HÀNH TRÌNH HƯỚNG THIỆN CỦA GIĂNG VANGIĂNG TRONG NHỮNG NGƯỜI KHỐN KHỔ CỦA VICTO HUGO

 

 

ThS. Nguyễn Thị Lan Phương

Khoa Ngữ Văn

 

1. Mở đầu

 Những người khốn khổ là một bức tranh rộng lớn về cuộc sống của những người lao động nghèo khổ thuộc đủ các tầng lớp xã hội, mỗi nhân vật có một số phận riêng nhưng họ đều là những người nghèo khổ, bất hạnh và tất cả các nhân vật ấy đều góp phần tô đậm nhân vật trung tâm Giăng Vangiăng. Giăng Vangiăng là người lao động nghèo khó, chăm chỉ, hiền lành, hết lòng thương yêu chị và bảy đứa cháu nhỏ. Chính vì thương các cháu đói mà anh đã ăn trộm bánh mì cho các cháu. Trong thời gian ở tù, anh đã trốn tù nhiều lần nhưng không thành. Sau 19 năm ra tù, trong khi cả xã hội xa lánh, phân biệt đối xử thì anh đã được đức giám mục cưu mang. Chính tình thương của đức giám mục Miriel đã khiến cho anh giác ngộ, trở về với bản chất lương thiện vốn có. Và hơn nữa, anh tiếp tục nhân rộng tình thương yêu để chia sẻ cho tất cả mọi người. Ngài thị trưởng nhân từ độ lượng, thương yêu tất thảy mọi người là hình tượng nhân vật lí tướng của chủ nghĩa lãng mạn muốn hướng tới. Cuộc đời đầy thăng trầm cũng chính là những khó khăn, trở ngại trong suốt hành trình hướng thiện của nhân vật.

2. Hành trình hướng thiện của Giăng Vangiăng

2.1. Từ đói nghèo đến phạm tội

           Tác giả đã giới thiệu một bản lai lịch chẳng mấy đẹp đẽ về nhân vật Giăng Vangiăng. Anh “sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo xứ Bri. Lúc nhỏ, anh chẳng được học hành gì. Lớn lên làm nghề xén cây ở Phavơrôn.” [3, I, 130]. Hơn thế nữa, anh phải chịu phận mồ côi cha mẹ từ rất sớm. “Cha mẹ anh mất từ hồi anh còn nhỏ dại. Mẹ anh chết vì một cơn sốt xuống sữa mà không biết cách thuốc thang. Cha anh trước cũng làm nghề xén cây, sẩy chân nên thiệt mạng. Vangiăng chỉ còn lại một người chị góa chồng, trên tay bảy đứa con dại, vừa trai vừa gái” [3, I, 130]. Giăng Vangiăng xuất hiện trong tác phẩm là một chàng thanh niên tốt bụng, hiền lành và chăm chỉ, lương thiện như bao con người khác.  Nhưng cuộc đời có lẽ đã quá ác nghiệt với anh, trong hoàn cảnh ấy, Giăng Vangiăng đã sống hết mình, anh vật lộn với dòng đời để tìm cho mình một chỗ đứng vững vàng mà nuôi đàn cháu nhỏ dại, nuôi chính tấm thân còm cõi của anh. Đối với anh, việc nuôi bảy đứa cháu như một nghĩa vụ mà anh phải có trách nhiệm đảm nhận. “Bà chị ấy đã nuôi Giăng và lúc sinh thời anh rể, Giăng vẫn ăn ở trong nhà chị. Lúc anh chết, lũ con, đứa lớn nhất mới lên tám, đứa út mới đầy năm. Giăng năm ấy vừa đúng hai mươi lăm tuổi. Thế là Giăng thay anh rể đi làm giúp chị nuôi các cháu” [3, I, 131]. Hành động ấy của Giăng cũng đã chứng tỏ anh là một người sống có trách nhiệm và chan chứa một tình yêu thương vô bờ bến.

