NGƯỜI KHAI XUÂN TRONG BÀI THƠ HỎI ĐÀO CỦA TRẦN HUY LIỆU

TS. Ngô Thị Phượng

Khoa Ngữ Văn - Trường Đại học Tây Bắc

 

          Một thời máu lửa đã đi qua, nhà tù khép lại và trường học mở ra cũng là lúc con người bắt đầu cân nhắc những giá trị sống. Chẳng có vinh quang nào dễ nhặt được ở trên đường. Tự do cũng vậy, cái giá của nó là sự cho đi vô tư không mong nhận lại của tuổi trẻ hồn nhiên đắm say như lửa cháy. Đâu đó, chiến tranh với bao hi sinh mất mát vẫn tái hồi trong giấc mơ xuân. Tết đến, xuân về, chúng ta luôn tưởng nhớ những người mang lại mùa xuân ấy. Và Nhà thơ - Viện sĩ - Giáo sư Trần Huy Liệu là người đã góp phần gây dựng mùa xuân thời tuổi trẻ ấy qua vần thơ Hỏi đào.

Trần Huy Liệu sinh ngày 5/11/1901 tại làng Vân Cát, huyện Vụ Bản, Nam Định, trong một gia đình Nho học truyền thống. Quê hương làng Vân Cát cũng chính là nơi có Phủ Giầy và hội chợ Viềng vào ngày 8 tháng Giêng Âm lịch hàng năm. Mảnh đất ông sinh ra ở một vùng quê nghèo, nơi sản sinh nhiều văn nhân, chính khách của tỉnh Nam Định. Thời trai trẻ, Trần Huy Liệu được biết đến là người ham học hỏi, hiểu biết sâu rộng và không chịu chấp nhận thời cuộc. không cam chịu với thời cuộc, ở cái buổi Ta - Tây - Tàu sơ giao, Trần Huy Liệu cũng ra tỉnh nhằm thi thố tài năng, với mong muốn lập thân, lập nghiệp, mang sức mọn chí trai giúp nước, cứu đời. Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình ông bị bắt 3 lần. Lần thứ 3 (tháng 10/1939) ông lại bị Pháp bắt, đày đi Nhà tù Sơn La và Nghĩa Lộ. Tháng 2 năm 1940, giữa mùa xuân Sơn La nắng nhẹ như tuyết phủ, lắng nghe hồn cây thì thầm trong gió, gặp lại sắc hoa đào, Trần Huy Liệu đã sáng tác bài thơ Hỏi đào. Bài thơ viết theo thể thất ngôn, gồm 3 khổ, lấy đề từ là hoa đào.

Năm ngoái ngày này chốn cố đô

Hoa đào đỏ ối bến sông Tô

Với ta, hớn hở đào khoe sắc,

Ngang dọc rừng đào: ta tự do.

 

Năm nay nơi đất đỏ rừng xanh

Không hẹn mà ta lại gặp mình

Đào nhỉ! Phải chăng ta khác trước?

Còn đào thêm tuổi lại thêm xinh.

 

Thì thầm, ta sẽ nhủ: đào ơi!

Sương nắng bao phen chẳng lạt mùi.

Giữa chốn bụi hồng tuy lận đận,

Lòng đào ta vẫn đỏ không phai…

Như là một lời tự vấn, bài thơ tái hiện lại những mốc thời gian cụ thể: năm ngoái và năm nay. Nghệ thuật ứng chiếu tạo nên kết cấu sóng đôi cho bài thơ: chốn cố đô và nơi đất đỏ rừng xanh. Năm ngoái, khi còn là người tự do, nhân vật trữ tình sống ở mảnh đất cố đô hoa lệ, Tết đến xuân về đi dạo vườn đào bên bến sông Tô Lịch, giữa phố phường, lòng phơi phới tự do. Câu thơ “Ngang dọc rừng đào: ta tự do” không chỉ tái hiện bước chân di chuyển theo ý thích của mình, hướng di chuyển không bị kiểm thúc mà còn diễn đạt tâm thế vẫy vùng của người chiến sĩ cách mạng như cánh chim bằng bạt gió. Hình ảnh “rừng đào” cũng gợi liên tưởng đến sức mạnh tập thể của những người làm cách mạng.

