PHÂN LOẠI HÌNH TƯỢNG CÁNH CHIM TRONG THƠ LÍ BẠCH VÀ ĐỖ PHỦ

 

                                                                            ThS. Hà Thị Hải

                                                                           Khoa Ngữ văn

 

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

            Lí Bạch và Đỗ Phủ là hai đỉnh cao trong lịch sử phát triển thơ ca Trung Quốc. Hình tượng cánh chim trong thơ của hai ông là một trong những cống hiến của hai thi nhân về mặt xây dựng hình tượng nghệ thuật sinh động, phong phú, đa dạng và tạo nên sức hấp dẫn, lôi cuốn đối với chúng ta. Chúng tôi đã tiến hành thống kê những bài thơ có hình tượng cánh chim trong thơ của Lí Bạch và Đỗ Phủ ở cuốn Đường thi tuyển dịch  của nhà xuất bản Thuận Hoá, 1997, Lê Nguyễn Lưu giới thiệu và tuyển dịch: Trong số 115 bài thơ của Lí Bạch có 34 bài thơ viết về hình tượng cánh chim và trong số 166 bài thơ của Đỗ Phủ có 51 bài có những câu thơ viết về hình tượng cánh chim. Như vậy, căn cứ vào số liệu khảo sát, chúng tôi thấy hai nhà thơ lớn bậc nhất đời Đường đều đã dành một vị trí đáng kể cho hình tượng cánh chim. Tìm hiểu 85 bài thơ có hình tượng cánh chim trong thơ Lí Bạch và Đỗ Phủ, chúng tôi thấy có nhiều cách phân loại căn cứ vào những tiêu chí khác nhau. Mỗi cách phân chia lại có sự hợp lý riêng và từ đó nổi bật lên những tầng lớp ý nghĩa riêng của hình tượng cánh chim. Trong bài viết nhỏ này, sau đây người viết sẽ đưa ra hai cách phân loại dựa trên những tiêu chí khác nhau về hình tượng cánh chim trong thơ Lí Bạch và Đỗ Phủ.

2. NỘI DUNG CHÍNH

2.1. Dựa vào nội dung, ý nghĩa biểu đạt của hình tượng và mối quan hệ với con người có thể chia hình tượng cánh chim trong thơ Lí Bạch và Đỗ Phủ thành 4 loại: Chim anh hùng, chim thấp hèn, chim lành, chim ác

2.1.1. Chim anh hùng – chim thấp hèn

Trong thơ Đường từ chỉ chủng loại phổ biến hơn từ chỉ sự vật cụ thể. Vì thế điểu được dùng nhiều hơn ô, nha, thước, tước, âu, oanh, yến…cũng như hoa được dùng nhiều hơn mai, cúc, đào… Đỗ Phủ và Lí Bạch khi mô tả hình tượng cánh chim bản thân hai ông cũng đã phân loại chim: Phàm điểu và hảo điểu. “Phàm điểu” theo quan niệm của tác giả (Đỗ Phủ) là loại chim tầm thường, hèn kém tượng trưng cho kẻ tiểu nhân, đối lập với chim anh hùng (chim ưng) tượng trưng cho người anh hùng quân tử. Trong bài thơ Hoạ ưng, Đỗ Phủ đã khắc hoạ hình ảnh loài chim anh hùng thật sắc nét:

                                               Hà đương kích phàm điểu,

                                                Mao huyết sái bình vu.

                                                Bao giờ đánh tan bọn chim hèn kém,

                                                Máu lông tung vẫy giữa đồng cỏ bằng phẳng.

Chim ưng đâu phải loại chim lồng tù túng. Cuộc đời chim ưng là ở trên bầu trời rộng bao la, là những cuộc chiến đấu và chiến thắng. Chim ưng sẵn sàng xả thân trong cuộc chiến, sẵn sàng hy sinh để tiêu diệt loài chim hèn phàm điểu. Chiến đấu và chiến thắng loài phàm điểu, đó mới là mơ ước và khát vọng của chim ưng.