         Hàng ngày anh chịu khó như con ong kiếm mật đến tối thì mệt nhoài, về nhà anh chỉ “lẳng lặng ngồi ăn xúp”, có khi “tóc xõa cả ra quanh đĩa, che kín cả mặt” anh cũng “cứ cắm đầu vào ăn”. Ngay cả khi, “bà chị thỉnh thoảng lại chọn những miếng ngon trong đĩa anh (...) đút cho con ăn” [3, I, 131] anh cũng chẳng đếm xỉa gì. Cứ lầm lũi, âm thầm như cái bóng chỉ vì anh hết mực yêu thương những đứa cháu đói rách, đáng thương kia. Lũ trẻ ấy ngày nào cũng không được ăn no cho nên, hàng ngày chúng dối mẹ chạy sang cửa hàng sữa gần nhà “vay” sữa mà tranh nhau “húp vội húp vàng làm sữa đổ cả ra quần áo” [3, I, 131]. Giăng biết rõ điều này. Vì thương chúng mà anh lại giấu chị đến trả tiền sữa cho người ta để các cháu khỏi bị đòn. Giăng Vangiăng là hiện thân cho bao lớp người lao động nghèo khó trong xã hội Pháp lúc bấy giờ. Không chỉ có mình Giăng là nghèo đói, vất vả mà bao con người dân Pháp lúc đó cũng đang phải gánh chịu hậu quả nặng nề của chế độ tư sản đó. Xây dựng hình tượng Giăng Vangiăng Hugo như muốn phơi bày sự thật về chế độ tư sản Pháp lúc bấy giờ, lên án xã hội bất công đã dồn đẩy con người vào ngõ tối của cuộc sống.

           Miêu tả Giăng Vangiăng bằng ngòi bút nhân đạo, Huygo đã xây dựng hình tượng nhân vật mẫu mực. Vốn xuất thân trong hoàn cảnh éo le, Giăng Vangiăng sớm ý thức được mình và xác định cho mình con đường sống độc lập bằng tất cả sức lực và ý chí của mình. Giăng Vangiăng mang bản chất hiền lành, chịu thương chịu khó của người lao động. Con người ấy được lý tưởng hóa nhờ bút pháp của chủ nghĩa lãng mạn tích cực. Nhưng, đáng thương thay, con người ấy càng cố gắng gồng mình thì xã hội lại càng vùi dập họ xuống tận cùng đáy giai cấp. Vốn là con người giàu tình thương, Giăng Vangiăng đã cố gắng làm tất cả hằng mong đàn cháu đói khát kia có miếng ăn no. Nhưng sức người có hạn, sự cố gắng ấy dù có đến mức nào cũng không đủ để nuôi đàn cháu kia. Và túng quá làm càn trong một tối chủ nhật, nhác thấy “nhà lão Môbe Ydabô chủ hàng bánh mì trước nhà thờ Phavơrôn đã dọn dẹp sắp đi ngủ” [3, I, 132] anh đã đập vỡ cửa kính lấy trộm mấy mẩu bánh mì cho các cháu. Không may cho anh, lão chạy ra và tóm ngay được ngay tên ăn trộm “cánh tay có máu me đầm đìa”. Sự việc ấy xảy ra năm 1795. Điều đáng nói ở đây là anh bị đưa ra truy tố trước tòa về tội “ăn trộm ban đêm có phá cửa trong một nhà có người ở” và cộng thêm là “Anh lại có một khẩu súng săn và bắn rất giỏi, thỉnh thoảng vẫn đi bắn trộm chim chóc ở rừng” [3, I, 132]. Nếu như chỉ là ăn trộm một mẩu bánh mì thì có lẽ anh đã không bị truy tố đến mức như vậy. Đằng này, còn thêm lý do nặng nề hơn nữa để gắn chặt cuộc đời anh vào ngục tối khi người ta biết anh là một thợ săn rất giỏi vì thỉnh thoảng anh vẫn đi bắn trộm chim chóc trong rừng. Đối với xã hội Pháp lúc bấy giờ “kẻ đi săn trộm chim muông, người ta vẫn có thành kiến và thành kiến là đúng, vì kẻ đi săn trộm cũng như người buôn lậu thì không xa bọn kẻ cướp là mấy” [3, I, 123]. Quan niệm ấy là liều thuốc độc đẩy Giăng vào con đường u tối. Xã hội tư sản Pháp lại đánh đồng tất cả “kẻ đi săn trộm”, “bọn buôn lậu” và “kẻ cướp” là những kẻ ghê tởm, phải bỏ tù, phải cách ly. Và lẽ đương nhiên “Tòa tuyên bố Giăng Vangiăng có tội” bởi vì “Luật lệ đã rành rành ra đấy, không có cách gì khác” [3, I,132]. Thế là từ một anh thợ xén cây, bắt đầu từ giây phút đó, Giăng Vangiăng trở thành kẻ tù tội với bản án “năm năm khổ sai”- giây phút thật đáng sợ khi luật pháp tuyên án đẩy người ta vào một cuộc trầm luân.

