BIỂU TƯỢNG LỬA TRONG CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC VIỆT NAM Ở NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG

 

TS Ngô Thị Phượng

Khoa Ngữ Văn – Trường Đại học Tây Bắc

 

1. Mở đầu

Biểu tượng là hình ảnh tượng trưng, là hình thức của nhận thức, cao hơn cảm giác, cho con người hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong trí não, sau khi tác động của sự vật vào giác quan đã chấm dứt. Trong văn học, biểu tượng là một mã hóa của tín hiệu thẩm mĩ, có chức năng truyền đi một thông báo. Biểu tượng xuất hiện thông qua những dấu hiệu vật chất đơn giản, do quan hệ tự nhiên hay do quy ước, được coi như thay thế cho một thực tế phức tạp hơn. Biểu tượng có thể xuất hiện trực tiếp, cho phép kết luận về sự tồn tại hoặc về tính chân thực của một cái khác liên hệ với nó.

Một biểu tượng khi xuất hiện nhiều khi không chỉ có giá trị đơn nhất, bởi nền tảng khai sinh của chúng là mối quan hệ điệp lặp và võ đoán với sự vật tương đồng.

Biểu tượng lặp đi lặp lại và trở thành hệ thống trong tác phẩm nghệ thuật ở chương trình phổ thông. Người giáo viên dạy văn có thể thâu tóm hệ thống ý nghĩa của biểu tượng để từ đó giúp học sinh tiếp cận tác phẩm dễ dàng hơn.

Ở bài viết này, chúng tôi không có tham vọng trình bày bao quát tất cả mọi biểu tượng trong tác phẩm văn học Việt Nam thuộc chương trình phổ thông mà chỉ giới thiệu và phân tích ý nghĩa biểu tượng lửa trong một số tác phẩm cơ bản.

2. Nội dung

2.1. Biểu tượng lửa trong đời sống văn hóa nhân loại

Trong đời sống văn hóa nhân loại, lửa có giá trị đặc biệt. Lửa cùng với sự phát hiện ra nó đã đưa con người sang một giai đoạn văn minh mới. Không chỉ mang đến cho con người những giá trị vật chất, lửa còn góp phần kiến tạo nên đời sống tinh thần. Bằng những tia sáng bừng rỡ, lửa giống mặt trời giúp con người tìm đường về ngày mới. Lửa bốc lên trời thể hiện khí thế hướng tới sự thăng hoa tinh thần. Trong văn hóa tín ngưỡng nhiều tộc người, lửa còn là biểu tượng biểu trưng cho trạng thái của thần linh, vị thần của sự sống và cả sự hủy diệt (1).

Trong Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, Jean Chevalier và Alain Gheerbrant chú ý tới hình ảnh ánh lửa và ánh sáng qua biểu tượng ngọn đèn: “Ngọn đèn là một biểu tượng của con người, cũng như người, nó có thân thể bằng đất sét, có linh hồn sinh dưỡng, hoặc bản nguyên sự sống là dầu, có trí tuệ là ngọn lửa” (2).

Từ những kiến giải về biểu tượng lửa nói trên, chúng tôi nhận thấy rằng biểu tượng lửa mang một số ý nghĩa cụ thể như: lửa là nguồn ánh sáng cho con người về tương lai, lửa thể hiện sự thăng hoa của tinh thần và là vị thần biểu trưng cho sự sống.

2.2. Biểu tượng lửa trong tác phẩm nhà trường phổ thông

Với văn học ở nhà trường phổ thông, biểu tượng này xuất hiện trong nhiều tác phẩm như Khăn thương nhớ ai, Chữ người tử tù, Hai đứa trẻ, Việt Bắc, Vợ nhặt, Vợ chồng A Phủ… Các tác phẩm nói trên, lửa với những từ ngữ liên quan đã tạo ra một trường nghĩa lớn, bao gồm nhiều tiểu trường bộ phận, trong đó tiểu trường các dạng tồn tại của lửa được thấy rõ nhất: lửa, ngọn lửa, chấm lửa, lửa đóm, lửa rụng, tàn lửa, ánh lửa, bếp lửa..., tiểu trường chỉ hoạt động của người đối với lửa: tắt, thắp, thổi, sưởi, treo, truyền, đốt, dụi, .., tiểu trường chỉ chất liệu hay vật liệu để lửa cháy: đèn, dầu, mỡ, đĩa đèn, đuốc..., tiểu trường chỉ trạng thái của lửa: cháy, bốc lên, cháy giần giật, cháy rực, đỏ rực, leo lét, sáng xanh, vàng lơ lửng, chấm nhỏ, lay động sáng, đốt, bùng... Từ trường nghĩa nói trên, người đọc có thể nhóm chúng thành 2 ý nghĩa cơ bản.