           Thực ra Đỗ Phủ không chỉ ra phàm điểu là loại chim như thế nào và loại nào là phàm điểu  nhưng qua sự đối lập hai loại chim, chim ưng anh hùng - phàm điểu chúng ta có thể hiểu  phàm điểu là loại chim hèn nhát, ti tiện, tồi tệ, cam chịu cuộc sống hèn hạ… Và chim ưng đã sẵn sàng chấp nhận tất cả để tiêu diệt bọn chúng dù phải hy sinh. Sự đối lập giữa hai loại: chim ưng -  phàm điểu càng làm nổi bật phẩm chất anh hùng dũng cảm của loài chim ưng anh hùng. Chim ưng là loài chim của lòng dũng cảm, là biểu tượng của sự hy sinh cho khát vọng, mơ ước, lý tưởng đem hết sức mình ra giúp đời của Đỗ Phủ. Hình tượng con chim ưng gẫy cánh trong thơ Lí Bạch cũng phần nào mang bóng dáng khát vọng và ý chí vươn lên vùng vẫy giữa đời nhưng thực tế không đạt được ước nguyện đó của thi nhân. Hình tượng chim ưng anh hùng của hai nhà thơ Lí Bạch và Đỗ Phủ còn là cánh chim biểu tượng cho khát vọng, ý chí vươn lên của  người quân tử theo quan niệm Đạo Nho thời bấy giờ. M. Gorki trong tác phẩm Bài ca chim ưng cũng đã đối lập chim ưng cùng khát vọng thoả chí tung hoành trên bầu trời tự do với con rắn nước hèn kém, nhu nhược, sợ chết lúc nào cũng chui lủi trong hang tối ẩm ướt và ông đã ca ngợi phẩm chất anh hùng, dũng cảm của chim ưng.

          Theo thống kê của chúng tôi Lí Bạch có 2 bài và Đỗ Phủ có 3 bài nói đến chim ưng.  Hầu hết những bài thơ này đều trực tiếp hoặc gián tiếp thể hiện tính chất nhanh nhẹn, ngang tàng và phẩm chất anh hùng của chim ưng.

2.1.2. Chim lành – chim ác

Đối lập với phàm điểu còn có loài hảo điểu (chim lành, chim tốt). Thi tiên Lí Bạch đã miêu tả loại chim này trong bài thơ Đề Đông Khê công u cư như sau:

                                               Đỗ Lăng hiền nhân thanh thả liêm,

                                               Đông Khê bốc trúc tuế thì yêm.

                                               Trạch cận thanh sơn đồng Tạ Diễu,

                                               Môn thuỳ bích liễu tựa Đào Tiềm.

                                               Hảo điểu nghênh xuân ca hậu viện...

           Hảo” là  tính từ thường dùng để chỉ phẩm chất của con người. Gắn tính từ này với loài chim thi nhân muốn khẳng định: Loài chim  không hại đồng loại, gắn bó gần gũi với đồng loại và con người chính là “hảo điểu” (chim lành, chim tốt) và ngược lại sẽ là chim ác. Mở đầu bài thơ tác giả miêu tả phẩm chất của con người “hiền nhân” vừa trong sạch, vừa liêm khiết. Cảnh sắc quanh ông thật yên tĩnh, thanh bình và cũng không kém phần thơ mộng: Có núi xanh, có liễu biếc, có hoa bay… Đặc biệt có “hảo điểu nghênh xuân ca hậu viện” (Chim lành đón xuân hót ở viện đằng sau) -  một nét chấm phá trên bức tranh phong cảnh. Tác giả không miêu tả kỹ lưỡng tiếng chim hót như thế nào, âm thanh ở đây như từ xa vẳng lại. Thi nhân chỉ gợi mà không tả - một đặc trưng của thơ cổ điển nhưng đã làm nổi bật không khí êm ả, cảnh sắc thanh bạch trong cuộc đời người ở ẩn. Ở đây “hảo điểu” và “hiền nhân  bổ sung cho nhau, gắn bó với nhau.

Hình tượng cánh chim về cội nguồn vốn là cánh chim tự nhiên. Từ xa xưa nó thuộc về hình tượng văn hoá mặt trời. Truyền thuyết Trung Quốc kể rằng: Thủa nguyên sơ, trái đất có 10 mặt trời, sau 9 mặt trời bị bắn rụng, rơi xuống là 9 con quạ vàng. Trong quá trình chinh phục tự nhiên, dần dần người ta phân chia thành 2 loại chim lành và chim ác (dựa vào mối quan hệ với con người). Trong văn học dân gian Việt Nam, chim sẻ trong truyện Tấm Cám, chim phượng hoàng trong truyện Cây khế là chim lành, chim quạ trong Tấm Cám báo điềm gở, chim đại bàng cắp công chúa trong truyện Thạch Sanh là chim ác.

Trong thơ Lí Bạch và Đỗ Phủ, những loài chim như: yến, tử quy, nhạn, âu, oanh… đều được xếp vào loại chim lành.

Đối lập với chim lành là chim ác. Trong thơ Lí Bạch và Đỗ Phủ, hình tượng chim quạ thường gắn với sự chết chóc. Loài chim ăn thịt người này là tiêu biểu cho loài chim ác:

                                                Ô diên trác nhân trường,

Hàm phi thướng quải khô thụ chi.

                                                Quạ diều rỉa ruột người,

Ngậm bay lên treo trên cành cây khô.

