữ thơ. Sự trùng điệp của âm vận, trùng điệp ở nhịp, trùng điệp ở ý thơ, trùng điệp của câu thơ hoặc một bộ phận của câu có tác dụng tạo những nhịp điệu tương ứng trong suốt bài thơ, tạo những tiếng vang, tiếng rung vốn không có trong yếu tố cá biệt khi đứng riêng lẻ.

Thơ khác với văn xuôi chủ yếu ở nhịp điệu, nhịp điệu là linh hồn của thơ. Có thể nói thơ là văn bản được tổ chức bằng nhịp điệu của ngôn từ. Basho đã sử dụng điệp từ trong nhiều bài thơ haiku, tạo nên chất nhạc độc đáo cho thơ ông:

Kyô nite mo

kyô natsukashi ya

hototogisu.

Ở kinh đô

cũng nhớ tiếc kinh đô

chim đỗ quyên.

Basho sống ở Kyoto từ thời trẻ (từ năm hai mươi hai tuổi đến năm hai mươi tám tuổi), sau đó lên Edo (nay là Tokyo). Hai mươi năm sau, cuối đời trở lại thăm Kyoto ông đã viết nên bài thơ này. Bài thơ điệp lại hai lần từ "kyô" (Kyoto - kinh đô, cố đô của Nhật Bản) tạo nên một kiến trúc câu âm vang, tràn đầy chất nhạc biểu hiện nỗi nhớ da diết quá khứ đã qua của chủ thể trữ tình. Câu thơ đầu miêu tả không gian, địa điểm đến của chủ thể trữ tình: kinh đô Kyoto, nơi Basho sống một thời trai trẻ. Câu thơ thứ hai thể hiện cảm xúc, nỗi niềm nhớ tiếc Kyoto. Câu thơ cuối nhắc đến loài chim quen thuộc, rất nổi tiếng trong thơ tanka và haiku của người Nhật Bản: hototogisu (chim đỗ quyên, chim cu). Basho quay trở lại kinh đô Kyoto sau hai mươi năm xa cách, nghe tiếng chim đỗ quyên hót mà nhớ Kyoto năm nào. Âm thanh tiếng chim hót đã đánh thức cảm xúc của nhân vật trữ tình, gợi lên nỗi nhớ về một thời quá khứ, một thời tuổi trẻ. Trong bài thơ, tác giả nói đến tiếng chim hototogisu hót, khiến cho chủ thể trữ tình ở kinh đô mà nhớ kinh đô: Ở giữa kinh đô ngày nay mà nhớ kinh đô ngày xưa, một kinh đô đầy kỉ niệm gắn với một thời trai trẻ. Đó là tiếng chim hay tiếng người? Điều ấy mơ hồ không biết được, có thể là cả hai. Đó có thể là tiếng lòng của tác giả nhớ kinh đô ngày xưa, một kinh đô đầy kỉ niệm, một kinh đô đã qua rồi... Hai mươi năm đã trôi qua, kinh đô đã có nhiều thay đổi, người đi xa lâu ngày trở về có lẽ đang dạo bước trên đường phố kinh đô và cố tìm lại dấu vết của đường xưa, phố cũ, cũng có thể cả người xưa nữa... Bài thơ không nói cụ thể nhân vật trữ tình nhớ điều gì ở kinh đô, đây là điều mơ hồ, là khoảng trống để cho độc giả phải suy ngẫm, liên tưởng, tưởng tượng. Bài thơ thể hiện nỗi buồn, sự nhớ tiếc quá khứ của nhân vật trữ tình và sự vô thường của thế gian.

Điệp từ "kyô" đã tạo thêm chất nhạc cho bài thơ, góp phần biểu hiện cảm xúc nhớ tiếc quá khứ của chủ thể trữ tình, làm tăng thêm âm hưởng buồn da diết toát lên từ bài thơ.

Bài thơ sau của Basho cũng có điệp từ:

Oki yo oki yo

waga tomo ni sen

neru kochô.

Dậy đi thôi

cùng ta kết bạn

cánh bướm ngủ say ơi.

