NGẪU NHIÊN VÀ CÔ ĐƠN TRONG TIỂU THUYẾT PAUL AUSTER

TS Nguyễn Thị Ngọc Thuý

Khoa Ngữ Văn – Trường Đại học Tây Bắc

1. Đặt vấn đề

Paul Auster (1947- ) là một trong những tên tuổi nổi bật của văn học Mỹ thế kỷ XXI. Các tác phẩm của ông đã được dịch sang 30 thứ tiếng khác nhau và nhận được nhiều giải thưởng danh giá của Mỹ và quốc tế. Gần đây nhất, ông được đề cử vào danh sách giải thưởng Ucer năm 2017 với tiểu thuyết 4.3.2.1. Paul Auster đã từng giữ vị trí phó chủ tịch Hội Văn bút Hoa Kì. Tạp chí L’ Express (Pháp) đánh giá ông là một trong những phát hiện lớn của văn học Mỹ những năm vừa qua. Tài năng của Auster đã thực sự chói sáng. Tác phẩm của ông hấp dẫn người đọc bởi đề cập đến những vấn đề mang tính triết học và chứa đựng tư tưởng nhân văn sâu sắc của đời sống con người: số phận, lòng trung thành, ý thức trách nhiệm, bản chất của cái ác và ý nghĩa thực sự của tự do...

Đến với thế giới nhân vật của Paul Auster, ta bắt gặp những chân dung con người đánh mất và tự mình cởi bỏ những mối liên hệ với đồng loại, chìm sâu vào nỗi cô đơn khôn cùng. Vì thế, khám phá, tìm hiểu sự ghép nối giữa ngẫu nhiên và cô đơn từ phương diện Ngẫu nhiên khởi phát cô đơn ở nghệ thuật khắc hoạ nhân vật trong tác phẩm của nhà văn này có thể được xem như một góc nhìn để xác định sự biểu hiện của mối liên hệ giữa con người với những điều bất ngờ, ngẫu nhiên của cuộc sống.

2. Nội dung

Henri Besnac, trong Dẫn giải ý tưởng văn chương, đã định danh khái niệm cô đơn (Solitude): “Thuật ngữ cô đơn chỉ: - hoặc một nơi hiu quạnh; - hoặc những tác động của nơi ấy, nghĩa là trạng thái của người sống một mình hay của người cảm thấy duy chỉ có mình với chính mình trong khung cảnh nào đó (...). Sự cô đơn đẩy cá nhân đến trốn tránh xã hội, cái xã hội vất bỏ cá nhân, do đó cá nhân từ bỏ xã hội ấy” [4,797]. Như thế, cô đơn là trạng thái con người bị xô đẩy, hoặc tự đặt mình tách biệt với quỹ đạo gắn kết với cộng đồng.

Cô đơn và hành trình tìm kiếm ý nghĩa của sự tồn tại là một trong những chủ đề luôn được đề cập đến trong các tác phẩm của Paul Auster. Có thể nói, với hình tượng Jim Nashe trong Nhạc đời may rủi, bộ ba hình tượng nhân vật huyết thống trong Moon Palace, Khởi sinh của cô độc,… ông đã góp thêm cho văn học phương Tây hiện đại những biểu tượng đầy ám ảnh, giàu ý nghĩa về thân phận con người cô đơn.

Khảo sát các tác phẩm của Paul Auster, chúng tôi thấy số lượng nhân vật rất khiêm tốn. Xoay quanh câu chuyện chính thường chỉ liên quan nhiều nhất đến năm, sáu nhân vật. Thậm chí, trong số các nhân vật được kể đến có những người chết, mất tích. Điều đó cho thấy: trong không gian nghệ thuật của nhà văn, thế giới đời sống xuất hiện rất hạn chế các mối quan hệ, sự liên hệ giữa người với người trở nên hạn hẹp, thiếu kết nối. Một thế giới vốn rộng mênh mông, đan cài vô vàn mối quan hệ lại trở nên nhỏ bé, khu biệt. Các nhân vật dường đóng khung sự tồn tại của mình trong thế giới rời rạc, đứt gãy. 

