NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ TƯ TƯỞNG TRONG TRUYỆN KIỀU

GS.TS. LÊ VĂN QUÁN

Trường ĐHKHXH & Nhân văn Hà Nội

1. Những giá trị tư tưởng trong Truyện Kiều

Truyện Kiều là tác phẩm chính của nhà thơ thiên tài Nguyễn Du, gồm có 3254 câu thơ lục bát. Nội dung rất phong phú, có giá trị hiện thực sâu sắc, tư tưởng nhân đạo chủ nghĩa cao cả.

Tính chất hiện thực - Nguyễn Du viết Truyện Kiều sau khi ra làm quan với nhà Nguyễn. Lúc bấy giờ ông đã ngoài bốn mươi tuổi, đã trải qua thời Lê - Trịnh, thời Tây Sơn đến thời Nguyễn. Những năm thiếu thời sống ở Thăng Long, ngót mười năm lưu lạc sống chung với nhân dân, và mấy năm làm quan dưới triều đình mới, ông đã chứng kiến những cảnh thối nát của xã hội phong kiến suy tàn thời Lê - Trịnh, đến sự vùng dậy mãnh liệt của thời Tây Sơn, v.v… Những biến cố ấy khắc sâu vào tâm trí của ông và được phản ánh vào văn chương một cách sâu sắc.

Trong Truyện Kiều, mới thoáng qua bề ngoài ta thấy chế độ phong kiến yên tĩnh, vững vàng “Rằng năm Gia Tĩnh triều Minh, Bốn phương phẳng lặng hai kinh vững vàng”. Nhưng thực chất thì mục ruỗng từ bên trong. Bọn quan lại phong kiến toàn là lũ sâu mọt, là những thế lực vô cùng hắc ám: Một tên quan xử kiện vụ Vương Ông, thằng bán tơ vu oan cho gia đình họ Vương, nhưng quan chẳng cần điều tra, nghiên cứu gì, chỉ cốt khảo cho ra tiền “Có ba trăm lạng việc này mới xong”. Đẩy gia đình họ Vương vào cảnh tan nát, phá tan mối tình đẹp đẽ của Thúy Kiều và Kim Trọng.

Đến như “Quan Tổng đốc trọng thần” họ Hồ, đại diện cho triều đình cũng là con người bỉ ổi, mất tư cách: dụ Từ Hải hàng rồi lừa giết một cách hèn nhát, dở trò dâm ô ngay với người vợ kẻ mình giết, lại đem gán cho người đã giúp mình một tên thổ quan, để đến nỗi Kiều phải gieo mình xuống sông Tiền Đường.

Một tên quan vô trách nhiệm xử vụ kiện Thúc ông, Thúc Sinh bằng thơ. Nếu như Kiều lúc đó không có tài thơ phú thì đã bị đẩy trở lại lầu xanh.

Trong lúc đó, bọn đại quí tộc như “họ Hoạn danh gia” tha hồ làm mưa làm gió. Mẹ con Hoạn bà nuôi cả một lũ côn quang để đi đốt nhà, bắt cóc người vô tội 
làm nô tỳ, đánh đập tàn nhẫn, thi hành theo “gia pháp” của mụ, bất chấp luật pháp nhà nước. Hoạn Thư còn lập mưu bắt cóc Kiều đem về cho mụ mẹ ngược đãi và bày ra trò gặp gỡ éo le chua xót giữa Thúy Kiều và Thúc Sinh. Hoạn Thư “con quan Lại bộ”, tuy thông minh sắc sảo có thừa nhưng vô cùng nham hiểm độc ác của con nhà quý tộc:

“Bề ngoài thơn thớt nói cười,

Mà trong nham hiểm giết người không dao.”

(K.c.1816)

Bên cạnh cường quyền của bọn phong kiến quan liêu ấy còn có thứ quyền hung hãn hơn là đồng tiền. Cả một lũ quan lưu manh “trong tay sẵn có đồng tiền” nên chúng tha hồ hoành hành làm hại những người lương thiện. Đồng tiền mà trước đây Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tố cáo tác dụng phá hoại đạo đức phong kiến:

“Còn bạc còn tiền còn đệ tử,

Hết cơm hết rượu hết ông tôi.”

Hay là sau này Nguyễn Công Trứ lên án:

“Tiền tài hai chữ, son khuyên ngược,

Nhân nghĩa đôi đường, nước chảy xuôi !”