2.2. Từ tên tù khổ sai đến ngài thị trưởng

Đúng vào ngày 22 tháng 4 năm 1976 trong khi người ta đang hân hoan trong niềm vui chiến thắng của quân đội Pari thì ở nhà ngục Bixêt người ta đã xích Giăng Vangiăng vào dây xích tù thật lớn ở góc phía bắc sân nhà ngục. Đối với Giăng, giây phút ấy kinh khủng quá, anh không hiểu chuyện gì đang xảy ra nữa, có lẽ anh “chỉ mang máng thấy rằng trong việc đó có cái gì quá đáng”. Và anh đã khóc lên, nghẹn ngào không nói nên lời, chốc chốc mới thốt lên được một câu: “Tôi làm nghề xén cây ở Phavơrôn” [3, I, 133]. Như để giải thích cho quý tòa rằng mình làm nghề lương thiện, mình không phải là kẻ có tội nhưng... sẽ là vô ích bởi lời nói ấy được thốt ra từ miệng của một kẻ ăn cắp vừa bị bắt sống thì có ích gì chăng? Quan tòa nào có muốn nghe mọi lời thanh minh nhảm nhí ấy? Nhận thấy lời nói của mình là thừa, anh nức nở và giơ tay lên hạ xuống đến bảy lần mỗi lần thấp hơn một chút. Trong thẳm sâu tâm can con người ấy, dường như anh có ân hận vì hành động của mình nhưng trên hết là tình yêu thương dành cho đàn cháu đói khát, đáng thương kia. Giăng như muốn giải thích với mọi người xung quanh, nhất là với quý tòa về hành động bột phát của mình âu cũng là “miếng cơm manh áo của bảy đứa bé con”. Bản thân anh thì không sao, anh chịu đựng được nhưng bảy đứa trẻ dại kia rồi đây nương tựa vào ai? Bà chị anh rồi sẽ ra sao? Như cái cây non đã bị cưa mất gốc, nắm lá sẽ như thế nào. Và thế là con số 24.601 được gắn chặt vào con người khốn khổ ấy để định danh cho một tội lỗi, ấn định cho một số kiếp khốn khổ trong xã hội tư sản tàn lụi.

         Cuộc đời Giăng sang trang từ đây. Và giờ anh không còn là anh thợ xén cây hiền lành, chăm chỉ nữa; không còn là một người chú cưng chiều bảy đứa trẻ dại nữa mà anh trở thành người tù khổ sai tội lỗi. Anh bị giải đi ròng rã bảy ngày đến Tulông và thay áo tù khổ sai. Cả quãng đời của anh trước đây đều bị xóa mờ, đến cả tên tuổi vì anh không còn mang tên Giăng Vangiăng nữa mà thay vào đó là con số 24.601. Con số định mệnh thay đổi cuộc đời Giăng, đẩy anh vào ngõ tối u sầu giữa chế độ xã hội đầy rẫy mâu thuẫn kia. Có lẽ vậy mà càng ngày càng thay đổi, anh lột xác trở thành con người khác hẳn.        

           Trong tù, anh có nghe tin tức về người chị và những đứa cháu. Vì không nơi nương tựa, không người dìu dắt, không chỗ trú chân nên họ lang thang trôi giạt mỗi người một ngả và rồi mất bóng. Tất cả chỉ có vậy thôi và đó cũng là lần duy nhất Giăng được nghe tin tức về gia đình. Từ đó về sau, anh không hề biết thêm chút thông tin nào nữa. Tất cả cái gốc gác quê hương, bờ ruộng, gác chuông… đều lùi cả vào dĩ vãng. Anh sống lặng lẽ, không hồn, cô độc, lầm lũi như cái bóng. Sau bốn lần vượt ngục không thành, Giăng quay trở lại tù với cả thảy 19 năm ngục tù chỉ vì anh đập một miếng kính và lấy một cái bánh mì. Lí do đơn giản quá mà cái giá phải trả cho lỗi lầm ấy là quá lớn. Victo Hugo đã nhận định rằng, với trường hợp như Giăng Vangiăng thì xử phạt như thế sẽ đảo ngược vai trò “biến cái sai lầm của kẻ phạm tội ra cái sai lầm của con người trấn áp” [3, I, 145]. Vốn có sức khỏe, trong ngục tù, anh làm việc không biết mệt mỏi và hơn hẳn những người khác. Và cũng chính vì lí do đó mà anh thường xuyên nghĩ đến chuyện vượt ngục. Nhưng điều đó không giúp gì anh trong việc thoát khỏi hoàn cảnh hiện tại mà nó đã làm khó anh hơn, khiến anh càng bị giam chặt hơn trong ngục tù.

