SỰ TƯƠNG ĐỒNG VỀ HÌNH THỨC BIỂU ĐẠT GIỮA ĐỒNG DAO VÀ SÁCH TAM THIÊN TỰ

ThS. TRIỀU NGUYÊN

Hội Văn nghệ dân gian Thừa Thiên - Huế

1. Sách Tam thiên tự do Ngô Thời Nhậm (1746-1803) biên soạn và được khắc in vào cuối thế kỉ XVIII (theo “Lời nói đầu” của Nxb. Đồng Nai khi in lại Tam thiên tự do Đoàn Trung Còn sao lục, năm 1995 - trước đó, tại Sài Gòn, năm 1959, sách này do Trí Đức Tùng Thư xuất bản). Sách này được trình bày theo thể thơ bốn tiếng, chia hai cặp đối nhau, mỗi cặp, tiếng (đồng thời cũng là từ/chữ) đầu là Hán, đọc theo âm Hán Việt, tiếng sau là nghĩa Việt của từ Hán vừa nói, viết bằng chữ Nôm.

Dưới đây, là mười dòng đầu của sách này, trình bày mỗi dòng bốn tiếng; tiếng/chữ Hán (theo âm Hán Việt) và nghĩa Việt của chúng tạm ghi bằng chữ quốc ngữ:

Thiên trời, địa đất;

Cử cất, tồn còn;

Tử con, tôn cháu;

Lục sáu, tam ba;

Gia nhà, quốc nước;

Tiền trước, hậu sau;

Ngưu trâu,  ngựa;

Cự cựa, nha răng;

 chăng, hữu có;

Khuyển chó, dương dê;... [1, 1]

Sách có đủ tam thiên tự (ba nghìn chữ), gồm 150 đoạn, với kiểu dạng như thế.

Trong các loại đồng dao theo thể thơ bốn tiếng, có loại có sự tương đồng về hình thức biểu đạt vớiTam thiên tự. Thí dụ, bài “Ru ru riến riến”:

Ru ru riến riến,

Con kiến giữ nhà,

Con gà bươi bếp,

Con rệp thắp hương,

Con chường bối tóc,

Con cóc cầm chèo,

Con mèo cầm lái,

Con nhái đi ăn,

Con trăn đi chợ...(1)

2.1. Loại đồng dao theo thể thơ bốn tiếng vừa có lối gieo vần, ngắt nhịp, kết cấu, và mô hình như sau:

- Về vần: gồm vần chân kết hợp với vần lưng(2), chọn một dòng bất kì để xét, 
thì tiếng thứ hai của dòng này vần với tiếng cuối của dòng liền trước, tiếng cuối của dòng này vần với tiếng thứ hai của dòng liền sau nó, thường theo cách đổi bằng trắc một cách đều đặn, và liên tục như vậy cho đến hết bài.

- Về nhịp: ngắt vào vị trí của vần, khiến dòng thơ có nhịp đôi. Kết hợp vần và nhịp khi hát sẽ tạo thành các nhịp đôi đều đặn cho toàn bài, thời gian tương ứng với động tác bước của chân, động tác huơ của tay, nên có thể vừa hát vừa bước đều hay vỗ tay.

- Về kết cấu: kết cấu chuỗi sự vật, sự việc có hoặc không có liên kết chủ đề (thường không liên kết chủ đề nhiều hơn); chẳng hạn, bài “Ru ru riến riến” thuộc loại kết cấu chuỗi sự vật, sự việc không liên kết chủ đề.

- Về mô hình: mỗi sự vật, sự việc có hoặc không có liên kết chủ đề ấy được diễn đạt trên một dòng thơ; nói khác đi, mỗi dòng thơ thể hiện một đơn vị nghĩa(3). Chúng gồm ba mô hình cơ bản: mô hình A (thì) có a (thí dụ: “Đòn gánh có mấu; Củ ấu có sừng; Bánh chưng có lá; Con cá có vây; Ông thầy có sách;...”); mô hình A (thì ở) B (thí dụ: “Củ ráy dưới ao; Ngôi sao côi trời; Cá bơi ngoài đồng; Tổ ong trong nhà; Cai đà ngoài nương;...”); và mô hình A (thì để) x (“Cái kéo cắt may; Cái cày làm ruộng; Cái xuổng đắp bờ; Cái lờ thả cá; Cái ná bắn chim;...”).