Đến thời Nguyễn Du, đồng tiền tác oai tác quái càng cụ thể hơn. Cũng nhờ có đồng tiền mà bọn con buôn như họ Mã mới dám “Trước thầy sau tớ lao xao”, “ghế trên ngồi tót sỗ sàng”. “Cò kè bớt một thêm hai”, và cả lũ Tú Bà, Bạc Hạnh mới tự do buôn bán người lại được sự che chở của pháp luật. “Nghĩ rằng cũng mạch thư hương” như Sở Khanh vì tiền mà chịu làm “mặt mo” để thi hành độc kế của Tú Bà… Đồng tiền có thể “đổi trắng thay đen”. Nó dày xéo lên công lý, nó mua được lương tâm của con người. Nó đánh giá được tài đức, phẩm cách con người như đánh giá một món hàng bán ngoài chợ. Và Nguyễn Du đã vạch mặt tác hại của đồng tiền đối với xã hội và cuộc sống con người:

“Một ngày lạ thói sai nha,

Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền.”

(K.c.598)

Rồi Nho giáo là nền tảng tinh thần của chế độ phong kiến tập quyền, thì trong Truyện Kiều tỏ ra suy đồi cùng cực: như họ Mã chuyên nghề kiếm ăn bằng nguyệt hoa cũng nguyên là một Giám sinh tức học sinh trường Quốc tử giám, và tên Sở Khanh làm nghề cò mồi cho các mụ trùm buôn người cũng là trong “mạch thư hương”. Cửa Khổng sân Trình mà sinh ra những con người như thế thì đạo Nho đã suy yếu đồi lắm rồi.

Vì thế, người ta không lấy làm lạ khi thấy những nguyên lý tam cương ngũ thường của Nho giáo bị thực tế đảo lộn: Thúc Sinh cương quyết chống lại cha để được lấy người yêu, mặc dầu người đó là gái lầu xanh. Mà vào lầu xanh, nàng Kiều phải từ bỏ Kim Trọng dấn thân vào cuộc sống lầu xanh. Tình yêu tan vỡ, Kiều đau xót đến cùng cực, vì phẩm giá trong sạch của nàng bị xúc phạm:

“Mặt sao dày gió dạn sương

Thân sao bướm chán ong chường bấy thân!”

(K.c.1238)

Kiều tìm mọi cách để thoát khỏi cuộc sống nhục nhã ấy. Nhưng dưới chế độ phong kiến, chế độ đa thê là sản phẩm của đồng tiền, cho nên không thể bảo vệ hạnh phúc cho những kẻ “Săn bìm chút phận cỏn con” như nàng Kiều. Và cuộc đời Kiều, người con gái có nhan sắc nghiêng nước nghiêng thành, có tài hoa “pha màu thi họa đủ mùi ca ngâm”, có tâm hồn, tình cảm nồng nàn trong trắng ấy phải trải qua cuộc sống đời trầm luân, kiếp đời oan khổ của người phụ nữ: làm gái lầu xanh, làm vợ lẽ, làm nô tỳ, bị làm nhục khi chồng vừa chết… mà Nguyễn Du đồng cảm xót thương bằng những câu thơ:

“Thương thay cũng là một kiếp người,

Hại thay mang lấy sắc tài làm chi!

Những là oan khổ lưu ly,

Chờ cho hết kiếp còn gì là thân !”

(K.c.2642)

Qua đó cho ta thấy, xã hội trong Truyện Kiều là một xã hội phong kiến thối nát. Ngòi bút hiện thực sắc sảo của Nguyễn Du đã ghi chép lại những nét thật điển hình, phản ánh những bộ mặt xấu xa, tàn bạo của nhiều nhân vật: Hoạn bà, Hoạn Thư, Tú Bà, Sở Khanh… trong xã hội đó. Tuy là trong quá khứ nhưng giá trị hiện thực của Truyện Kiều vẫn lộ rõ mồn một trước mắt mọi người “Bản cáo trạng bằng thơ lên án chế độ phong kiến xấu xa, tàn bạo”(1).