2.2.1. Lửa - sự sống, niềm tin và khát vọng đổi đời

Trong đời sống, lửa xuất hiện đồng nghĩa với việc sự sống đang tồn tại. Giá trị vật chất và tinh thần mà lửa mang lại góp phần xua đuổi thú dữ hoặc làm cho hơi ấm con người trở nên nồng nàn. Lửa tỏa ra ánh sáng, lửa phát ra nhiệt. Tạo ra lửa và biết dùng lửa với ý nghĩa biểu vật, biểu niệm dị biệt tiêu biểu giữa con người với muông thú. Sức mạnh của lửa song hành với sức mạnh của con người. Khi ánh lửa yếu, sức sống con người trở nên mờ nhạt. Khi ánh lửa rực cháy, con người như đang hồi sinh. Con người trở về với cái chân thiện mĩ và được sống là chính mình. Lửa xua tan tối tăm băng giá, tàn lụi và thất vọng.

Trong mối quan hệ tương phản với bóng tối, ở tác phẩm Chữ người tử tù, Nguyễn Tuân đã diễn tả sức mạnh của sự sống thông qua cuộc hành hương về cái “thiên lương”: “Đêm hôm ấy, lúc trại giam tỉnh Sơn chỉ còn vẳng có tiếng mõ trên vọng canh, một cảnh tượng xưa nay chưa từng có, đã bày ra trong một buồng tối chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, đất phẳng bừa bãi phân chuột, phân gián. Trong một không khí khói tỏa như đám cháy nhà, ánh sáng đỏ rực của một bó đuốc tẩm dầu rọi lên ba cái đầu người đang chăm chú trên một tấm lụa bạch còn nguyên vẹn hồ. Khói bốc tỏa cay mắt, làm họ dụi mắt lia lịa… Lửa đóm cháy rừng rực, lửa rụng xuống nền đất ẩm phòng giam, tàn lửa tắt nghe xèo xèo” (3). Huấn Cao đã khuyên: “Ở đây lẫn lộn. Ta khuyên thầy Quản nên thay chốn ở đi… Tôi bảo thực đấy, thầy Quản nên tìm về quê mà ở, thầy hãy thoát khỏi cái nghề này đi đã”. Với quản ngục, lửa xua tan bóng đêm tăm tối, dẫn đường cho quản ngục trở về tìm lại sự sống đã bị quên lãng trong những năm tháng trở thành công cụ cho nhà nước phong kiến. Sau lời bái lĩnh của viên quản ngục, dù tác phẩm kết thúc, nhưng người đọc vẫn nhận ra đằng sau đó là, quản ngục có một trang đời khác. Với cả ba người, quản ngục, thầy thơ lại và Huấn Cao, lửa là nơi hội tụ của những tri kỉ tri âm tìm thấy nhau giữa cõi đời giông bão. Sự sống là cái đẹp, đối ngược với nó là bóng tối. Như vậy, lửa như một sự hướng thiện, nó soi đường để mở ra một chân trời mới, sự sống mới cho quản ngục.