 

SƠ ĐỒ VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA MỘT ĐƠN VỊ NGHĨA VÀ VẦN

(QUA MINH HỌA CỦA BÀI “RU RU RIẾN RIẾN”)

 

Con kiến giữnhà

CON GÀBƯƠIBẾP

Conrệp thắp hương

 

 

Thí dụ (các vần bằng in nghiêng, các vần trắc gạch chân; ngắt nhịp được thể hiện ở bài thứ hai):

- Nu nả nu na:

Nổ ra tua túa,

Nổ túa lên trời,

Nổ rơi xuống đất,

Nổ bật nắp vung,

Nổ tung nón  !

Nu nả nu na. [2, 229]

- Ù à / ù ập /

Bắt chập / lá tre /

Bắt đè / lá muống /

Bắt cuống / lên hoa /

Bắt  / mổ thóc /

Bắt học / cho thông /

Cày đồng / cho sớm /

Nuôi lợn / cho chăm /

Nuôi tằm / cho rỗi /

Dệt cửi / cho mau /

 

Nuôi trâu / cho mập /

Ù ập / ù à /[2, 272]

 

 

SƠ ĐỒ VỀ SỰ TƯƠNG ỨNG GIỮA VẦN VÀ NHỊP

(QUA MINH HỌA CỦA BÀI “Ù À Ù ẬP”)

 

bắtlábắtlábắt

 

 


chậptređèmuốngcuống

 

VẦN TRẮCVẦN BẰNGVẦN TRẮC

NHỊPNHỊPNHỊPNHỊPNHỊP

 

 

2.2. So sánh những trình bày trên với một trích dẫn từ Tam thiên tự kèm các phân tích tương ứng dưới đây:

...Độ đò / tân bến;

Nghị kiến / phong ong;

Hà sông / lãnh núi;

Chẩm gối / cân khăn;

Khâm chăn / nhục nệm;

Thẩm thím / cô ;

Quyệt cá  / thì cá cháy;

Để đáy / ngân ngần;... [1, 19]

Có thể thấy rằng:

- Về vần: y hệt như đã trình bày.

- Về nhịp: nếu riêng với dòng thơ sáu tiếng, tạm không tính tiếng thứ hai, tiếng thứ năm, thì giống với lối ngắt nhịp đã trình bày(4).

- Về kết cấu: kết cấu chuỗi sự vật, sự việc không liên kết chủ đề.

- Về mô hình: mô hình về sự vật, sự việc được diễn đạt trên một dòng thơ: AX, BY (A, B: tên gọi theo âm Hán Việt của chữ Hán, sóng cặp theo lối cùng trường nghĩa hay trái nghĩa; X, Y: nghĩa tiếng Việt của chữ Hán A, B).

Như vậy, các yếu tố chính của hình thức như vần, nhịp, kết cấu, Tam thiên tự gần như giống hệt với đồng dao (loại đang bàn). Riêng mô hình, thì tuy cùng thể hiện sự vật, sự việc được diễn đạt trên một dòng thơ, nhưng phía đồng dao thiên về miêu tả để xác định đối tượng, còn ở Tam thiên tự là một sự chuyển đổi về ngôn ngữ. Sự chuyển đổi ấy, xét trên một dòng thơ gồm hai nội dung khác nhau, có quan hệ đối ứng (cùng trường nghĩa hay trái nghĩa)(5). Chính chỗ khác biệt này đã tạo sự rẽ hướng thành hai: một là những bài đồng dao, một là sách học chữ, dạng từ điển.