TÍNH CHẤT NHÂN ĐẠO Nguyễn Du là nhà thơ thiên bẩm có trái tim đồng cảm sâu sắc với nhân vật, nắm bắt biện chứng của tâm hồn và những hành động sống động, thể hiện tốt cảm hứng nhân đạo chủ nghĩa. Tâm tư, cuộc sống nội tâm của nhân vật được nhà thơ khám phá, thăm dò sẽ mở ra một con đường cho sự phát triển của câu chuyện vô cùng thương tâm. Nguyễn Du lên án cái chế độ phong kiến dã man, tàn bạo, áp bức, dâm ô, trụy lạc, lừa đảo, độc ác và bênh vực con những con người bị áp bức, bị mất quyền làm người.

a. Lên án chế độ phong kiến dã man, tàn bạo

Qua tác phẩm Truyện Kiều, Nguyễn Du biểu lộ lòng phẫn nộ, căm thù bọn thống trị phong kiến. Cứ nhìn vào bọn quan lại chuyên nghề đục khoét, ông lại hình dung đó là lũ “Đầu trâu mặt ngựa, ào ào như sôi”, là lũ “nhặng xanh”. Ông tố cáo bọn cướp ngày bằng mấy tiếng “vét sạch sành sanh”, lột tả cảnh khảo của tàn khốc bằng hình ảnh “Rường cao rút ngược dây oan”. Ông kết luận xã hội phong kiến bằng một nhận xét “Một ngày lạ thói sai nha, Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền”.

Ngòi bút thiên tài Nguyễn Du còn trực tiếp vạch trần những tai vạ đến bất ngờ với gia đình Vương Ông: “Điều đâu bay buộc ai làm ? Này ai đan dập, giật giàm bỗng dưng ?”. Nguyễn Du như nhập hẳn vào gia đình Vương Ông để cùng gia đình, thổn thức: “Dẫu rằng đá cũng nát gan, lọ người “. Và đau xót, lo âu cho nỗi oan ức: “Mắt trông đau đớn rụng rời, Oan này có một kêu trời nhưng xa”.

Nguyễn Du căm ghét bọn người tàn bạo, căm ghét chế độ phong kiến áp bức bằng cách dùng thơ văn khắc vào trán lũ đầu trâu mặt ngựa: quan trọng thần Hồ Tôn Hiến, bọn buôn người Mã Giám Sinh, tên cò mồi Sở Khanh, mụ trùm lầu xanh Tú Bà v.v… Chúng là tay chân là cầu nối của chế độ phong kiến trực tiếp chà đạp lên phẩm giá, nhân cách của những người dân lương thiện. Chúng là kẻ thù của tự do và công lý, của lòng bác ái nhân đạo và cũng là kẻ thù vùi dập tài năng, trí tuệ của con người.

b. Đồng tình bênh vực các nạn nhân

Nạn nhân đau khổ tiêu biểu trong Truyện Kiều là nàng Kiều. Nguyễn Du như nhập hẳn vào Kiều để cùng Kiều đau xót, thổn thức, lo âu, hy vọng. Mỗi khi miêu tả những tai biến, những hạnh phúc và những tâm trạng của Kiều, Nguyễn Du đồng cảm, thể hiện rõ nét cảm hứng nhân đạo chủ nghĩa.

Mỗi khi Kiều bị xã hội phong kiến vùi dập thì tâm hồn Nguyễn Du như thắt lại, quằn quại trong một nỗi đau xót, bi thương. Ngòi bút của ông lại càng thể hiện nỗi đau đời, thương đời sâu sắc. Ngay từ đầu câu chuyện ta đã thấy giọng nói trong tình cảm của cô gái “Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê” còn chua xót, day dứt, chịu nhiều đổ vỡ, mất mát thì tâm hồn Nguyễn Du đau đớn, bất lực:

“Thôi còn chi nữa mà mong,

Đời người như thế là xong một đời.”

(K.c.856)

Nhiều lần Nguyễn Du ca ngợi cuộc tình duyên giữa Thúy Kiều và Kim Trọng. Cuộc tình duyên sẽ mở ra một cuộc đời đầy hạnh phúc. Tài tình được đề cao: Nàng Kiều có tài văn chương “nhả ngọc phun châu”, cung đàn của nàng có sức chinh phục người nghe phải thừa nhận “rằng hay thì thật là hay” Tình duyên đang mặn nồng, đầy ắp hy vọng thì gia đình gặp tai biến, những kẻ bất lương độc ác ập đến:

“Đầy nhà vang tiếng ruồi xanh,

Rụng rời khung dệt, tan tành gói may.”