          Tìm đến tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam, người đọc lại bắt gặp ánh lửa ở nhiều phân đoạn, rất có thể, đây là tác phẩm nhiều lần nhắc đến lửa nhất ở chương trình phổ thông. Lửa xuất hiện qua ánh đèn trên con phố: “Các nhà đã lên đèn cả rồi, đèn treo trong nhà bác phở Mĩ, đèn hoa kì leo lét trong nhà ông Cửu, và đèn dây sáng xanh trong hiệu khách…”. Lửa của chiếc đèn hoa kì của chi Tí bên chiếc chõng tre chờ bán nước chè giống như chấm sáng lay động. Bác Siêu có gánh phở là “chấm lửa khác, nhỏ và vàng lơ lửng đi trong đêm tối, mất đi và hiện ra”. Ngay cả ngọn đèn của chị em Liên cũng chỉ hắt những “hột sáng” bé bỏng xuống mặt đường.  một hình ảnh đối lập khác khi “Liên nhớ lại khi ở Hà Nội chị được hưởng những thứ quà ngon, lạ - bấy giờ mẹ Liên nhiều tiền – được đi chơi Bờ Hồ, uống những cốc nước lạnh xanh đỏ. Ngoài ra, kỉ niệm còn nhớ lại không rõ rệt gì, chỉ là một vùng sáng rực và lấp lánh. Hà Nội nhiều đèn quá”(4). Điểm dễ thấy nhất là sự tương phản giữa ánh sáng của phố huyện với ánh sáng mà Hà Nội đã có. Những ánh lửa yếu ớt giống như phố huyện đang thiu thiu ngủ.

Hà Nội trong quá khứ nhiều đèn đối lập hoàn toàn với phố huyện nhiều bóng tối. Qua đó gửi gắm ước mơ về một cuộc sống đủ đầy ở tương lai, ước mơ thoát khỏi hiện thực tù đọng thiếu thốn đang diễn ra. Ước mơ đó được gửi gắm qua cảnh chờ đợi đoàn tàu từ Hà Nội về: “Hai chị em đợi không lâu, tiếng còi đã rít lên và tầu rầm rộ đi tới. Liên dắt em đứng dậy để nhìn đoàn xe vụt qua, các toa đèn sáng trưng, chiếu ánh cả xuống đường. Liên chỉ thoáng trông thấy những toa hạng trên sang trọng lố nhố những người, đồng và kền lấp lánh, và các cửa kính sáng”.

Bằng một cốt truyện nhẹ nhàng đơn giản, Thạch Lam đã thể hiện thấm thía niềm xót thương đối với những kiếp người sống cơ cực, quẩn quanh tăm tối ở phố huyện nghèo trước Cách mạng. Đồng thời ông bộc lộ niềm trân trọng ước mong đổi đời tuy còn mơ hồ ở họ.

Trong giai đoạn 1945 - 1975, biểu tượng lửa dường như xuất hiện nhiều hơn trước. Bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt là tác phẩm tiêu biểu nhất. Lửa “cháy” nồng ấm từ đầu đến cuối bài thơ. Lửa được đặt trong hai hoàn cảnh khắc nghiệt “năm ấy là năm đói mòn đói mỏi” và chiến tranh thì ngọn lửa vẫn luôn được ủ, được nhen, được nhóm, dấu hiệu của lửa – khói hay cũng chính là dấu hiệu của sự sống vẫn hun nhèm mắt cháu. Và đến tận câu thơ cuối cùng của bài thơ, lửa vẫn xuất hiện trong câu hỏi – câu hỏi duy trì, câu hỏi khẳng định lửa vẫn cháy, lửa vẫn được bà nhóm lên - Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa? Biểu đạt được điều này chính là bởi Bằng Việt đã sử dụng một loạt các từ ngữ thuộc trường nghĩa lửa và “đốt” chúng khắp bài thơ. Sự xuất hiện của lửa và dấu ấn của sự duy trì, sự tồn tại bền bỉ còn được biểu hiện bằng các yếu tố ngôn ngữ là các mệnh đề thời gian và các trạng ngữ chỉ thời gian như “lên bốn tuổi cháu”, “Tám năm ròng”, “Rồi sớm chiều”, “mấy chục năm rồi đến tận bây giờ”… Dù mấy chục năm rồi ngọn lửa vẫn cháy là minh chứng cho sức sống Việt Nam bền bỉ dù phải trải qua thăng trầm, đổi dời, nhọc nhằn mưa nắng. Chúng ta cũng nhận ra ở đây tồn tại mối quan hệ giữa vẻ đẹp tinh thần - sức sống bền bỉ, mãnh liệt đầy sức toả lan, ảnh hưởng của “bà” (có thể gọi đó là ngọn lửa kì diệu của cuộc sống này) và ngọn lửa chờn vờn, ấp iu nồng đượm được bà nhen, bà nhóm bao năm. Mối quan hệ này làm sáng thêm hình tượng người bà trong bài thơ. Cũng qua đó mà thể hiện được tình yêu thương và sự ngợi ca người bà như đấng tạo sinh của tác giả. Sử dụng biểu tượng lửa để góp phần thể hiện hình tượng người bà trong bài thơ là một thành công của Bằng Việt.