                                                                      (Chiến thành Nam - Lí Bạch)

         Miêu tả cảnh loài chim ác ăn thịt người chết, Lí Bạch đã thể hiện sự tàn khốc của chiến tranh: Thây chết đầy nội, con người trở thành miếng mồi cho loài ác điểu. Sức mạnh tố cáo chiến tranh rất lớn trong câu thơ trên.

            Như vậy, bốn loại chim trong thơ Lí Bạch và Đỗ Phủ mang ý nghĩa khác nhau trong việc thể hiện những vấn đề của đời sống.

2.2. Cánh chim luôn gắn với một không gian nhất định. Dựa vào các loại không gian khác nhau, ta có thể phân loại: Cánh chim trong không gian tự nhiên, cánh chim trong không gian cung đình, cánh chim trong không gian tiên cảnh, cánh chim trong không gian chiến trường.

2.2.1. Cánh chim trong không gian tự nhiên

            Hình tượng cánh chim, về cội nguồn, vốn là tự nhiên. Mọi sinh vật trên trái đất đều có không gian sống, hoạt động nhất định. Hình tượng cánh chim trong không gian tự nhiên trong thơ Lí Bạch và Đỗ Phủ rất sống động: Chúng tự do bay lượn, cất tiếng hót vang và gần gũi với nhau. Chúng thường xuất hiện trong những bài thơ tả cảnh:

                                    Lưỡng cá hoàng ly minh thúy liễu,

                                    Nhất hàng bạch lộ thướng thanh thiên.

                                    Đôi chim oanh vàng hót trong chòm liễu biếc,

                                    Một đàn cò trắng bay lên trời xanh.

(Tuyệt cú - Đỗ Phủ)

            Cảnh vật thiên nhiên trong bài thơ hòa quyện với nhau thật sống động. Đôi chim hót, đàn cò trắng bay là sự gắn bó rất tự nhiên theo đúng quy luật của cuộc sống (có đôi, có bầy đàn). Tiếng hót của đôi chim như nốt nhạc trong bản nhạc thiên nhiên sống động, vui tươi. Cánh chim cùng với bầu trời, dòng sông, sắc núi làm nên một bức tranh thiên nhiên có sức  hấp dẫn đặc biệt, thể hiện cuộc sống thanh bình, êm ả, ấm cúng.

            Còn rất nhiều bài thơ khác của Lí Bạch và Đỗ Phủ thể hiện cánh chim tự nhiên đang tự do bay lượn, làm tổ, hót vang…

                                    Chử thanh, sa bạch điểu phi hồi.

Bến trong, cát trắng, chim liệng vòng.

(Đăng cao - Đỗ Phủ)

                                   Cánh nhật oanh tương hoạ.

Suốt ngày oanh cùng nhau hót.

        (Vu sơn nhật tình - Đỗ Phủ)

                                    Ngô đồng sào yến tước,

                                    Chỉ cức thê uyên loan.

Én, sẻ làm tổ trên cây ngô đồng

Uyên loan đậu trên bụi cỏ gai.

(Cổ phong - Lí Bạch)

                                    Cốc điểu ngâm tình nhật.

Chim hang núi hót vào ngày tạnh ráo.

(Giang Hạ biệt Tống Chi Đễ - Lí Bạch)

Cánh chim trong không gian tự nhiên góp phần làm nổi bật cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp  trong những bài thơ tả cảnh của Lí Bạch và Đỗ Phủ.

2.2.2. Cánh chim trong không gian cung đình

            Bài thơ Cung trung hành lạc của Lí Bạch thể hiện rất cụ thể cánh chim trong không gian cung đình:  

                                    Ngọc lâu sào phí thúy,

                                    Kim điện tỏa uyên ương.

                                    Chim phí thuý đậu trên lầu ngọc,

                                    Đôi uyên ương nhốt trong điện vàng.

                                   

                                    Thiềm yến ngữ hoàn phi.

                                    Chin én ngoài thềm vừa hót vừa bay.

            Cánh chim trong không gian cung đình cũng giống như người cung nữ bị giam cầm tù túng. Đó là cuộc sống mất tự do, không có hạnh phúc. Mất tự do có lẽ là nỗi bất hạnh lớn nhất không chỉ của loại chim. Uyên ương “tỏa” (nhốt) trong điện vàng đối lập hoàn toàn với chim én ngoài thềm. Ngoài không gian thoáng đãng không bị giam cầm, con chim én vừa hót vừa bay.

    Cánh chim trong không gian cung đình còn gặp nhiều hoạn nạn, tai ương:

                                     Đài Bách Lương bị đốt phải bỏ đi,

                                     Bèn bay vào cung của vua Ngô.

                                    Cung vua Ngô lại bị đốt nữa,

                                    Chim con chết hết, tổ cũng nát tan.