Khi biểu hiện một vấn đề đã trở nên quen thuộc, Auster lại có lối biểu hiện của riêng mình – mang đậm dấu ấn của cảm quan hậu hiện đại. Đó là xây dựng hình tượng những con người ngẫu nhiên bị đẩy vào cô đơn, ngẫu nhiên tìm đến cô đơn, chứ không phải con người chủ động đấu tranh để giải thoát khỏi sự cô đơn như trong văn học hiện đại. Ở đây, đối diện với cái ngẫu nhiên quyền uy, con người như những con rối quay cuồng trong đổ vỡ, tuyệt vọng, thất bại. Để rồi họ trốn chạy thực tại, đào thoát khỏi những mối quan hệ, môi trường sống quen thuộc để ẩn nấp trong nỗi cô đơn, gặm nhấm nỗi đau. Theo đó, cái ngẫu nhiên khởi phát sự cô đơn, đặt con người trong trạng thái tách lìa với thế giới, xa lạ với chính mình.

Con người cô đơn của Paul Auster vô thức đẩy mình ra bên lìa cuộc sống, trở thành “kẻ vô gia cư tự nguyện trên cõi cô đơn của chính mình” [3,80] sau những cú hích liên tiếp của ngẫu nhiên. Cái nguyên ủy sâu xa nhất khiến họ rời bỏ thực tại tìm đến cõi tự do tuyệt đối ấy chính là những chấn thương tinh thần ghê gớm, là sự hoài nghi về lẽ tồn tại của chính mình.

Trong Moon Palace, Nhạc đời may rủi, Khởi sinh của cô độc, Thành phố thuỷ tinh..., ta đều bắt gặp hiện tượng phổ biến: cái ngẫu nhiên của số phận đẩy các nhân vật vào chốn cô đơn. Ở đây, chúng tôi tập trung làm nổi bật vấn đề con người lạc vào cõi cô đơn bởi sự tác động của vô vàn ngẫu nhiên.

Cách kiến tạo các sự kiện trong tác phẩm của Paul Auster đã tạo dựng nên số phận những con người cô đơn. Các sự kiện thường xảy đến bất ngờ, đột ngột, hoặc dựa vào lẽ rủi may không thể định liệu. Những sự kiện ngẫu nhiên ấy có thể liệt kê như tai nạn, chiến tranh, sự hiểu lầm, những canh bạc, sự vô tâm, sự lạc đường, cả những nỗi niềm đau khổ, tuyệt vọng. Nó có thể đến từ những tác động bên ngoài, hay những đứt gẫy bất ngờ của thái độ cảm xúc. Có khi là diễn tiến của những canh bạc đỏ đen may rủi mà con người đặt cược số phận mình vào trong trò chơi. Có khi là những nỗi đau cuồng dại dâng trào trong tâm hồn tuyệt vọng cũng đẩy con người vào lẽ cô đơn, tránh xa cuộc sống nhân sinh.

Moon Palace, sự ngẫu nhiên của số phận khiến Julian Solomon lớn lên như một con chim bị gãy cánh, cố gắng vùng vẫy để hoà mình vào với cuộc sống bình thường. Ông cô đơn và hoàn toàn tách biệt với mọi người: “một sự cô đơn hình quả trứng giống như củ hành, lăn đi lăn lại một cách vất vả qua sự đổ nát của chính ý thức của ông: Đó là một tuổi thơ ảm đạm” [2,401]. Toàn bộ thời thơ ấu, Baber sống với ông bà ngoại và người dì ruột. Không ai biết tin tức gì về cha của ông, còn người mẹ thì bệnh tật kéo dài phải cách ly với tất cả mọi người.