Lửa như bàn tay thắp lại triệu chồi xanh. Trong tác phẩm Rừng xà nu, lửa xuất hiện trở đi trở lại 22 lần. Lửa được coi như biểu tượng cho sự sống xuất hiện 15 lần. Chứng kiến cảnh Tnú bị bắt và bị tra tấn, cụ Mết cùng dân làng đứng lên chống giặc. Sau chiến thắng, cụ kêu gọi cả dân làng “Đốt lửa lên”. Đống xà nu lớn giữa nhà cháy đỏ mãi, kẻ thù đã bị giết ngổn ngang quanh đống lửa đó. Lửa như một thông điệp tấu lên sự cáo chung của tội ác và sự sống mở ra trước mắt. Từ đó giặc không dám vào làng, sự dữ dội, nỗi đau thương của chiến tranh cũng giảm dần còn con người trưởng thành mãi lên. Chính vì vậy, sau 3 năm đi lực lượng, Tnú trở về, cuộc sống làng Xô Man đã đổi khác. Mọi người cùng với ngọn lửa tự do đón anh trong niềm tự hào: “Các cô gái dụi tắt đuốc ở cầu thang trước khi bước vào nhà. Cũng có người, các bà cụ, cầm cả cây đuốc còn cháy rực đi thẳng vào, soi lên mặt Tnú, nhìn đi nhìn lại thật kĩ rồi ném bó đuốc vào bếp, lửa bốc lên, cháy giần giật”.

Khát vọng hòa bình luôn là ý tưởng cao đẹp mà loài người phấn đấu và hướng tới. Những người đã trải qua chiến tranh bom đạn mới có thể thấu hiểu hết giá trị của hòa bình. Biểu tượng lửa trong những tác phẩm viết trong chiến tranh với màu đỏ đã mang đến hy vọng vào ngày mai tốt đẹp và tươi sáng hơn. Trong tâm thức cộng đồng, màu đỏ còn là màu của may mắn. Người Việt thường có nghi thức mua lửa đầu năm để cầu mong sự may mắn. Trong chiến tranh ác liệt, con người vì sinh tồn đã mang đến nhiều phát minh để che dấu lửa, giữ lửa. Nhưng khi hòa bình đang đến gần, lửa tưng bừng xuất hiện trở lại, lửa trở thành một sứ giả thiện chí không lời. Bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu sáng tác năm 1954, khi hòa bình mới chỉ chạm ngõ tương lai. Nhà thơ không một lời thông báo rằng hòa bình đang tới, nhưng qua ánh lửa rực cháy, người đọc có thể cảm nhận được khát khao đổi đời cháy bỏng ở tác phẩm:

Nhớ sao lớp học i tờ

Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan.

…Dân công đỏ đuốc từng đoàn

Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay  (5).