3.1. Thật ra, trong kho tàng đồng dao cũng có một số bài nhằm mục đích nhận biết về chữ nghĩa; thí dụ:

-Cục ta cục tác,

Chữ  là gà.

Giữ cửa giữ nhà,

Chữ khuyển là chó.

Bắt chuột bắt bọ,

Chữ miêu là mèo.

Ăn cám ăn bèo,

Chữ hợi là lợn.

Vừa cao vừa lớn,

Chữ tượng là voi.

Ăn trầu đỏ môi,

Chữ phật là bụt.

Ngồi cao tột bậc,

Chữ vương là vua.

Xuống sác mò cua,

Chữ bần là khổ.

Thò tay vô lỗ,

Chữ nhi là mà.

Cầm cổ kéo ra,

Chữ đắc là được.

Thuyền bè xuôi ngược,

Chữ giang là sông.

Phải tội mang gông,

Chữ ngục là tội.

Người không biết lội,

Chữ trầm là chìm.

Con mắt lim dim,

Chữ ngọ là ngủ.

Mật nấu với củ,

Chữ trà là chè.

Con mắt đỏ hoe,

Chữ tửu là rượu. [2, 183-184]

-Nghe vẻ nghe ve,

Nghe vè loài vật:

Mã ngựa, ngưu trâu,

Lao bò, độc nghé,

Hầu khỉ, thỉ heo,

 nai, hồ cáo,

Hùng gấu, báo beo,

Miêu mèo, thử chuột,

Hổ cọp, tượng voi,

 tê ngu,  sư tử,

Xạ muôn xạ, lang muôn lang,

Li chồn, sài sói,

Lại rái,  lừa,

 gà, áp vịt,

Thuần cun cút, lệ le le,

Hộc ngỗng trời, kê gà nước,

Ô quạ, điêu diều,

Cáp bồ câu, tước se sẻ,

Trĩ chim trĩ, loan chim loan,

Dàn chim dàn, yến chim yến,

Nhạn chim nhạn, cưu chim cưu,

Lộ cò,  cộc,

Hạc chim hạc, bằng chim bằng,..

Bài đầu dùng thể thơ bốn tiếng, gieo vần chân, từng cặp bằng trắc nối tiếp nhau, có kết cấu chuỗi sự vật, sự việc không liên kết chủ đề; mỗi sự vật, sự việc được diễn đạt trên hai dòng thơ, theo mô hìnhP, (ấy là) chữ A là X (P: dòng đầu, nêu một đặc điểm, tính chất của A; (ấy là) chữ A là X: dòng sau, A: tên gọi theo âm Hán Việt của chữ Hán; X: nghĩa tiếng Việt của chữ Hán A). Bài sau dùng thể thơ bốn tiếng chen lẫn với thể thơ sáu tiếng, những đoạn bốn tiếng gieo vần theo kiểu như đã trình bày ở mục trước (những đoạn sáu tiếng, nếu không tính tiếng thứ hai và thứ năm, thì cũng cùng một kiểu gieo vần), có kết cấu chuỗi sự vật, sự việc có liên kết chủ đề (cùng nói về các con vật); mỗi dòng thơ diễn đạt hai con vật theo mô hình AX, BY.

So với Tam thiên tự, chúng ta thấy rằng, bài đầu có ưu điểm là sinh động, ngộ nghĩnh, nhưng khuyết điểm cũng khá lớn: a) với 32 dòng thơ mà chỉ học được 16 chữ/từ, trong lúc cùng một dung lượng thơ như thế, Tam thiên tự học được 64 chữ/từ (gấp 4 lần); b) khả năng ghi nhớ không dễ như Tam thiên tự. Bài sau có thể xem là một tìm tòi kiểu Tam thiên tự hay sự mô phỏng sách này theo một chủ đề định trước (chủ đề về các con vật).

