NHỮNG VỠ LẼ TRONG BÀI THƠ VỢ ỐM CỦA NGUYỄN DUY

 

ThS. Mai Thị Chín

Giảng viên Khoa Ngữ văn

 

          Nguyễn Duy tên thật là Nguyễn Duy Nhuệ, sinh năm 1948 tại Thanh Hoá. Tuy xuất hiện vào thời điểm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ nhưng Nguyễn Duy cũng đã kịp ghi tên mình vào danh sách những nhà thơ tiêu biểu của nền thơ trẻ thời kì này. Nếu như những bài thơ của Nguyễn Duy sáng tác trong thời kì kháng chiến chống Mỹ mang đậm dấu ấn của đời sống chiến trường thì những bài thơ được viết khi đất nước đã hoà bình độc lập lại mang hơi thở của cuộc sống thường ngày. Ngoài đặc điểm phong cách nổi bật là thơ trữ tình triết lí, thơ Nguyễn Nguyễn Duy ở nhiều bài đã thể hiện cái dung dị, tự trào, hài hước, dí dỏm. Chính sự đa dạng trong phong cách ấy đã tạo nên sự hài hoà, hấp dẫn của thơ Nguyễn Duy. Bài thơ Vợ ốm thể hiện khá rõ chất dí dòm, hài hước của Nguyễn Duy. Dưới đây là đôi điều cảm nhận về bài thơ.

Từ tình cảnh của người chồng khi vợ ốm

Ngay khổ thơ đầu của bài thơ Nguyễn Duy đã hé mở cho người đọc về tình cảnh của người chồng  khi vợ ốm. Gần một năm nay kể từ ngày vợ ốm, vốn là một thi sĩ chỉ quen với bầu rượu, túi thơ, giong chơi khắp chốn nay người chồng đã phải cáng đáng công việc gia đình. Đầu tiên là anh ta phải tự lo cho bản thân mình, rồi lo cho các thành viên khác trong cái gia đình ấy nữa. Mà cái gia đình ấy đâu có ít người những sáu người tất cả. Nguyễn Duy không nói là sáu miệng ăn mà ông nói là sáu mồm ăn, ý nói là trong cái nhà ấy chỉ có người ăn mà không có người làm. Để có thể gánh vác được công việc gia đình không biết từ lúc nào người thi si sĩ đã biến thành con ngựa – mà cụ thể hơn là một con ngựa thồ. Con ngựa thồ ấy nó chất lên lưng mình tất tất tận mọi thứ năng nhẹ. Động từ phăm phăm cho ta hình dung ra tình cảnh của  người chồng thi sĩ là phải rất nhanh, rất khoẻ mới có thể lo hết việc nhà. Nhưng thử hỏi một người lâu nay chỉ quen cầm bút viết lách thì có được bao nhiêu sức khoẻ để có thể gánh vác được công việc gia đình.

Ở khổ thơ thứ hai Nguyễn Duy chỉ dùng có một dòng thơ để nói tiếp về tình cảnh của người chồng khi phải thay vợ lo việc gia đình, nhà cửa. Để lo cho được công việc gia đình người chồng đã phải huy động một cách tối đa công năng của cả hai chân và hai tay. Nguyễn Duy không nói một cách cụ thể về những công việc mà người chồng phải làm chỉ biết là anh ta đã phải quơ tay ra  mới có thể túm hết được mọi việc. Từ “quơ” trong câu thơ này là một từ dùng rất đắt của Nguyễn Duy. Nếu nói là cầm, nắm, ... có thể diễn tả được hành động làm việc của người chồng nhưng sẽ không phản ánh được sự tất bật, vội vàng và có phần lúng túng, vụng về  của anh ta. Sau một hồi có thể nói là chân năm tay mười, tay này vừa buông ra tay kia đã phải quơ tiếp việc để làm cái vẻ nhàn nhã của một thi sĩ trước đây giờ đã có một sự thay đổi không nhỏ: Tứ chi anh lõng thõng quơ rụng rời. Từ “lõng thõng” làm cho ta hình dung ra tình cảnh của người chồng gần như đã cạn kiệt cả sức khoẻ, không còn đủ sức để đứng thẳng người lên được nữa.