Trong hai cuộc chiến diệt giặc đói – giặc dốt và giặc ngoại xâm, cuộc chiến nào đến 1954 cũng dành nhiều thắng lợi. Tranh đấu trong bí mật, ánh lửa là thứ cấm kị khi di chuyển trong đêm. Thế mà giữa “đồng khuya” đuốc lại “sáng”. Phải chăng, đó là ngọn đuốc của tinh thần vượt khó quả cảm của lòng quyết tâm vì ngày mai tươi sáng. Thêm nữa, thông thường khi miêu tả đoàn dân công trong kháng chiến ở nơi chiến trường, các nhà văn, nhà thơ sẽ khắc hoạ hình ảnh của họ trong công việc phá núi, mở đường lấp hố bom, băng đi giữa làn pháo đạn. Hình ảnh này nhằm diễn tả không khí dữ dội của chiến tranh. Tố Hữu bằng cái nhìn lãng mạn đã ghi lại một nét đẹp lạ. Người dân công đang ở bên những ngọn đuốc rực sáng trong màn đêm. Sắc màu rực rỡ của từng “đoàn” đuốc khiến cho đêm chiến dịch không còn là đêm khói lửa chiến tranh mà đã trở thành đêm hội hoa đăng huy hoàng của muôn vàn ánh sáng. Tác giả cũng khéo léo vận dụng sáng tạo từ ngữ dân gian “chân cứng đá mềm” để chỉ sức mạnh của ý chí tinh thần đã giúp con người vượt lên trước mọi gian lao. So với tục ngữ dân gian, cách diễn đạt của Tố Hữu tạo ấn tượng mạnh hơn. Câu thơ “Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay” như đang khẳng định sức mạnh của bước chân lịch sử. Khi ánh đuốc đỏ trong đêm là khi cục diện đã thay đổi, ta đã giành được thế chủ động tấn công áp đảo quân thù. Hình ảnh ánh lửa vừa cụ thể, vừa là một biểu tượng về sức mạnh, về tư thế làm chủ của cả một dân tộc trong cuộc đối mặt với quân thù. Trong thơ Tố Hữu, ngày mai thường được nhắc đến như một biểu tượng của tương lai tươi sáng. Đối với người kháng chiến, điều tươi đẹp nhất là hoà bình, tự do và hạnh phúc. Dân công đỏ đuốc từng đoàn là hiện thân của tư thế chủ động, là dấu hiệu của một tương lai tốt đẹp đang rạng ngời lên từ trong hiện thực.

          Cách mạng đã thành công, nhưng quân dân ta chưa kịp đuổi xong quân Pháp thì quân Nhật lại đến. Một cổ hai tròng, nạn đói năm 1945 làm hai triệu người chết. Chứng kiến những đau thương của quê hương, đồng thời cũng thấy được những đổi mới mà Cách mạng đem về, năm 1955, tác giả Kim Lân đã sáng tác tác phẩm Vợ nhặt. Trong văn bản, biểu tượng ánh lửa được nhắc tới thoảng qua nhưng găm vào lòng người đọc nhiều suy nghĩ. Sau khi nhặt được vợ, Tràng đã tiêu hoang hai hào dầu về để thắp đèn. Về đến nhà, bà cụ Tứ nghe con giãi bày chuyện lấy vợ nhặt thì thương cảm không ngăn nổi lệ: “Bà cụ nghẹn lời không nói nổi nữa, nước mắt cứ chảy xuống ròng ròng. Tràng đứng ngoài thấy vậy, hắn bực mình quá hầm hầm bước vào trong nhà, đánh diêm đốt đèn. Thấy sáng, bà lão vội vàng lau nước mắt ngửng lên: “Có đèn đấy à? Ừ thắp lên một tí cho sáng sủa…” (6). Ánh đèn Tràng thắp lên khiến người mẹ nghèo bỗng ngừng khóc. Hình như, cuộc sống tối tăm của xã hội Việt Nam khi nạn đói đang diễn ta đã biến mất. Chi tiết mua dầu và thắp đèn xuất hiện cho thấy cuộc sống đã đổi khác so với trước theo chiều hướng đi lên, xua đi cái tối tăm. Nó báo hiệu một tương lai tươi sáng của gia đình bà cụ Tứ. Phải thấy rằng, nhờ có thị theo về, Tràng mới mua dầu. Rõ ràng, tình người làm thay đổi cuộc sống trong hoàn cảnh tối tăm. Tác phẩm không chỉ miêu tả tình trạng thê thảm của người nông dân nước ta mà còn thể hiện bản chất tốt đẹp và sức sống kì diệu của họ: ngay bên bờ vực của cái chết, họ vẫn hướng về sự sống, khát khao tổ ấm gia đình và thương yêu đùm bọc lẫn nhau.