Mối chân tình Baber dành cho cô thiếu nữ Emily gặp nhiều trắc trở khiến con người ấy càng thêm cô đơn. Thời gian trôi dần cũng là một phương thuốc hữu hiệu phần nào hàn gắn vết thương lòng trong ông với mối tình sâu đậm khó phai mờ. Ông sống thoải mái và yêu đời hơn. Ông vẫn không ngần ngại ăn uống để mặc cho trọng lượng cơ thể tăng lên đến khủng khiếp. Và thật vô tình, ông đã bắt gặp thông tin về Victor Fogg và sau khi đấu tranh giữa việc viết thư hay gọi điện, ông đã quyết định viết thư hỏi thăm về Emily. Ông không dám gọi điện vì sự đường đột của mình có thể sẽ làm cho Emily tổn thương một lần nữa. Và một phần đây cũng là một manh mối bất ngờ làm cho ông bối rối chưa biết phải xử lý thế nào. Vì hình ảnh của Emily đã từ lâu không thể phai nhạt trong ông. Mọi chuyện như mới vừa hôm qua. Ông vẫn không hay biết về đứa con trai của mình và ban đầu chỉ muốn quan tâm xem Emily sống thế nào, cô có lấy chồng không, cô đã đi đâu và đã làm gì... nhưng không ngờ (lại không ngờ) Victor Fogg đã nghi ngại về mối quan hệ này và đã chủ động chuyển chỗ ở của hai bác cháu. Hy vọng tan thành mây khói và Baber lại bị rơi vào sự trống rỗng, không còn gì để mà hy vọng. Ông tiếp tục sống trong sự cô đơn và nỗi ngờ vực về Emily mà không sao có cách nào giải thích được.

Người đàn ông chưa một lần biết có sự tồn tại của đứa con ruột của mình trên đời cuối cùng cũng được đoàn tụ với con. Nhưng Baber đã phải trả một cái giá rất đắt cho sự đoàn tụ ấy. Baber đã bước vào ngã rẽ trong mê lộ của mình khi số phận run rủi cho hai cha con ông gặp nhau. Rằng vô tình, người làm công tận tuỵ, người bạn tâm giao với cha ông những ngày cuối đời lại chính là đứa con trai thất lạc bao lâu của ông. Tuy nhiên, sự tái hợp giữa Fogg và Baber đã rất ngắn ngủi và Baber đã qua đời trong một tai nạn kỳ lạ. Theo chúng tôi, chính việc sa chân vào cái huyệt của người chết một cách bất ngờ này của Baber cũng là một mê lộ trong cuộc đời của ông. Cả hai cha con lên đường để xác định cái hang mà Effing đã từng đến. Trong chuyến đi ấy, cả hai đã đến thăm ngôi mộ của Emily Fogg. Và không thể che giấu được tình cảm của mình, Baber đã quá xúc động nức nở với người con trai những điều bấy lâu nay ông chôn kín trong lòng. Nhưng trong lúc ấy, Fogg lại không hề thấy thương cảm cho người cha đẻ của anh chút nào, mà choán ngợp lên anh lại là một sự căm thù đến tột độ: “Ông đang nói gì thế hả? Nói gì đi, cái đồ béo ị. Nói gì đi, không tôi đập vỡ mặt ông ra đấy. Ông đã lừa tôi, và giờ đây ông lại còn muốn tôi tiếc nuối hộ ông nữa. Cơn giận của tôi bùng lên như kẻ điên, tôi hét tung lồng phổi vào bầu không khí nóng nực mùa hè” [4,463]. Trong lúc tuyệt vọng và đau đớn nhất, Baber đã không nhận được sự cảm thông và chia sẻ từ con trai. Chính đứa con trai lưu lạc bấy lâu nay đã không chấp nhận cha và đã phỉ nhổ vào cái gọi là tình cha con lúc ấy. Quá xúc động, thất vọng và choáng váng, Baber đã bước hụt chân vào ngôi mộ đã đào sẵn, bị thương rất nặng. Thân hình béo phì của Beber cộng với những vết thương lòng nặng không kém trọng lượng cơ thể mà ông ta đã mang bao nhiêu năm qua đã có một chiếc mộ đào sẵn để chôn giấu. Baber như đã đào sẵn mộ cho cái chết của mình. Mê cung cuộc sống của Baber như thể hình ngôi mộ này. Cả cuộc đời của ông là một chuỗi những đau thương, mất mát. Quả là một số phận đáng thương và nghiệt ngã!