                                    Còn lại một mình xơ xác

(Song yến ly - Lí Bạch)

        Có thể thấy, gắn với không gian cung đình là cánh chim bị giam cầm, gò bó, mất tự do và cũng đầy hoạn nạn. Cánh chim trong không gian cung đình góp phần làm rõ hơn hiện thực cuộc sống cung đình đời Đường.

2.2.3. Cánh chim trong không gian tiên cảnh

            Trong thơ Lí Bạch và Đỗ Phủ, gắn với không gian tiên cảnh là loài chim hạc, chim phụng. Tích xưa ở Trung Quốc kể rằng: Vương Tử Kiều tu luyện hơn ba mươi năm thành tiên, cưỡi hạc trắng bay đi. Ở một số nước phương Đông, đặc biệt ở Việt Nam, loài chim này thường được thể hiện trong các đền đài, đình miếu. Chim hạc thường biểu hiện sự thanh tao, cao quý. Những bài thơ về chim hạc trong không gian tiên cảnh của Đỗ Phủ và Lí Bạch ít nhiều đều hàm ý tới sự trong sạch, thanh tao, cao quý của loài chim này: Quan Lý Cố Ngôn (Đỗ Phủ), Tống hạ giám quy Tứ Minh (Lí Bạch)…

            Đặc biệt gắn với không gian tiên cảnh là chim phụng hoàng. Phụng hoàng và hoàng hạc trong thơ không phải là loài chim bình thường, thường để tiên cưỡi:

Tiên nhân hữu đãi thừa hoàng hạc.

                                    Người Tiên chờ cưỡi hạc vàng.

(Giang thượng ngâm - Lí Bạch)

                                    Ngọc kinh quần đế tập Bắc Đẩu,

                                    Hoặc kỵ kỳ lân, ế phụng hoàng.

                                    Trong Ngọc kinh, các chúa tiên họp ở cung Bắc Đẩu,

Hoặc cưỡi kỳ lân hoặc cưỡi phụng hoàng.

 (Ký Hàn gián nghị - Đỗ Phủ)

Loài chim trong không gian tiên cảnh cũng không được tự do bay lượn, chúng chỉ là phương tiện di chuyển của “tiên nhân” và làm tăng thêm vẻ kỳ bí của không gian tiên cảnh.

2.2.4. Cánh chim trong không gian chiến trường

         Chiến trường là nơi xảy ra chiến trận trong chiến tranh loạn lạc (cả chiến tranh chính nghĩa và phi nghĩa). Chim qụa (ô) và chim cú hay gắn với không gian chiến trường. Đây là loài chim ác ăn thịt người và báo điềm gở, thường gợi không khí ghê rợn, lạnh lẽo, chết chóc của không gian chiến trường, thể hiện thái độ phê phán chiến tranh của Lí Bạch và Đỗ Phủ:

Ô diên trác nhân trường,

Hàm phi thướng quải khô thụ chi.

Quạ diều rỉa ruột người,

Ngậm bay lên treo trên cành cây khô.

(Chiến thành Nam - Lí Bạch)

                                    Cú kêu trong đám dâu vàng,

                                    Chuột đồng chắp tay đứng lổn nhổn trước hang.

                                    Đêm khuya đi qua bãi chiến trường,

                               Trăng lạnh lẽo chiếu vào xương trắng.

(Bắc chinh -  Đỗ Phủ)            

Như vậy, mỗi loại không gian thường gắn với một vài loài chim nhất định. Tìm hiểu ý nghĩa của hình tượng cánh chim trong không gian là một bước cần thiết không nên bỏ qua khi tìm hiểu thơ Lí Bạch và Đỗ Phủ.

3. KẾT LUẬN

Hình tượng cánh chim  trong thơ Lí Bạch và Đỗ Phủ rất phong phú, đa dạng và được hai thi nhân khá chú trọng mô tả. Chúng tôi đưa ra hai cách phân loại hình tượng này dựa trên những tiêu chí khác nhau, qua đó giúp bạn đọc yêu thích thơ Đường thấy được phần nào ý nghĩa của hình tượng cánh chim trong thơ của hai thi nhân lớn bậc nhất đời Đường. Tuy nhiên, để phân loại hình tượng cánh chim trong thơ Lí Bạch và Đỗ Phủ một cách rạch ròi không phải là  việc làm đơn giản. Sự phân loại như trên chỉ mang tính chất tương đối mà thôi.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Lê Nguyễn Lưu (1997), Đường thi tuyển dịch, NXB Thuận Hoá.
  2. Nguyễn Khắc Phi (1998), Thơ văn cổ Trung hoa, mảnh đất quen mà lạ,

      NXB Giáo dục, Hà Nội.

  1. Lê Huy Tiêu… dịch (1997), Lịch sử văn học Trung Quốc, NXB Giáo dục, Hà Nội.