Sang khổ thơ thứ ba tình cảnh của người chồng có phần còn thảm hại hơn. Việc người vợ ngã bệnh như là một cú va đập rất mạnh khiến cho anh ta cảm thấy mình tối tăm cả mặt mũi.(Từ  bất xất xang bang trong câu thơ này có thể thể hiểu tương đương với nghĩa của từ tối tăm mặt mũi. Ý nói vô cùng vất vả.) Đến đây người đọc đã nhận ra cái tình cảnh thật bi đát của người chồng khi vợ anh ta bị ốm. Nhưng sự bi đát đâu chỉ có thế.Vốn chưa bao giờ phải lo đồng tiền bát gạo, chợ búa cơm nước của gia đình nên giờ việc ấy đến tay anh ta thực sự không biết xoay xoả như thế nào. Chỉ riêng cái việc phải tự lo cho mình thay vì có vợ lo cho như trước đây cũng đã khiến cho anh ta chật vật lắm rồi. Thế mà giờ đây ngoài việc lo cho mình anh ta phải lo luôn cho cả cái nhà có sáu người những thực ra là chỉ có sáu cái  mồm ăn mà không có người làm. Lấy chỗ nọ đắp chỗ kia nhưng cha con anh ta vẫn thiếu trước hụt sau. Người thi sĩ ngày nào giờ đã biến thành Chúa Chổm. Chúa Chổm trong truyền thuyết dân gian chỉ là người mắc nợ khắp thiên hạ, còn Chúa Chổm trong bài thơ này ngoài nỗi lo về tiền bạc còn phải lo còn phải đối diện với một núi công việc: việc thiên, việc địa, việc nhà. Tác giả sự dụng biện pháp liệt kê  để tăng tính bộn bề, phức tạp của mọi công việc trong gia đình. Và mặc  dù đã rất cố gắng  mọi việc nhưng cuối cùng  người chồng vẫn phải thú nhận với vợ về tình hình thực tế của mình: Anh như nguyên thủ tanh bành quốc gia. Từ “tanh bành” diễn tả rất chính xác về hình ảnh ngôi nhà từ khi anh chồng thay vợ gánh vác công việc: nhà cửa ngổn ngang như một bãi chiến trường,một sự thất bại không thể thảm hại hơn được nữa. Đỉnh điểm về sự thất bại một cách bi đát của người chồng được Nguyễn Duy gói lại trong câu kết của bài thơ:

                     Một mình anh vãi cả ba linh hồn.

Chỉ bằng mấy dòng thơ ngắn ngủi, kết hợp với biện pháp so sánh, cách dùng từ hữu hiệu Nguyễn Duy đã cho người đọc thấy được tình cảnh khốn khó, long đong, vất vả, lúng túng, vụng về của người chồng trong bài thơ này. Và chỉ khi trải qua tình cảnh ấy người chồng mới hiểu và cảm nhận một cách thấu đáo về vị trí và vai trò của vợ mình.

Để hiểu thêm về vị trí và vai trò của người vợ trong gia đình

Dân gian có câu: Đàn ông làm nhà, đàn bà xây tổ ấm. Trong mỗi gia đình  dù sự thành công ở mức độ nào cũng không thể phủ nhận công lao của người phụ nữ. Tuy nhiên không phải người chồng nào cũng cảm nhận và hiểu được sự hi sinh của người vợ nhất là những ông chồng vô tâm, vô tính. Người chồng trong bài thơ Vợ ốm của Nguyễn Duy không phải là trường hợp ngoại lệ.

          Vì mải mê với nàng thơ, giong chơi chốn thượng giới, người chồng chưa một lần phải lo toan công việc gia đình, càng không thể biết công việc ấy bận rộn vất vả như thế nào. Chỉ đến khi người vợ đổ bệnh phải nằm một chỗ anh ta mới nhận ra vợ mình có phẩm hạnh tốt đẹp và còn giữ  một vị trí vô cùng quan trọng trong gia đình.

 Trước tiên người chồng nhận ra vợ mình là một người đảm đang biết thu vén công việc gia đình đâu vào đó. Khi phải tự mình đứng ra lo cái ăn cho sáu cái mồm trong nhà người chồng mới hiểu rằng vợ mình đã phải bươn chải vất vả ra sao, đồng thời anh cũng nhận thấy cô ấy  là một người rất khéo lo liệu từ đồng tiền bát gạo sao cho đủ trước vừa sau.  Mà đâu phải chỉ là chuyện lo cơm nước, người vợ trong bài thơ này còn phải làm vô số công việc khác, toàn những việc không tên:

Trần gian choang choác sự đời tuỳ em

Nghìn tay nghìn việc không tên

 Cụm từ trần gian choang choác cho ta thấy một cuộc sống đa đoan, đa sự với đủ mọi sự va đập, phức tạp của nó. Vậy mà trước cuộc sống đó người vợ phải một mình đối diện và xoay xoả.. Chữ tuỳ trong câu thơ này không hàm chứa sự tin tưởng của người chồng đối với người vợ  mà  đó là sự thờ ơ vô trách nhiệm của anh ta.