        Giăng cảm thấy căm phẫn cái xã hội vô lý, tàn ác này và xã hội trở thành mối căm thù của anh. Chán ghét tất cả, anh càng ngày càng trở nên lầm lì, ít nói, ít cười hơn. Tâm hồn anh đã trở nên chai sạn, khô héo. Khi vào tù Giăng run sợ, khóc lóc nhưng đến khi ra tù anh thành người thản nhiên, trơ như đá, vô hồn, không cảm xúc trước cuộc sống. Vào tù là cái cớ để Giăng Vangiăng sau này thể hiện được vai trò truyền tải triết lí tình thương của Hugo đến bạn đọc. Tư tưởng lãng mạn đã khiến Giăng ở trong hoàn không thể đáng thương hơn, không thể khó khăn hơn được nữa. Và trong hoàn cảnh ấy Hugo đã để cho nhân vật một mình vật lộn giữa những éo le, thử thách để xây dựng nên hình mẫu tiêu biểu cho chủ nghĩa lãng mạn không tưởng. Sau bao nhiêu nỗ lực cải tạo trong nhà tù, 19 năm bền bỉ với những công việc nặng nhọc và nỗi u sầu anh cũng được mãn hạn tù. Khi nghe bên tai mấy tiếng “Mày được tự do” anh cảm thấy lạ lùng, bất ngờ và vô cùng khó tả. Giăng tìm thấy ánh sáng cuộc đời ở hai chữ “tự do”, nó truyền cho anh thêm niềm tin, động lực để bước vào cuộc sống. Thế nhưng… ngay sau đó, Giăng lại thấy ngay giá trị tự do của một kẻ mang giấy thông hành màu vàng.

 Khi vừa mãn hạn tù, Giăng đã tìm đến cuộc sống với khát khao hòa nhập nhưng xã hội ấy một lần nữa khiến anh phải nhìn lại. Ngay từ những phút đầu ấy đã có bao nỗi chua cay đổ ập xuống anh. Căm phẫn, đau uất và chán ghét cái xã hội thực tại Giăng nhận thấy “Phóng thích chưa phải là giải thoát và ra tù chứ không ra khỏi hình phạt” [3, I, 149].  Sau 19 năm tù khổ sai trở về, chỉ vì mang theo tấm giấy thông hành màu vàng mà đi đến đâu Giăng Vangiăng cũng bị xua đuổi, đến vào ngủ trong cái ổ chó cũng còn bị nó đuổi đi. Ông gần như bị đẩy ra ngoài lề xã hội.

         Có lẽ vì thế mà sau khi ngủ một giấc thật say sưa trên chiếc giường êm ái trong nhà ông giám mục Miriel thì Giăng vẫn chưa hề nhận ra thứ ánh sáng của Chúa đang tràn ngập trong căn phòng đó. Khi những ý nghĩ lộn xộn trong đầu anh xuất hiện với chuyện xa, chuyện gần đều lẫn lộn với nhau thì có một ý nghĩ thường xuyên quấn quýt trong óc anh, lấn át tất cả mọi suy nghĩ khác. Ấy là bộ đồ ăn bằng bạc và chiếc môi to tướng của bà Magơloa bày trên bàn ăn. Anh nghĩ tới nghĩ lui, giằng co suốt hàng giờ đồng hồ và cuối cùng trong phút lưỡng lự anh đã quyết định rời khỏi đó cùng với những món đồ bằng bạc. Khi quả quyết, lúc hoảng hốt, run rẩy Giăng vẫn có thể làm chủ được mình và tiến hành công việc ấy thật nhanh chóng, gọn nhẹ. Vậy là, sau giây phút lưỡng lự Giăng quả quyết, đẩy cánh cửa mạnh hơn và nhanh chóng rời khỏi nơi vừa cưu mang mình cùng với chiến lợi phẩm vừa thu được. Hành động này đã chứng tỏ bản chất lương thiện trong anh đã hoàn toàn bị thay thế bởi lòng tham và sự ích kỉ. Chế độ nhà tù đã biến Giăng thành con người khác hẳn, con người của sự tha hóa, biến chất. Cũng bởi chế độ tư sản đã dồn đẩy con người ta đến tận cùng chân tường cuộc sống. Đó vừa là hiện thực xã hội Pháp lúc bấy giờ vừa là sự phóng đại hóa của ngòi bút Hugo. Ông muốn để nhân vật của mình thể hiện rõ vai trò truyền tải triết lý tình thương đến độc giả.