Còn gì khó khăn hơn khi đứa con trai bao nhiêu năm thất lạc đang đứng trước mặt mình, ăn ngủ cùng mình mà Baber không sao tìm được cách nào để giải bày cùng với nó. Sau khi nói rõ sự thật cho Fogg biết, ông đã bất ngờ phải chịu một sự trừng phạt khủng khiếp. Ông phải nằm một chỗ và chết một cách lặng lẽ. Chính Fogg đã phải thốt lên rằng: “Ngay cả giờ đây, tôi vẫn không thể nghĩ đến Baber mà lòng không tràn ngập sự thương xót. Nếu không bao giờ biết bố tôi là ai, thì ít nhất tôi cũng biết rằng một ông bố đã từng tồn tại. Dù sao thì một đứa trẻ cũng phải được sinh ra từ đâu đó, và người đàn ông sinh ra đứa trẻ đó dù muốn hay không cũng đều được gọi là một ông bố. Một mặt, Baber không biết gì cả. Ông chỉ ngủ với mẹ tôi một lần duy nhất (trong một đêm ẩm ướt, không trăng không sao vào mùa xuân năm 1946), và ngay hôm sau bà đã đi khỏi, biến mất hoàn toàn khỏi cuộc đời ông. Ông không biết là bà đã có thai, không biết mình có một đứa con, không biết một chút gì về những gì đã làm. Nhìn vào thảm hoạ tiếp nối sau đó, dường như sẽ là công bằng nếu ông nhận được cái gì đó để đền bù cho những đau đớn của ông, ngay cả khi đó chỉ là việc biết được những gì ông đã làm” [2,467].

Giống như người cha của mình Thomas Effing, cái chết đã đặt dấu chấm hết cho mê lộ cuộc đời của cả hai cha con. Chỉ có điều, cái chết đến với Effing là được chuẩn bị trước, thậm chí ông còn đoán định được ngày mình vĩnh viễn lìa khỏi thế giới còn với Solomon Baber thì khác, người đọc cảm thấy ông vẫn còn rất nuối tiếc cuộc sống của mình. Ông chỉ mới được hưởng hạnh phúc quá ngắn ngủi là tìm được đứa con trai yêu dấu, ông muốn được bù đắp cho nó những tháng ngày không có cha bên cạnh. Bởi vì ông cũng là một đứa trẻ không cha nên ông rất thấm thía điều đó. Có thể Fogg còn giận và căm ghét ông nhưng ông tin rằng cuối cùng thì anh cũng sẽ hiểu và tha thứ cho những lỗi lầm của ông. Người đàn ông ấy mãi cô đơn trong cõi sống với những niềm khao khát và nỗi đau.

Với Jim Nashe trong Nhạc đời may rủi, chấn thương đầu tiên và cũng là chấn thương lớn nhất tạo nên mặc cảm cô đơn sâu xa nơi tâm hồn anh trong suốt cuộc đời là sự ruồng bỏ của người cha. Trong tác phẩm của Paul Auster, hầu hết các nhân vật đều là những thân phận bị bỏ rơi, bị lãng quên ngay từ khi mới chào đời bởi những người cha. Thân phận mồ côi, bị chối từ, dường như khiến các nhân vật luôn bị nỗi cô đơn bao vây, ám ảnh, dễ tổn thương, đầy mặc cảm. Với Nashi, hơn ba mươi năm, hình bóng cha trong anh chỉ là những cảm giác mờ nhòe qua trí nhớ non nớt của một đứa bé lên hai và mối tủi hờn đầy xa xót. Mối liên hệ giữa họ, duy nhất, chỉ là bản di chúc thừa kế muộn mằn. Nó có thể giúp anh bớt khốn khó nhưng không thể hình thành trong anh những cảm xúc thiêng liêng về tình phụ tử. “Không thể có được cảm giác thương tiếc, nhưng Nashe cho rằng rồi thể nào anh cũng sẽ xúc động - vì cái gì đó gần như một nỗi buồn chẳng hạn, hoặc một cơn ân hận bất thần vào phút chót” [1,11]. Và cũng thật vô tình, bản di chúc “đến lúc ấy thì đã quá muộn”. Nó không thể giúp anh lấy lại những gì đã mất vì cảnh túng thiếu bởi “quá nhiều thứ đã khởi động trong vòng năm tháng trước đó, và ngay cả tiền cũng không thể nào ngăn chúng lại được nữa” [1,9].