Cùng thời với tác phẩm Vợ nhặt là tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài. Truyện ngắn là kết quả của chuyến đi thực tế dài ngày của nhà văn trên vùng Tây Bắc. Đây là câu chuyện về những người dân lao động vùng cao Tây Bắc không cam chịu bọn thực dân, chúa đất áp bức, đầy đọa, giam hãm trong cuộc sống tối tăm mà vùng lên phản kháng, đi tìm cuộc sống tự do. Trong thiên truyện này, biểu tượng lửa xuất hiện ở hai phân đoạn trong tác phẩm. Phân đoạn thứ nhất, tiếng sáo gọi bạn yêu chợt ngân lên gọi bạn tình, lúc lấp ló đầu núi, khi ở đầu làng và tiếng sáo thời con gái đang hiện hữu trong lòng Mị thì cùng với hơi rượu, Mị muốn đi chơi xuân. Tiếng sáo thôi thúc da diết khiến cho Mị hồi sinh: “Mị đến góc nhà, lấy ống mỡ, xắn một miếng bỏ thêm vào đĩa đèn cho sáng”. Kể từ khi làm dâu nhà thống lí, Mị sống trong một căn buồng tối, chỉ có một cửa sổ lỗ vuông, chỉ thấy một màu nhờ nhờ không biết là sương hay là nắng. Trong suốt thời gian làm dâu sau này, Mị chưa bao giờ có ý định thay đổi phần đời tối tăm ấy, bởi lòng Mị còn tối hơn căn buồng kia. Khi Mị bước vào góc nhà và lấy ống mỡ xắn thêm một miếng bỏ vào đĩa đèn cho sáng cũng là lúc một nguồn sáng đã được thắp lên trong tâm hồn Mị. Mị lần hồi biết nghĩ cho tương lai của mình, Mị nhớ lại mùa xuân thủa trước. Chính vì vậy, sau này A Sử chỉ có thể thổi tắt được ngọn đèn trong căn buồng chứ không thể thổi tắt được ngọn lửa trong tâm hồn Mị. Nói cách khác, việc Mị thắp đèn là dấu hiệu quan trọng cho sự hồi sinh, sức sống trong tâm hồn cô. Và khi sức sống đã trỗi dậy, Mị chỉ cần bước đến nhu cầu khát vọng của mình, chỉ sống với thế giới nội tâm của mình. Mọi tác động bên ngoài không còn đáng kể nữa.

Phân đoạn thứ hai kể về một thói quen của Mị: “Những đêm mùa đông trên núi cao dài và buồn, nếu không có bếp lửa sưởi kia thì Mị cũng đến chết héo. Mỗi đêm, Mị đã dậy ra thổi lửa hơ tay, hơ lưng không biết bao nhiêu lần”. Hôm nay: “Mị lại thức thổi lửa suốt đêm. Mỗi đêm, khi nghe tiếng phù phù thổi bếp, A Phủ lại mở mắt. Ngọn lửa sưởi bùng lên, cùng lúc ấy thì Mị cũng nhìn sang…” (7). Không khí mùa xuân đã khiến Mị có những chuyển biến thật mạnh mẽ, dù vẫn mang vẻ ngoài câm lặng nhưng trong lòng Mị thì như một bếp than ủ lửa. Ngọn lửa trong bếp sẵn sàng bùng cháy bất cứ khi nào. Và nhờ có A Phủ, ngọn lửa trong Mị có chất xúc tác để cháy lên. Mị cắt dây trói cho A Phủ. Người đọc những tưởng Mị cứu A Phủ. Nhưng thực chất, Mị đã được A Phủ cứu. Hai mảnh đời trôi dạt nương tựa vào nhau để cùng đi tìm tự do. Nhờ có ngọn lửa ấy mà tương lai hai nhân vật đã mở ra khi Cách mạng về.