3.2. Trong kho tàng đồng dao Nùng(6) cũng có một số bài dùng để học tiếng các dân tộc khác. Thử chép ra đây bài “Chảng Keo” (“Nói tiếng Việt”):

Chảng Keo mí lăng khỏ:

Ăn mỏ cái nồi,

Tu hoi con ốc,

Tu nuc con chim,

Tu hin con cáo,

Khảu xáo gạo xay,

Tu slày bọ mạt,

Cừn chạt thằng lười,

Po khưi con rể,

Cừn ké người già,

Nục sla chim trĩ,

Pja đí cá cờ,... [3, 75]

Bài đồng dao dùng thể thơ bốn tiếng, gieo vần theo kiểu như đã trình bày ở mục trước, có kết cấu chuỗi sự vật, sự việc không liên kết chủ đề; mỗi sự vật, sự việc được diễn đạt trên một dòng thơ, theo mô hình (là) X (A: tên gọi sự vật, sự việc theo tiếng Nùng; X: nghĩa Việt của tiếng Nùng A; A và X đều gồm hai âm tiết). Mô hình của bài này so với Tam thiên tự: a/ có mức độ chuyển tải lượng từ để học bằng một nửa (mỗi dòng thơ của bài này là một từ, trong lúc ở Tam thiên tự là hai từ); b/ có mức độ về sự ghi nhớ (dễ nhớ) không bằng Tam thiên tự.

Bên cạnh đó, mô hình A (là) X do sự cân bằng về số lượng âm tiết của hai bên, nên có thể viết thành A (là) B. Đây là mô hình đối xứng, việc hoán vị giữa A và B là có thể xảy ra (bấy giờ mô hình trở thành B (là) A). Sự chuyển đổi này được tìm thấy ở một dị bản của bài “Chảng Keo” vừa nêu, như sau:

Khảu nu gạo nếp,

Chó chết ma hai,

Sáng mai vằn pjuc,

Tu luc đứa con,

Pay nòn đi ngủ,

Me cú bà cô,

Me phò bà cụ,

Mac fủ cái búa,

Con cú tu cạu,

Nau chạu sớm mai,

Má tai bà ngoại. [3, 76]

Mô hình của Tam thiên tự cũng là mô hình đối xứng: AX, BY thực chất là A (là) X, B (là) Y X (là) A, Y (là) B (chẳng hạn: “Lục sáu, tam ba; Gia nhà, quốc nước”, có thể biến thành “Lục sáu, tam ba; Nhà gia, nước quốc;...”). Nhưng điều ấy đã không xảy ra trong suốt 1500 dòng thơ Tam thiên tự. Tức cái khả năng chuyển đổi thành X (là) A, Y (là) B chỉ có trong lí thuyết, nói khác đi, mô hình của Tam thiên tự có tính ổn định và nhất quán.

4. Sự ảnh hưởng, tác động qua lại nhau giữa tập sách dạy chữ cho trẻ và đồng dao là có thể hiểu được, và một trong vài điều cốt lõi để làm nên tập sách ấy chính là vần nhịp, cái mà người biên soạn sách đã học được từ đồng dao, cũng là điều không khó nhận ra. Các so sánh được trình bày ở bài viết này, ngoài những điều ấy ra, còn góp phần xác nhận tác dụng của việc gieo vần trùng điệp, việc tạo nhịp ngắn, cùng kết cấu chuỗi các sự vật, sự việc có hay không có liên kết chủ đề, mỗi đơn vị nghĩa được thể hiện trên một dòng thơ, là nhằm giúp trẻ dễ nhớ, dễ thuộc đồng dao (để vui chơi hoặc nhận biết về những sự vật, sự việc chung quanh mà các bài đồng dao muốn mang lại). Đồng thời, khẳng định sự thành công của tập sách học vỡ lòng chữ Hán Tam thiên tự(7), một phần nhờ vào đó(8), cả sự vận dụng ở mức tối ưu về độ nén của mô hình (mỗi dòng bốn tiếng mà có hai chữ Hán kèm nghĩa được nêu, thì không thể nén hơn được nữa) - điều cho thấy sự tinh tường trong việc nắm bắt đồng dao của người soạn sách.