(K.c.582)

…………

“Hỏi ra sau mới biết rằng:

Phải tên xưng xuất tại thằng bán tơ”.

(K.c.588)

Thúy Kiều đành phải bán mình để cứu cha và em ra khỏi tai họa. Lúc này, tài sắc của Kiều trở thành món hàng để bọn con buôn kiếm lời. Nguyễn Du đã lôi ra ánh sáng những ý nghĩ độc ác, đê tiện của Mã Giám Sinh và Bạc Hà khi vớ được Thúy Kiều:

“Đã nên quốc sắc thiên hương,

Một cười này, hẳn nghìn vàng chẳng ngoa.”

(K.c.826)

Mã Giám Sinh biến Kiều thành món hàng, chẳng còn phẩm giá con người, lại còn làm ô nhục, đánh đập, giày vò Kiều một cách thảm thương, Nguyễn Du căm giận, hổ tủi thốt ra lời:

“Phần căm nỗi khách, phần dơ nỗi mình.

Tuồng chi là giống hôi tanh,

Thân nghìn vàng để ô danh má hồng.”

(K.c.854)

Mỗi lần Kiều gặp bất hạnh hay gặp bế tắc là một lần Nguyễn Du có dịp gửi gắm hết những xúc cảm, những tâm sự đau đời, thương đời, cho nên khi nàng Kiều bị Tú Bà lôi về đánh đập, người ta thấy như chính Nguyễn Du bị đánh đập:

“Thịt da ai cũng là người,

Lòng nào hồng rụng thắm rời chẳng đau.”

(K.c.1138)

Kiều bị đánh đập, Nguyễn Du không cầm lòng nổi và phải kêu lên như thế. Tiếng kêu ấy, Nguyễn Du chắt lọc từ cuộc sống và lại trả về cuộc sống khách quan của tác phẩm. Nó có sức sống riêng và tự sinh sôi vượt ra ngoài dự định của Nguyễn Du. Nó không phải là tâm trạng cá biệt của con người cụ thể, cũng không thể chỉ thể hiện tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du. Mà nó trào dâng vô tận theo sự sống, theo thời gian thể hiện tấm lòng nhân đạo của bao nhiêu con người bị chà đạp, mang ý nghĩa khái quát bao trùm cả thân phận nàng Kiều, thân phận Nguyễn Du và thân phận những người có tâm sự như Nguyễn Du.

Xuất phát từ tấm lòng ấy, cho nên khi Thúy Kiều bị bán trở lại lầu xanh, Nguyễn Du liền viết một thôi dài:

“Chém cha cái số hoa đào,

Cởi ra rồi lại buộc vào như chơi !

Nghĩ đời mà ngán cho đời,

Tài tình chi lắm cho trời đánh ghen.

Tiếc thay nước đã đánh phèn,

Mà cho bùn lại vẩn lên mấy lần.

Hồng quân với khách hồng quần,

Đã xoay đến thế còn vần chưa tha.”

(K.c.2158)

Thân Kiều bị làm nhục, đọa đầy chưa đủ, Kiều có chút “tài mọn”, Tú Bà còn bắt nàng hầu đàn làm trò vui cho bọn làng chơi. Đau đớn nhất, bi thảm nhất, Kiều phải hầu đàn cho vợ chồng Hoạn Thư và hầu đàn cho tên Tổng đốc dâm ác Hồ Tôn Hiến:

“Bốn dây như khóc như than,

Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng.”

(K.c.1854)

……

“Một cung gió thảm mưa sầu,

Bốn dây rỏ máu năm đầu ngón tay.”

(K.c2570)

Nỗi oan khốc của nàng Kiều được Nguyễn Du biểu hiện bằng những lời xót xa cho kiếp người tài sắc:

“Thương thay cho một kiếp người !

Hại thay ! mang lấy sắc tài làm chi !

Những là oan khổ lưu ly,

Chờ cho hết kiếp còn gì là thân ?”