Từ một số tác phẩm có sử dụng chất liệu nghệ thuật “lửa”, qua các thời kì, chúng tôi nhận ra giữa chúng có sự khác biệt trong cách thể hiện. Trước Cách mạng tháng Tám, ánh lửa luôn xuất hiện trong sự tương phản với những phần đời u ám của nhân vật. Liên và An hướng về nguồn sáng nhưng chưa biết khi nào mới có thể thoát khỏi không gian phố huyện. Huấn Cao sau phút thăng hoa phải từ giã cõi đời. Ngược lại, trong văn học sau Cách mạng tháng Tám, lửa lại dẫn dụ đưa nhân vật về phía tương lai tươi sáng. Sau khi dân làng nổi lửa, Tnú đi lực lượng giết giặc lập công, Mị và A Phủ đưa nhau về vùng Phiềng Sa ươm trồng cuộc sống mới... Tính lịch sử và tính khuynh hướng của văn học là nguyên do thai nghén sự khác biệt này.

2.2.2. Lửa – tình yêu và khí phách

Trong văn học, lửa không chỉ mang ý nghĩa biểu trưng cho sự sống mà nó còn là phương tiện truyền dẫn tình yêu.

Sử dụng biểu tượng lửa, bài Khăn thương nhớ ai, tác giả dân gian đã diễn đạt tình yêu của người con gái trước ngưỡng cửa hôn nhân trong xã hội xưa. Khăn thương nhớ ai là bài ca dân gian nổi tiếng thuộc chủ đề tiếng hát yêu thương tình nghĩa. Hai câu ca dao trong bài ca này gián tiếp nhắc tới biểu tượng lửa:

Đèn thương nhớ ai

Mà đèn không tắt

Mắt thương nhớ ai

Mắt ngủ không yên.

Đêm qua em những lo phiền

Lo vì một nỗi không yên một bề... (8)

Đoạn ca dao điệp lặp từ “thương nhớ”. Thương nhớ là cung bậc cảm xúc của tình yêu. Ngọn đèn là người bạn của cô gái đang yêu. Trước lương duyên sắp tới, người con gái bất ổn trong lòng, nàng chong đèn suốt đêm, nói chuyện cùng cây đèn về nỗi lòng của mình. Nỗi lòng ấy dường như đang ngổn ngang trăm mối. Nàng cô đơn, lo âu trước ngã rẽ cuộc đời mình. Nỗi lòng chỉ có thể ngỏ cùng cây đèn. Tuy vậy, qua hai từ “thương nhớ”, cây đèn không còn được coi là sự vật vô tri vô giác. Cây đèn ở đây tưởng như hai đối tượng nhưng thực ra là một: đèn không tắt là người con gái đang yêu không ngủ. Nàng thầm kín, dịu dàng đong đầy cảm xúc trước tình yêu mình đang có. Cây đèn chính là thứ tình yêu sâu nặng, thường trực luôn thắp lửa trong tim người con gái đang yêu. Khi đêm xuống, con người đi vào giấc ngủ, nỗi nhớ thương “anh” vẫn thường trực trong lòng. Khi ngủ, con người vô thức – “tắt”, thế mà tình yêu thì vẫn thức – “không tắt”. Giống như cách nói của Xuân Quỳnh, tình yêu đó “cả trong mơ còn thức”. Như vậy, lửa như trạng thái của người con gái đang yêu hay nói cách khác, tình yêu thắp lửa trong trái tim người con gái đang yêu.

Trở lại với tác phẩm Chữ người tử tù đã nhắc ở trên. Bên cạnh ý nghĩa lửa là sự sống của viên quan ngục, người đọc còn bắt gặp một ý nghĩa khác của biểu tượng lửa nhìn từ nhân vật Huấn Cao. Dưới ánh đuốc rừng rực cháy, một người tù cổ đeo gông, chân vướng xiềng đang dậm tô những nét chữ. Khí phách ở Huấn Cao là ở đây. Với Huấn Cao, lửa như nguồn nội lực tràn trề của tài hoa phát tiết, thiên lương trong sáng, bản lĩnh gan góc và khí tiết, dẫu ngày mai phải đối mặt với án tử thì “uy vũ bất năng khuất”. Sự sống vật chất ngay ngày mai khép lại nhưng tượng đài bất tử tinh thần lại khai sinh.