 

Chú thích:

(1) Bài này và bài “Nghe vẻ nghe ve; Nghe vè loài vật; Mã ngựa ngưu trâu;...” (ở tiểu mục 3.1.), do người viết sưu tầm.

(2Vần chân: vần gieo vào tiếng nằm cuối dòng thơ; vần lưng: vần gieo vào các tiếng khác (không phải là tiếng nằm cuối dòng thơ). Ngày trước, chữ Hán được viết từ trên xuống, chữ cuối mỗi dòng thơ ứng với vị trí “chân”.

(3) Đồng dao có loại không biểu đạt ý nghĩa trên toàn bài ca mà tách nhỏ ra thành các phần nghĩa tương đối độc lập, mỗi phần nghĩa như vậy thường được thực hiện ở một hoặc hai dòng thơ một cách đều đặn; mỗi phần nghĩa này tạm gọi là đơn vị nghĩa.

(4) Nếu nói chính xác, thì tuy cùng ngắt nhịp hai, nhưng Tam thiên tự ngắt theo nghĩa một cách rõ ràng, trong lúc ở đồng dao chủ yếu ngắt theo hành động (nhịp vỗ tay hay bước đều của trẻ).

(5) Đây là một cứ liệu cụ thể cho thấy, so với các yếu tố thuộc hình thức của tác phẩm như vần, nhịp, hình ảnh, kết cấu, thì mô hình gần với nội dung hơn cả. Có thể nói, mô hình như một sự kết tinh các yếu tố hình thức nhằm quy định nội dung.

(6) Người Nùng gồm 559.702 người, ở rải rác 12 tỉnh, đông nhất là Lạng Sơn: 210.685 người (theo số liệu năm 1989). Người Nùng thuộc họ ngôn ngữ Nam Á, nhóm Tày - Thái. Đặc điểm của nhóm ngôn ngữ này là đơn tiết (không có hiện tượng biến hình), dùng thanh điệu, trật tự ngữ pháp SVO (hiểu như kết cấu chủ - vị - bổ).

(7) Đây là tập sách được sử dụng khá phổ biến không chỉ trong thời kì chữ Hán là văn tự chính thức quốc gia, mà cả trong giai đoạn học chữ Hán như một cổ tự, cổ ngữ hiện nay (bằng chứng là sau này, tập sách được in lại nhiều lần).

(8) Sự thành công của sách này bên cạnh việc sử dụng vần nhịp của đồng dao, còn nhờ vào lối đối (trong phạm vi bốn tiếng, chia làm hai vế đối nhau, cả thanh lẫn nghĩa - riêng về nghĩa, thì đối theo lối trái nghĩa hoặc cùng trường nghĩa). Nếu chuyện dễ nhớ do loại vần, nhịp cơ bản của đồng dao mang lại có tính chất máy móc, thì chuyện dễ nhớ từ lối đối đặt ra, là một sự liên tưởng (ở đây, là liên tưởng về sự tương đồng và liên tưởng về sự đối lập), tuy mang tính thường trực nhưng cũng là một hoạt động của tư duy. Kết hợp lại, chúng có tác dụng khắc ghi vào tâm trí mạnh mẽ, khó có phương thức nào sánh kịp.

TÀI LIỆU TRÍCH DẪN VÀ THAM KHẢO

1. Đoàn Trung Còn (sao lục), Tam thiên tự , Nxb. Đồng Nai, 1995.

2. Nguyễn Thúy Loan - Đặng Diệu Trang - Nguyễn Huy Hồng - Trần Hoàng: Đồng dao và trò chơi trẻ em người Việt, Nxb. Văn hóa - Thông tin, H. 1997.

3. Nông Hồng Thăng: Đồng dao Nùng, Nxb. Văn hóa Dân tộc, H. 1995./.

(Tạp chí Hán Nôm, Số 1 (86) 2008; Tr.3-9)

 

 

Nguồn: http://www.hannom.org.vn/detail.asp?param=1535&Catid=675