Khi Nashe không có tiền hạnh phúc đã rời bỏ anh và rồi món tiền khổng lồ bất ngờ cũng không thể đem hạnh phúc trở về. Anh chua xót nhận ra mình chỉ là con rối trong một vở kịch ngây ngô rẻ tiền, dường như mặt đất xung quanh đang nứt ra và nuốt chửng lấy tâm hồn mình.

Khi con người không còn một điểm tựa tinh thần, một mối tương giao với đồng loại, tất yếu, họ sẽ rơi vào nỗi cô đơn, mất mát. Nhưng sẽ chua xót và đau đớn hơn là khi con người nhận ra sự tồn tại của mình không còn có ý nghĩa, bản thân mình không thể là điểm tựa cho những người mình yêu thương. Bởi sống trong thế giới bao la, mỗi người luôn khao khát khẳng định sự tồn tại của mình một cách có ý nghĩa nhất, khẳng định cái tôi của mình như một chủ thể đầy kiêu hãnh.

Nếu trước kia, khi cô vợ bỏ đi, Nashe đau khổ nhưng vẫn phải kiên cường bám trụ lấy công việc và cuộc sống vì đôi vai anh còn phải gánh trách nhiệm kiếm tiền nuôi dưỡng bé Julliette. Giờ đây, với món tiền thừa kế ngẫu nhiên được hưởng, anh có đủ điều kiện để lo cho con gái một cuộc sống đủ đầy, nhưng nó sẽ tước đi của anh cái trách nhiệm thiêng liêng đó. Cùng lúc ấy, anh đau đớn nhận ra: thời gian vừa qua, công việc và khoảng cách đã xóa nhòa hình ảnh của mình trong tâm hồn non nớt của con bé, điều đó có nghĩa, trên cõi đời này anh chẳng còn được ai trông mong, chờ đợi. Trống rỗng, bất lực, vô trách nhiệm trước cuộc sống, Nashe trốn chạy vào thế giới tự do mà cô độc của riêng anh, tự cắt đứt sợi dây ràng buộc mình với thế giới.

Cô đơn là bản chất của con người hiện đại. Trước Auster, độc giả đã từng bắt gặp nhiều hình ảnh con người cô đơn trong các tác phẩm của Kafka, Camus. Đó đều là những sự cô đơn đến khủng khiếp mà con người phải chịu. Nhân vật của Kafka luôn cảm thấy mình đã đánh mất chiếc chìa khoá để mở cánh cổng cuộc đời. Họ bơ vơ, lạc lõng, không phương hướng, không nơi bấu víu, họ lạc vào mê cung của nỗi lo âu và sự tha hoá, của trạng thái phi lý toát lên từ lời kêu cứu của con người và sự lặng im của đời sống. Bởi vì những con người ấy sống trong thời đại “mất Chúa” hiểm hoạ phát xít đang rình rập, nền kỹ trị tha hoá lương tâm và xóa dấu lương tri. Con người trở thành những thực thể phân mảnh, không có khả năng kết nối với người khác để tạo thành cộng đồng theo ý nghĩa đích thực nhất. Nhưng thế giới không chỉ là một mê cung riêng với Kafka. Thế giới luôn biến đổi và đến thời đại nào nó cũng trở thành mê cung của các nhà văn có sự nhạy cảm tâm hồn và cái nhìn thấu thị. Với Auster, thế giới cũng là một mê cung. Mê cung của Auster là mê cung của chủ nghĩa Hậu hiện đại. Ở đó, cuộc sống của con người luôn luôn có những ngẫu nhiên, biến hoá dị thường gây tâm lý bất an và làm họ mất phương hướng, đẩy họ vào kết thúc bi kịch và cái chết chính là một định mệnh tất yếu, an bài. Nashe, Solomon Baber đã kết thúc mê lộ cuộc đời bằng những cái chết hết sức ngẫu nhiên và cái chết là cách giải thoát tất yếu. Điều đó cũng có nghĩa cái ngẫu nhiên đã đặt họ vĩnh viễn tồn tại trong cõi cô đơn.