(K.c.2642)

Cảm hứng nhân đạo chủ nghĩa của Nguyễn Du có khi tả người, tả việc một cách khách quan, có khi khai thác tâm lý theo hướng hiện thực chủ quan hóa sự việc, nhân đạo hóa sự việc thành khát vọng hạnh phúc của con người và đập thẳng vào tâm lý tình cảm con người. Dù là khách quan hay chủ quan hai điều đó đều thống nhất: Nguyễn Du đồng tình với gia đình Vương Ông, với Thúy Kiều với những nạn nhân của chế độ phong kiến dã man, tàn bạo. Nguyễn Du quý trọng tài năng, trí tuệ, thương xót Thúy Kiều và qua Thúy Kiều thương xót cho số phận những con người bị xã hội vùi dập. Tấm lòng nhân đạo ấy không chỉ biểu hiện ở Truyện Kiều mà cả trong Văn tế thập loại chúng sinh và trong tất cả các tác phẩm của ông. Chính vì vậy tinh thần nhân đạo chủ nghĩa luôn luôn tỏa sáng hương thơm cho Truyện Kiều muôn đời sống mãi trong lòng nhân loại.

c. Nguyễn Du tán thành tự do yêu đương

Trong Truyện Kiều một mặt tố cáo chế độ phong kiến tàn bạo, chà đạp lên con người, một mặt tán thành tự do yêu đương, chống lại lễ giáo phong kiến hà khắc.

Thái độ của Thúy Kiều là dám vươn mình lên chống lại lễ giáo phong kiến, giành hạnh phúc chính đáng của mình. Mới gặp lại lần đầu, Kiều đã để trái tim rung động trước một chàng trai với những ước mơ thầm kín nhưng vô cùng tha thiết:

“Người đâu gặp gỡ làm chi,

Trăm năm bết có duyên gì hay không ?”

(K.c.182)

Lễ giáo phong kiến ngăn cấm trai gái gặp gỡ nhau, nhưng Nguyễn Du để Thúy Kiều gặp Kim Trọng, tự do đính ước với chàng. Táo bạo hơn nữa, Kiều đã bỏ nhà sang tình tự với Kim Trọng trong khi cha mẹ về ăn sinh nhật bên quê ngoại. Nguyễn Du dùng ngòi bút diễn tả cái đậm đà, say sưa để nói cho hết cái say sưa đậm đà của trái tim người con gái mới biết yêu: “Gót sen thoăn thoắt dạo ngay mái tường” (K.c.378)

Kiều gặp Kim Trọng tay bắt mặt mừng:

“Mặt nhìn mặt càng thêm tươi,

Bên lời vạn phúc, bên lời hàn huyên.”

(K.c.394)

Và cái cảnh nàng Kiều giật mình, vì thời gian trôi đi quá nhanh:

“Ngày vui ngắn chẳng đầy gang,

Trông ra ác đã ngậm gương non đoài.

Vắng nhà chẳng tiện ngồi dai,”

(K.c.427)

Tình yêu tha thiết của Thúy Kiều được đền đáp bởi một trái tim nồng nhiệt của Kim Trọng. Để thỏa tâm tình riêng, chàng chẳng quản công lao, thuê cho được nhà ở gần người mình yêu, mới mong có cơ hội gặp gỡ. Và chàng tương tư đến nỗi bỏ cả trách nhiệm “nấu sử sôi kinh” của chàng trai phong kiến:

“Phòng văn lạnh ngắt như đồng,

Trúc se ngọn thỏ, tơ chùng phím loan.

Mành tương phân phất gió đàn,

Hương gây mùi nhớ, trà khan giọng tình.”

(K.c.256)

Mối tình rất trong sạch, thủy chung, Kiều chính là người phụ nữ trong sạch. Yêu thương nồng nhiệt, say đắm nhưng nàng biết giữ mình không quá trớn, sàm sỡ hại đến tình yêu, khi thấy Kim Trọng:

“Sóng tình dường đã xiêu xiêu,

Xem trong âu yếm có chiều lả lơi.”

(K.c.500)

thì Kiều khuyên Kim Trọng:

“Đã cho vào bậc bố kinh,

Đạo tòng phu lấy chữ trinh làm đầu.

Ra tuồng trên bộc trong dâu,

Thì con người ấy ai cầu làm chi !”