         Nhưng, thật không may mắn cho Giăng, một lần nữa, anh trốn chạy không thành công trước những đại diện pháp luật tư sản Pháp lúc bấy giờ. Khi vừa ra khỏi nhà Giám mục được một đoạn đã bị lính sen đầm tóm cổ lại và giải quay trở lại nhà Giám mục.  Khi quay trở lại nhà Giám mục anh không hề bị bắt phạt mà còn được vị Giám mục tặng thêm cho hai cây chân đèn nữa bằng những cử chỉ thật nhẹ nhàng và một giọng nói trìu mến:“Này, anh cầm nốt hai cây chân đèn rồi hãy đi nhé! Đèn đây. [3, I, 159]. Việc làm ấy như có ma lực khiến Giăng trong phút chốc run lên bần bật và như cái máy, anh giơ tay cầm lấy đôi đèn, mặt mày ngơ ngác chưa kịp hiểu ra điều gì Giăng đã lại nghe được lời dặn dò chân tình của đức Giám mục: “Đừng quên, đừng bao giờ quên rằng anh đã hứa với ta sẽ dùng số tiền này để trở thành con người lương thiện nhé…” [3, I, 160].  Ngay lúc đó, anh chỉ biết “đứng ngây người ra”. Bộ đồ ăn và đôi chân đèn bằng bạc chính là cái giá mà giám mục Miriel đã bỏ ra mua lại linh hồn Giăng Vangiăng từ tay quỷ dữ đem dâng cho Chúa như chính ngài đã nói: “Từ nay anh không còn là kẻ ác nữa, anh thuộc về phía người lương thiện rồi. Linh hồn của anh, ta đã mua đây, ta đem nó ra khỏi cõi hắc ám, ra khỏi tư tưởng sa ngã, ta đem nó dâng cho Chúa” [3, I, 160]. Hình ảnh Miriel sẽ được thay thế bằng đôi chân đèn bạc, là kỉ vật mà Giăng Vangiăng sẽ mang theo trong suốt hành trình hướng thiện của mình.

Giăng vội vàng rời bỏ Đinhơ, anh lang thang qua từng ngõ hẻm mà lòng đầy bão táp, rối ren, hỗn độn. Anh chẳng ăn uống nghỉ ngơi gì, cứ đi như kẻ vô hồn, vô định… cho đến khi “có tiếng cười nói vui vẻ vang đến” [3, I, 161] khiến Giăng chợt tỉnh, thoát khỏi những ý nghĩ miên man khó tả đang dâng lên trong lòng anh lúc này. Đó là một cậu bé mười tuổi xứ Xavoa đi lang thang kiếm ăn từ vùng này sang xứ khác. Chú vừa đi vừa tung mấy đồng bạc xu trong tay lên chơi chuyền và vô tình làm rơi đồng hào bốn mươi xu ngay bụi cây Giăng đang ngồi, anh chẳng suy tính, đặt ngay chân lên. Mặc cho thằng bé  khóc nức nở. Nhưng anh vẫn cứ đứng ngây người không cử động cho đến khi hơi lạnh hoàng hôn thấm vào người và anh chợt bừng tỉnh khi trông thấy đồng hào bị gót giày vùi xuống đất. Anh đứng sững, run rẩy khi thật sự hiểu ra mọi chuyện. Một cảm giác tội lỗi trào dâng trong lòng, Giăng rú lên đau đớn: “Ta là một thằng khốn nạn” [3, I, 116]. Anh thấy mình khốn nạn quá! Ăn cắp của một thằng bé lang thang thì quả là khốn nạn thật. Có thể nói là anh đã tự ngắm mình, lần lượt ngắm nhìn hai con người đứng trước mặt là ông giám mục và tên Giăng Vangiăng. Mơ màng anh nhận ra ông giám mục cứ to dần lên, sáng rỡ còn Giăng thì bé lại, mờ đi. Cuối cùng chỉ còn lại ông giám mục ở đó. Nước mắt càng tuôn rơi Giăng càng thấy sáng sủa, rạng rỡ. Từ giây phút ấy, Giăng thật sự quay đầu và đến với con người lương thiện - con người bản chất vốn có của anh!  