Bài thơ điệp lại hai lần từ “Oki yo” (Oki yo oki yo - dậy đi, dậy đi) như một lời giục giã, mời gọi da diết, thể hiện ước muốn được giao hòa, san sẻ, gắn bó của con người với thiên nhiên vạn vật. Điệp từ trong câu thơ đầu đã tăng thêm chất nhạc cho bài thơ, khiến cho lời giục giã, mời gọi kết bạn của chủ thể trữ tình thêm gấp gáp, khẩn thiết và da diết hơn.

Trong bài thơ Đã từng, Xuân Diệu đã điệp lại từ "đã từng" gần như trong toàn bộ bài thơ:

                               Tôi đã từng yêu, đã biết yêu,

                               Đã từng thương nhớ những buổi chiều.

                               Đã từng thao thức bao đêm trắng,

                               Đã từng tận hiểu nghĩa chữ yêu.

                               Đã từng già đi trước tuổi đời,

                               Đã từng đau khổ mãi không thôi.

                               Đã từng dang dở bao oan trái,

                               Nước mắt trào rơi giữa cuộc đời.

Điệp từ "đã từng" được nhắc lại nhiều lần làm nổi bật sự từng trải của nhân vật trữ tình. Nhân vật trữ tình đã nếm trải tất cả những ngọt ngào, chua chát, đắng cay, cả hạnh phúc và khổ đau trong cuộc sống. Kiểu trùng điệp từ như trên chẳng những làm cho những chữ rất thông thường bỗng có âm vang khác lạ, tạo nên chất nhạc đậm đà cho bài thơ mà còn làm cho bài thơ liền mạch, giúp biểu đạt rõ nét nhất nội dung cảm xúc của nhà thơ.

Cái đẹp trùng điệp của ngôn ngữ thơ Basho không chỉ do nhà thơ có ý thức láy đi láy lại một từ mà có khi còn do nhà thơ láy lại toàn bộ câu thơ trong cả bài thơ:

Matsushima ya

a Matsushima ya

Matsushima ya.

Kìa Tùng Đảo

ô kìa Tùng Đảo

kìa Tùng Đảo.

Điệp lại toàn bộ câu thơ trong cả bài thơ hiếm gặp trong thơ ca nói chung. Toàn bài thơ của Basho điệp lại câu thơ thứ nhất "Matsushima ya" tạo nên sự độc đáo về nội dung và sự đặc sắc trong chất nhạc của bài thơ. Bài thơ vang lên tiếng reo hân hoan, đầy thán phục của nhân vật trữ tình trước một danh lam thắng cảnh tuyệt vời có một không hai của Nhật Bản, đó là Matsushima (Tùng Đảo) - thắng cảnh thần tiên, nơi hội tụ mọi vẻ đẹp của thiên nhiên: Biển xanh tuyệt đẹp bao bọc những hòn đảo xinh xắn với đủ mọi hình thù, bầu trời trong xanh, sóng biển rì rào, màu xanh của cây tùng trên đảo... Tất cả gợi nên vẻ đẹp duyên dáng của Matsushima - kì quan tuyệt tác của thiên nhiên Nhật Bản. Chất nhạc của bài thơ âm vang, lan tỏa từ chính sự độc đáo trong nghệ thuật trùng điệp của nhà thơ.

*Ở cách ngắt nhịp

Chất nhạc trong thơ Basho còn biểu hiện ở cách ngắt nhịp. Một bài thơ haiku chuẩn thường ngắt nhịp ở vị trí năm và mười hai, nghĩa là sau dòng thứ nhất và dòng thứ hai:

Samazama no/

koto omoichasu/                

sakura kana.

Nhiều điều xiết bao/

gợi hồn ta nhớ/

những cánh hoa đào.

Sau khi đi thăm Kasshima và Yoshino, Basho trở về lâu đài xưa ở Iga vào giữa mùa xuân, đứng dưới hàng cây anh đào mà hơn hai mươi năm trước, ông và người bạn thân thiết, yểu mệnh là Yoshitada (chết lúc hai tư tuổi) từng vui đùa học tập. Bùi ngùi, nhớ tiếc kỉ niệm xưa, ông đã sáng tác bài thơ này. Cách ngắt nhịp thành ba đoạn trong bài thơ tạo nên âm điệu trầm lắng, buồn thương man mác khi đọc lên.