(K.c.508)

Đó là quan niệm đạo đức của người phụ nữ Việt Nam biết giữ gìn phẩm giá trong sạch. Mối tình giữa Thúy Kiều và Kim Trọng là mối tình đẹp đẽ chống đối lễ giáo phong kiến. Là một tư tưởng lãng mạn cách mạng. Đó là chưa kể đến cuộc tình duyên giữa Từ Hải và Thúy Kiều, một cuộc gặp gỡ tự do trai tài và gái sắc, hoàn toàn khuôn khổ phong kiến (Từ Hải đưa Thúy Kiều lên địa vị phu nhân). Tình yêu tự do đã thắng. Tinh thần nhân đạo đã thắng. Vì nó như thế mới đạt được hạnh phúc. Trong đời Kiều hạnh phúc trong sạch, tươi đẹp là cái ước mơ đầy nhân đạo của Nguyễn Du - ước mơ về một sự ổn định, một thái độ gắn bó đến cùng với những người đau khổ, ước mơ thoát khỏi cuộc đời lầy lội của chế độ phong kiến. Kim Trọng thể hiện ước mơ giải phóng tình cảm bằng một tình yêu lý tưởng và ước mơ giải phóng tình cảm bằng một nhận thức gạn đục khơi trong. Cho nên khi Kim Trọng định bỏ nhiệm vụ trị dân đi theo tình, Nguyễn Du cũng tán thành như là một việc đáng làm:

“Rắp mong treo ấn từ quan,

Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua.

Giấu mình trong áng can qua,

Vào sinh ra tử họa là thấy nhau.”

(K.c.2942)

Nguyễn Du lại nhận ra rằng tình cảm có vượt qua lễ giáo phong kiến mới tìm được hạnh phúc, nhưng trong xã hội đầy rẫy những sự bất công, những sự đàn áp, bóc lột tàn khốc thì những sự vùng vẫy để ngoi lên hạnh phúc của Thúy Kiều, Kim Trọng thật quá mong manh. Chỉ có đạp đổ cái triều đình “vào luồn ra cúi”, thi hành một chế độ có công lý hợp nhân đạo thì mới có một cuộc đời hạnh phúc. Nguyễn Du nhập thân vào Từ Hải. Cảm hứng nhân đạo chủ nghĩa của Nguyễn Du không chỉ thể hiện ở tâm tư, suy nghĩ của Từ Hải với một thái độ yêu thương tri kỷ với Kiều mà còn thể hiện khát vọng tự do và công lý của nhà thơ. Từ Hải thể hiện ước mơ giải phóng tình cảm bằng nhận thức của người tri âm và giải phóng con người trong xã hội bằng hành động của người anh hùng. Những gì Kim Trọng chưa làm được thì Từ làm được với một khí phách:

“Chọc trời khuấy nước mặc dầu,

Dọc ngang nào biết trên đầu có ai !”

(K.c.2472)

Từ đã “đạp đổ năm tòa cõi Nam”. “vạch đôi sơn hà” và hùng cứ một phương ngang nhiên chống lại triều đình phong kiến. Từ đã thực hiện chí hướng “một tay xây dựng cơ đồ”, tung hoành khắp “bể Sở sông Ngô”. “làm cho động địa kinh thiên đùng đùng”. Binh uy của Từ như “sấm vang trong ngoài” và trước cờ của Từ, chẳng có dám tranh cường.

Ở nước ta, những cuộc dấy binh như Từ Hải lúc đó là biểu hiện sự quật khởi của một thời đại. Thực chất là những cuộc khởi nghĩa nông dân và Từ là một lãnh tụ. Vì thế. Việc làm của Từ, trên quan điểm lịch sử, là một đòn đánh mạnh vào chính quyền phong kiến thối nát, tham quan nhũng lại che chở cho bọn bán thịt buôn người, đè nén, bóc lột nhân dân.

Đặc biệt, Từ vốn là người trọng nghĩa, lý tưởng theo đuổi của chàng là bênh vực kẻ bị áp bức, chống lại bất công, thực hiện công lý trừ diệt bọn tà gian:

“Anh hùng tiếng đã gọi rằng,

Giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha.”

(K.c.2430)

Khi Thúy Kiều kể về những việc nàng bị đầy đọa ngày trước, Từ Hải đã “Bất bình nổi trận đùng đùng sấm vang” (K.c.2296)

Qua đó ta càng thấy rõ. Nguyễn Du ca tụng Từ Hải hết lời. Theo ông, Từ Hải là một anh hùng đủ tài trí, dũng cảm, nhân nghĩa, có chí lớn dám đứng lên chống lại triều đình phong kiến thối nát, tự tay mình khôi phục công lý, nhân đạo, thực hiện đúng nguyện vọng của quần chúng. Cho nên, Từ đã qua đời, nhưng nhân dân vẫn nhắc đến Từ:

“Bỗng đâu lại gặp một người,

Hơn đời tài chí dũng nghiêng trời uy linh.”