Không giống như nhân vật Chí Phèo bị cướp đi lương thiện mãi mãi, trong Những người khốn khổ, Đức giám mục đã mang lại lương thiện cho Giăng Vangiăng, cái mà nhà tù tư sản đã cướp đi của anh.  Giăng Vangiăng được nhìn nhận từ góc độ lãng mạn, nhân vật được lí tưởng hóa cao độ. Chính vì vậy mới có sự khác biệt giữa hai nhân vật này. Là đứa con tinh thần của thế kỉ - hiện thân tiêu biểu của chủ nghĩa lãng mạn, Giăng Vangiăng nổi lên với những phẩm chất đáng quý. Sự tỉnh ngộ và thay đổi cuộc đời của anh không phải là sự thay đổi của một cá nhân bình thường trong xã hội nữa. Giăng Vangiăng vốn mang bản chất lương thiện và khi bản chất ấy được khơi dậy nó hoàn toàn thể hiện được điều đó. Ngòi bút lãng mạn hóa của Hugo đã giúp nhân vật được nâng lên tầm lí tưởng hóa, mang màu sắc điển hình.

Khi được giám mục Myriel khai sáng, hành trình để trở thành một người lương thiện đúng nghĩa hết sức rõ ràng. Kể từ đây, anh chỉ nghe theo mệnh lệnh của trái tim yêu thương. Giăng Vangiăng dấn thân vào cuộc cứu vớt những người nghèo khổ, bất hạnh. Qua thị trấn Môngtơrơi anh đã cứu sống con trai ông thị trưởng. Và để có đều kiện làm việc thiện, buộc phải che đậy thân phận người tù khổ sai bằng cái tên ngài thị trưởng Mađơlen. Tác giả dựng lên xưởng máy của ông Mađơlen dường như để tô vẽ về kiểu mẫu xã hội lý tưởng. Nhờ phát hiện ra cách làm huyền theo phương pháp mới có thể tiết kiệm giá thành nguyên liệu, ông mở một xưởng làm huyền, làm cho Môngtơrơi trở thành một thị trấn giàu có, giải quyết công ăn việc làm cho rất nhiều người. Tính lãng mạn thể hiện rất rõ trong con người đáng kính này. Làm giàu cho bản thân, làm giàu cho thành phố, ông không đè nén, áp bức ai mà còn cố đem lại công ăn việc làm cho họ, ông làm vô khối việc thiện  để cho ai túng đói thì cứ tìm đến đó, chắc chắn là sẽ có việc làm và có cơm ăn. Không còn cảnh thất nghiệp, nghèo đói nữa. “Không có túi áo xấu xí nào là không xủng xoảng ít tiền, không có nhà tranh tồi tàn nào là không có tiếng cười vui” [3, I, 232]. Năm 1820, ông có sáu mươi ba vạn Frăng gửi ngân hàng, nhưng trong lúc để ra số tiền đó ông đã chi cho dân nghèo đến hơn một triệu. Ông quyên tiền cho nhà thương, lập thêm giường bệnh, ông xây dựng trường học mới. Xưởng máy của ông trở thành một trung tâm, xung quanh đó mọc lên một khu phố của những người nghèo khổ quây quần lấy ông. Cả tỉnh được nhờ ông, nhất là thợ thuyền làm trong xưởng thì thật quý mến ông. Ở đấy, không có chuyện tư sản bóc lột công nhân! Ông Mađơlen, mọi người hay gọi là bác Mađơlen vì hay làm từ thiện và giúp đỡ mọi người đã được làm thị trưởng của Môngtơrơi.