3. Kết luận

Qua khảo sát thế giới nghệ thuật của Paul Auster, chúng tôi nhận thấy nỗi cô đơn ám ảnh, bàng bạc trong thân phận, trong cõi sống của hầu hết các nhân vật. Cô đơn trong cách họ đến với cuộc đời, tồn tại giữa dòng đời bao sóng gió xoay vần và khi từ giã cõi đời. Qua đó, dường như nhà văn muốn gửi gắm thông điệp: cô đơn như là một trong những trạng huống đặc trưng của đời sống nơi xã hội hiện đại, nơi mà cuộc sống gấp gáp, quay cuồng với tốc độ, nhịp điệu chóng mặt, với biết bao mưu cầu, toan tính. Không gian thực tại ngày càng rộng mở với những chiều kích vô tận mà con người tham vọng chiếm lĩnh. Chính nơi ấy, với nhịp sống ấy con người đối diện, va đập với bao điều ngẫu nhiên, mà sự đổ vỡ luôn thường trực. Để rồi cô đơn hiện thân là một dạng thức tồn tại của thân phận người, nối tiếp sự biến dạng, sự xa lạ và sự chờ đợi mà các tác giả như Kafka, Camus, Becket,… đã đề cập từ trước đó.

Nhưng điều ý nghĩa là ở chỗ, Paul Auster, khi biểu hiện nỗi cô đơn triền miên của con người giữa thế giới và với chính mình, ông luôn đặt ra vấn đề ý thức về sự bất ổn khủng khiếp không làm triệt tiêu những nhu cầu đạo đức về tính nghiêm túc của mối ràng buộc nhân quần. Hơn nữa, ông chỉ ra sự vận động của nhận thức con người hậu hiện đại trong việc truy tìm và thấu triệt về lẽ tồn tại tất yếu của cái cô đơn do ngẫu nhiên mang lại trong thế giới đời sống bao  la. Các tác phẩm để lại cho người đọc niềm day dứt khôn nguôi về thân phận con người nhưng chắc chắn không làm họ mất đi niềm tin, tình yêu cuộc sống, hơn nữa đặt ra cho họ sự ý thức một cách sâu sắc, trí tuệ về sự vận động của chính sức mạnh nội tại nơi con người mình với vô vàn những sự biến chuyển, tác động từ thế giới bao la và đầy bất trắc, bên ngoài mình – vận động để đồng hành và cũng là để vượt thoát khỏi cái ngẫu nhiên.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Auster P. (2007), Nhạc đời may rủi, (Trịnh Lữ dịch), Nxb Phụ nữ, Hà Nội.

2. Auster  P. (2009), Moon Palace, (Cao Việt Dũng dịch), Nxb Văn học, Hà Nội.

3. Auster  P. (2013), Khởi sinh của cô độc, (Phương Huyên dịch), Nxb Trẻ.

4. Besnac H. (2008), Dẫn giải ý tưởng văn chương (Nguyễn Thế Công dịch), Nxb Giáo dục.

 T. J. Logan Jersey