          Người chồng còn nhận thấy ở vợ mình một điều quí giá khác cũng không kém gì sự đảm đang khéo léo, đó là đức tính nhẫn nhịn. Người vợ đổ bệnh phải nằm một chỗ mới được gần một năm mà người chồng đã có vẻ sốt ruột vì thấy thời gian như đã rất lâu rồi. Từ lại trong câu thơ đầu tiên cho ta thấy rõ điều này. Sự sốt ruột của người chồng cũng không có gì là khó hiểu cả vì trong thời gian này người chồng không còn được nhàn nhã thảnh thơi như trước đây, phải bươn chải để thay vợ thu xếp công việc gia đình. Chúng ta thử  làm một phép so sánh về sự chịu đựng của người chồng và người vợ thì sẽ nhận thấy sự chịu đựng của người chồng chẳng thấm thoắt gì. Trong bài thơ này Nguyễn Duy không nói một cách cụ thể về thời gian của người vợ đã sống trong gia đình này là bao nhiêu chỉ biết rằng họ đã có đến bốn đứa con. (Chúng tôi tạm cho là bốn đứa con vì nếu có bố mẹ anh ta sống cùng thì anh ta sẽ không dám nói là sáu mồm ăn). Như vậy thời gian để họ có với nhau từng ấy mặt con chắc chắn phải dài hơn thời gian anh chồng thay vợ cáng đáng việc nhà. Vậy mà suốt khoảng thời gian ấy người chồng không thấy vợ kêu ca cằn nhằn điều gì cả. Điều đó đủ để cho anh thấy vợ mình là người giỏi chịu đựng và nhẫn nhịn đến thế nào.

Sự nhanh nhẹn và tháo vát là một đặc điểm nữa mà người chồng tiếp tục nhận thấy ở vợ mình. Nguyễn Duy chỉ dùng có hai dòng thơ nhưng đã đủ để nói lên điều đó:

Nghìn tay nghìn việc không tên

Mình em làm cõi bình yên nhẹ nhàng.

Sử dụng biện pháp đối lập giữa một bên là trăm công nghìn việc với một bên là người vợ bé nhỏ, nhà thơ đã làm tôn lên vẻ đẹp về sự tháo vát, nhanh nhẹn của người vợ.

Sống chung trong một mái nhà, đã có với nhau mấy mặt con nhưng chỉ đến khi vợ ốm người chồng phải thay vợ lo toan công việc gia đình anh mới có dịp để hiểu thấu đáo về phẩm hạnh cũng như vị trí của cô ấy. Tuy không nói ra nhưng trong  cảm nhận của người chồng anh thấy vợ mình thật giỏi giang và có một vai trò rất quan trọng không ai có thể thay thế. Ghi nhận về phẩm hạnh và vai trò của vợ mình trong gia đình cũng là dịp để người chồng nhìn lại bản thân mình, về cái sự vô tâm và hờ hững của mình đối với vợ và gia đình.

          Tóm lại, bài thơ Vợ ốm là một trong những bài thơ hay trong chùm thơ viết về vợ của Nguyễn Duy.Từ việc phản ánh tình cảnh khốn khó của người chồng khi vợ bị ốm Nguyễn Duy đã thầm ca ngợi vẻ đẹp, sự hi sinh và vai trò của người phụ nữ trong gia đình. Thông qua các thủ pháp nghệ thuật như so sánh, liệt kê, đối lập, dùng động từ mang tính biểu cảm cao bài thơ Vợ ốm không chỉ chuyển tải thành công điều Nguyễn Duy muốn nói mà còn  phản ánh khá rõ đặc điểm phong cách dân giã, hài hước, tự trào của nhà thơ.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.    Nguyễn Duy (2010), Thơ Nguyễn Duy, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.

 

2.    Nhiều tác giả (2016), Thế hệ nhà văn sau 1975, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.

 T. J. Logan Jersey