         Không chỉ có vậy, ngài thị trưởng tốt tính Mađơlen còn tìm đủ mọi cách để cưu mang Phăngtin khi cô lâm và cảnh khốn cùng. Rồi ông đưa nàng vào làm công nhân trong xưởng máy của mình để nàng kiếm miếng cơm ăn và lấy tiền gửi nuôi Côdet. Đến khi Phăngtin lâm bệnh nặng Mađơlen lại mời thầy thuốc tới chăm sóc cho nàng. Bỏ mặc sự đe doạ của Giave, Giăng Vangiăng vẫn lo lắng và săn sóc cho Phăngtin. Hành động của Giăng Vangiăng là sự toả sáng của tinh thần nhân văn cao cả. Trong khốn khổ hiểm nguy, lòng tốt và tình yêu thương của con người vẫn tỏa sáng rực rỡ. Đó là nhờ niềm tin mãnh liệt của tư tưởng lãng mạn trong sáng tác của Hugo.

         Vai trò thị trưởng của Mađơlen bị lung lay bởi phép thử lương tâm trước sự việc cứu hay không cứu Săngmachiơ. Giăng Vangiăng dằn vặt giữa việc đầu thú hay không đầu thú không phải vì bản thân mình mà vì những người dân thành phố Môngtơrơi. Giăng Vangiăng có quyền không ra đầu thú để ở lại giúp đỡ, chăm lo, cứu vớt những người lao động nghèo khổ nơi đây, đó cũng là một việc tốt. Nhưng nếu như thế, ông sẽ mãi phải cắn rứt với lương tâm mình và không thể rũ bỏ chiếc áo tù khổ sai hóa thân thành vị thánh. Và ông đã chấp nhận mất tất cả để cứu một người không hề quen biết. Sau một đêm suy nghĩ đến bạc trắng đầu, ông đi đến quyết định cuối cùng: “Dứt khoát rồi, phải theo con đường ấy! Phải làm bổn phận của mình. Phải cứu người ấy” [3, II, 439]. Nếu cứu người này đồng nghĩa với việc thân phận ngài thị trưởng bị bại lộ, ngài sẽ phải trở lại với đúng cái tên Giăng Vangiăng, sẽ không còn cương vị thị trưởng, không được làm những việc tốt nữa và lại sẽ phải mang giấy thông hành vàng… Có thể nói, nhân vật Săngmachiơ đóng vai trò như “một phép thử” để Giăng Vangiăng khẳng định sự lựa chọn con đường hướng thiện đúng đắn của mình.

3. Kết luận

Hành trình hướng thiện đầy khó khăn, thử thách nhưng nhân vật đã vượt qua và trở thành mẫu hình tượng nhân vật lý tưởng cho tư tưởng nhân đạo của Victo Hugo. Ông là hiện thân cho sự cứu thế với lòng nhân ái, tình yêu thương, sẻ chia với những kiếp người khốn khổ. Hugo miêu tả bằng bút pháp lãng mạn, nhân vật được lý tưởng hoá cao độ. Giăng Vangiăng chỉ vì một câu nói, một hành động cao quý của linh mục Mirien mà thay đổi hoàn toàn. Đó là hành động của con người được Chúa che trở, con người của đấng linh thiêng, cao thượng. Trải qua những quyết định sai lầm dẫn đến tù tội, suốt quãng đời còn lại, Giăng Vangiăng luôn làm những việc thiện, hy sinh cả hạnh phúc của mình vì người khác. Giăng Vangiăng là biểu tượng sáng ngời của sự tu thiện. Và đó còn là sự lí tưởng hóa hiện thực của chủ nghĩa lãng mạn với niềm tin vững vàng vào tấm lòng nhân ái, bao dung của con người. 

Tài liệu tham khảo

1.    Đặng Anh Đào - Hoàng Nhân - Lương Duy Trung - Nguyễn Đức Nam - Nguyễn Thị Hoàng - Nguyễn Văn Chính - Phùng Văn Tửu (2002), Giáo trình Văn học phương Tây, NXB Giáo dục, Hà Nội.

2.    Lê Huy Bắc - Lê Nguyên Cẩn (2002), Giáo trình văn học phương Tây, NXB Giáo dục, Hà Nội.

3.    Huỳnh Lý - Vũ Đình Liên - Lê Trí Viễn - Đỗ Đức Hiếu (2014), Những người khốn khổ, 3 tập, NXB Văn học, Hà Nội.

 T. J. Logan Jersey