Nhạc tính trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu rất độc đáo. Bài thơ Việt Bắc với tình thơ tha thiết, điệu thơ êm ái, là một ca khúc trữ tình nồng nàn và sôi nổi bậc nhất trong thơ ca cách mạng hiện đại Việt Nam. Bài thơ mở đầu bằng câu hỏi ngọt ngào:

       Mình về mình có nhớ ta

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng

       Mình về mình có nhớ không

Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?

Sự láy đi láy lại "Mình về mình có nhớ..." vang lên như một niềm day dứt khôn nguôi của người ở lại. Hai câu hỏi da diết vang lên, một câu hỏi về thời gian, một câu hỏi về không gian gói gọn cả một thời cách mạng, một vùng cách mạng và tâm trạng buồn day dứt khi chia ly của người ở lại. Nếu ở bốn câu đầu với nhịp thơ lục bát đều đặn, nhịp nhàng diễn tả nỗi niềm day dứt, bâng khuâng của người ở lại thì đến hai câu thơ tiếp theo:

       Áo chàm đưa/buổi phân li

Cầm tay nhau/biết nói gì/hôm nay...

nhịp thơ đã có sự thay đổi. Nhịp thơ ở hai câu thơ này đã diễn tả thần tình một thoáng ngập ngừng pha chút bối rối của người đi. Chút ngập ngừng này tạo ra một phút lặng cho chuỗi câu hỏi tiếp theo được vang lên dồn dập, tha thiết hơn.

Như vậy, nhạc tính trong thơ là khúc nhạc của cảm xúc, của tâm hồn và cách tổ chức từ ngữ, câu thơ, dòng thơ, bài thơ của nhà thơ. Nhạc tính trong thơ haiku của Basho rất đa dạng, tương ứng với sự đa dạng của cảm xúc dâng trào. Sự giàu có của nhạc tính trong thơ haiku Basho thể hiện ở các sắc thái tâm trạng của nhà thơ, ở âm thanh của cuộc sống được miêu tả, đồng thời thể hiện ở tài năng sử dụng ngôn ngữ của chủ thể sáng tạo.

3. Kết luận

Tài năng sáng tạo bậc thầy của Basho thể hiện rõ trong lĩnh vực ngôn ngữ. Basho đã để lại các ẩn ý vào từng câu chữ nhỏ nhắn, giản dị. Đọc và suy ngẫm kĩ ta sẽ nhận thấy ngôn ngữ thơ haiku Basho giàu nhạc tính và cũng thật tinh tế, sâu sắc. Từng từ ngữ, từng bức tranh phong cảnh nhỏ nhắn tưởng như không nói gì nhưng lại gợi cho ta nhiều điều qua cách miêu tả màu sắc, đường nét, ánh sáng, âm thanh của cuộc sống và khúc nhạc của tâm hồn Basho - một tâm hồn tinh tế mà thẳm sâu trước sự vận động, biến chuyển của thiên nhiên, tạo vật. Cảm xúc tinh tế qua nhịp đập con tim được bộc lộ cùng với hệ thống âm thanh sinh động của cuộc sống được miêu tả, cách sử dụng từ ngữ biến hóa, cách tổ chức ngôn ngữ điêu luyện và độc đáo trong thơ Basho đã tạo nên chất nhạc trong thơ ông, khiến cho thơ haiku Basho luôn làm say lòng mọi thế hệ độc giả.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nhật Chiêu (2003), Văn học Nhật Bản từ khởi thủy đến 1868, NXB Giáo dục, Hà Nội.

2. Nhật Chiêu (1994), Basho và thơ haiku, NXB Văn học, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Lê Bá Hán (chủ biên) (1997), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội.

4. Lê Từ Hiển (2007), Haiku hoa thời gian, NXB Giáo dục, Hà Nội.

5. Bùi Công Hùng (2000), Quá trình sáng tạo thơ ca, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội.

6. Đỗ Văn Khang (2002), Mỹ học đại cương, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội.

7. Hà Văn Lưỡng (2010), “Những sắc thái thẩm mĩ trong thơ haiku”, httt:/tapchisonghuong.com.vn.

8. Phương Lựu (2003), Lý luận văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội.

9. Hồ Á Mẫn (2011), Giáo trình văn học so sánh, NXB Giáo dục, Hà Nội.

10. Hoàng Phê (chủ biên) (1992), Từ điển tiếng Việt, NXB Trần Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

 T. J. Logan Jersey