Sự khéo léo của tác giả trong bài thơ là không một từ nào nhắc tới nguyên do vì sao phải rời chốn đô thành lên nơi “đất đỏ rừng xanh”, nhưng người đọc vẫn hình dung đầy đủ về hành trình về quãng đời cống hiến cho cách mạng của nhân vật trữ tình. Đến Sơn La, nhân vật trữ tình lại tái ngộ với hoa đào. Đó không phải là “hoa đào năm ngoài còn cười gió đông” trong thơ cổ mà là hoa đào hiện tại, do đó cái khác biệt đó là có “ôn cố tri tân” nhưng không nghiêng về tâm trạng hoài cổ hay niềm tiếc thương quá khứ vàng son. Trái lại đó là niềm tự hào, ung dung thư thái, nhẹ nhõm, hài lòng về quá khứ. Từ “ta” ở câu thơ “Không hẹn mà ta lại gặp mình” tạo ra 2 cách hiểu. Cách hiểu thứ nhất: nhân vật xưng ta gặp lại hoa đào chốn cố đô xưa. Cách hiểu thứ hai: Ta gặp lại chính bản thân ta, con người hiện tại năm ngoái đang bị giam cầm nhưng tâm thế vẫn tự do như trước, khi ở bến sông Tô. Điều đó có nghĩa là nhà tù và tội ác chỉ có thể giam cầm thể xác mà không thể tiêu diệt được bản thể tự do vẫy vùng. Đây là phẩm chất cần có của người làm cách mạng.Vì vậy, câu hỏi: “Đào nhỉ! Phải chăng ta khác trước?” chỉ là câu hỏi tu từ, nên không cần câu trả lời. Sự tự tin, tâm hồn tự do tự tại đã chiến thắng cái bạo tàn.

Khổ thơ thứ 3 là lời thề, lời tự hứa, quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh. Có một lời thì thầm từ sâu thẳm đáy lòng khơi mở. Đã bao lần trải qua gió sương, đào không hề bớt thắm, như lòng người vậy, không nản chí nhụt lòng. Phía trước tương lai còn mịt mùng: “Giữa chốn bụi hồng tuy lận đận”, nhưng tấc lòng son vẫn mang một niềm tin tưởng tuyệt đối vào tương lai cách mạng và vào chính bản thân mình.

Gắn tứ thơ với hoàn cảnh ra đời của bài thơ ở năm 1940, khi mà Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn đang tìm đường và Cách mạng tháng Tám chưa đến thì đây là một lời thề, một sự hi sinh cao cả và một tiên liệu minh triết.

Bài thơ là tiếng hát tâm hồn của nhà chính trị viết trong chốn ngục tù nhưng không khô khan ai oán, không hô khẩu hiệu hay đao to búa lớn. Qua lời tự bạch, tính trữ tình đằm thắm, nhẹ nhàng thấm vào lòng người đọc.

Dùng hình ảnh hoa đào làm lời đề từ cho toàn bộ bài thơ, chúng tôi gặp ở đây hình ảnh đa nghĩa. Sự đa nghĩa làm nên chất nghệ thuật trong bài thơ trữ tình chính trị. Hai từ “hoa đào” trước hết chỉ một loài hoa đẹp biểu tượng cho may mắn, thịnh vượng, nó quen thuộc trong mỗi nếp nhà Việt khi Tết đến xuân về và là hình ảnh thực trong câu thơ: “Hoa đào đỏ ối bên sông Tô”. Rừng đào mang nét nghĩa ẩn dụ trong câu thơ: “Ngang dọc rừng đào: ta tự do”, chỉ con đường cách mạng và sức mạnh tập thể cách mạng. Sức mạnh đó ngày càng được bồi đắp, củng cố vững chắc theo thời gian: “Còn đào thêm tuổi lại thêm xinh”. Hoa đào cũng được nhân hóa, ví như một người bạn: “Không hẹn mà ta lại gặp mình”. Và hoa đào với sắc đỏ chính là tấm lòng trung trinh của người chiến sĩ cách mạng Trần Huy Liệu trong câu: “Lòng đào ta vẫn đỏ không phai”.

Dư ba của bài thơ đọng lại là chất lãng mạn cách mạng trào dâng. Chất lãng mạn đó biểu hiện ở nhiều dấu hiệu đặc trưng như bút pháp đối lập, hình ảnh hoa đào và niềm tin vào tương lai tươi sáng. Tính minh triết, chất trí tuệ nhẹ nhàng mà sâu lắng là đặc trưng không thể thiếu trong những vần thơ cách mạng.

 

Với bài thơ Hỏi đào, Trần Huy Liệu cùng với bao chiến sĩ cách mạng là những hoa tiêu, những người khai xuân ưu tú cho cuộc đời mới của dân tộc.

 T. J. Logan Jersey