Lửa không chỉ là tình yêu, lửa còn là khí phách con người. Trong thần thoại, ngọn lửa bốc cao, sức nóng của lửa tượng trưng cho sự thăng hoa của khí phách. Trong truyện Rừng xà nu, lửa là nguồn động lực thôi thúc, làm cho khí phách của con người tăng lên. Dường như đỉnh điểm của câu chuyện, nhà văn đã tập trung bút lực miêu tả lửa với giọng văn bi tráng, đậm chất sử thi. Màu đỏ của lửa là màu của máu, nó biểu trưng cho tinh thần chiến đấu và khí phách hiên ngang. Tnú bị thằng Dục dùng nhúm giẻ đã tẩm dầu xà nu quấn vào mười đầu ngón tay và châm lửa đốt. Mười ngón tay đã thành mười ngọn đuốc. Nhưng anh không cảm thấy lửa ở mười đầu ngón tay nữa. Tnú “nghe lửa cháy trong lồng ngực, cháy ở bụng”. Như vậy, anh không có cảm giác đau ở da thịt mà thấm thía nỗi đau tinh thần, lòng cảm nhận sâu sắc âm mưu của kẻ thù, bi kịch khủng khiếp của cuộc đời mình. Ngọn lửa chính là thử thách đối với anh. Máu anh mặn chát ở đầu môi. Anh chỉ còn nghe thấy lời anh Quyết dặn: “Người cộng sản không thèm kêu van”. Và Tnú tự nhủ: Tnú không thèm kêu van. Đoạn văn tự sự chuyển thành đoạn văn trữ tình. Ngọn lửa của âm mưu thâm độc, của tội ác dã man đã không đốt cháy được chất vàng mười trung thành, bất khuất của người chiến sĩ trẻ Tây Nguyên. Mặc dù đau đớn nhưng anh đã không kêu một tiếng. Trái tim Tnú đã mang hình ngọn lửa. Chính lửa đã giúp Tnú và cả làng Xô Man quyết tâm đánh giặc đến cùng để đòi quyền sống. Khi Tnú thét lên một tiếng. Chỉ một tiếng thôi. Nhưng tiếng thét của anh bỗng vang dội thành nhiều tiếng thét dữ dội hơn”. Cụ Mết đã đứng đấy, lưỡi mác dài trong tay. Và tất cả thanh niên trong làng, mỗi người một cây rựa sáng láng. Họ đi từ rừng ra. Không chỉ có Tnú có khí phách quật cường mà cả làng Xô Man cũng có sức mạnh ấy. Hiệu ứng của tất cả mọi hành động này bắt đầu từ lửa. Khí phách đó có sức lan tỏa như lửa đến mọi người. Cả làng Xô Man trước ngọn lửa lòng đã đi đến một quyết định sáng suốt: “Chúng nó cầm súng, mình phải cầm giáo mác”. Như vậy lửa đã đưa Tnú và làng Xô Man tìm đến một chân lý giác ngộ vàng mười. Lửa mang đến sự hủy diệt cho anh nhưng chính lửa đã bù đắp cho  anh lòng kiên định.

3. Kết luận

Biểu tượng có khả năng thông báo và dường như có dấu hiệu mặc định. Khi sáng tác, nhà văn thường gửi gắm một tư tưởng, một thông tin qua những biểu tượng hay còn gọi là những tín hiệu thẩm mĩ. Trong chương trình phổ thông, biểu tượng lửa xuất hiện trở đi trở lại và gửi gắm ba ý niệm cơ bản: lửa là sự sống mới, lửa tình yêu và khí phách. Để giảng dạy hiệu quả ở phổ thông trong điều kiện hiện nay, người giáo viên cần mô hình hóa hệ thống kiến thức, biến nó thành một chiếc chìa khóa nhằm tăng hứng thú cho người học.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

(1), (2). Jean Chevalier và Alain Gheerbrant, Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, Nxb Đà Nẵng, 2015, tr.297 - 548.

(3), (4). Ngữ văn 11, tập 1, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2010, tr. 98 - 113

(5), (6), (7). Ngữ văn 12, tập 1, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2009, tr.13 - 112.

(8). Ngữ văn 10, tập 1, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2011, tr.83

 T. J. Logan Jersey