(K.c.2904)

……

“Đại vương tên Hải, họ Từ,

Đánh quen trăm trận, sức dư muôn người.”

(K.c.2920)

Ngay Thúy Kiều cũng nói thẳng trước mặt Hồ Tôn Hiến:

“Rằng Từ là đấng anh hùng,

Dọc ngang trời rộng, vẫy vùng bể khơi.”

(K.c.2550)

Mà không sợ mắc tội đã khen một tướng giặc trước đại diện triều đình. Điều đó chứng tỏ Nguyễn Du đã thành công và Từ Hải là một đòn đánh mạnh vào chế độ phong kiến tan rã. Trong Truyện Kiều, Từ Hải là hiện thân giấc mộng anh hùng của Nguyễn Du.

Giá trị nhân đạo chủ nghĩa của Truyện Kiều là tiếng nói anh hùng của nông dân trong sự nghiệp giải phóng của những con người bị đè nén, áp bức, đấu tranh cho tự do, công lý, chính nghĩa, khẳng định phẩm chất đẹp đẽ, trong sạch của người phụ nữ Việt Nam. Những điều đó quyện vào nhau là tiền đề để Nguyễn Du xây dựng nên Truyện Kiều tố cáo các hiện thực ti tiện của xã hội Việt Nam ở cuối thế kỷ XVIII đều thế kỷ XIX.

2. Những hạn chế tư tưởng trong Truyện Kiều

Nguyễn Du vốn xuất thân trong gia đình quí tộc, học hành theo nếp nhà Nho, kiến thức thu nhận được trong sách vở là Nho, Phật, Lão, bản thân hành động phò Lê chống lại Tây Sơn. Vì thế, ngoài giá trị hiện thực tố cáo và giá trị nhân đạo chủ nghĩa. Truyện Kiều vẫn không thoát khỏi ý thức phong kiến, không tránh nổi những tư tưởng thoái hóa. Nhất là dưới triều Nguyễn chuyên chế áp bức những cuộc bạo động lẻ tẻ đều bị Gia Long dập tắt, dân chúng lại trở lại cuốc sống ao tù, ngạt thở. Bản thân Nguyễn Du cũng không sao tránh được, đành phải gò mình ra làm quan sống trong khuôn khổ của triều đình phong kiến.

Những mâu thuẫn ấy đã phản chiếu và Truyện Kiều nhiều khi khiến cho người đọc phải đau đầu, khó chịu. Nguyễn Du ca ngợi mối tình tự do, tươi đẹp của Thúy Kiều, hoan nghênh cuộc gặp gỡ tài tình của lứa đôi Thúy Kiều - Từ Hải, đề cao lòng thủy chung của Kim Trọng, đã đưa nàng Kiều ra khỏi nhà chùa để về đoàn tụ với người xưa, nhưng cuối cùng lại nói rằng: “tình là dây oan”, “tu là cõi phúc”.

Tác giả đã thương xót, căm ghét khiến cho người đọc cũng thương xót, căm ghét những bọn bất lương tàn bạo, đã vạch mặt chỉ tên những lũ quan nha, Mã Giám Sinh, Tú Bà, Hoạn Thư, Sở Khanh… đã làm khổ Thúy Kiều, nhưng cuối cùng lại để sư Tam Hợp kết luận đó là do cái “nghiệp” của Thúy Kiều từ kiếp trước, chính cái “nghiệp” ấy đã xô đẩy Thúy Kiều và tự Thúy Kiều giấn mình vào đau khổ, hoạn nạn:

“Ma đưa lối quỷ dẫn đường,

Lại tìm những chốn đoạn trường mà đi”

K.c.2666)

Nghĩa là Nguyễn Du giải thích căn nguyên gây ra cuộc đời oan trái, chìm nổi của Kiều là do thuyết “mệnh trời” của đạo Nho và thuyết “luân hồi”, “nhân quả” của đạo Phật, đều là những lực lượng siêu nhiên, thần bí. Gắn liền vào đó, Nguyễn Du thông qua hình tượng nhân vật với những đoạn thơ nói về “mệnh”, “nghiệp” gieo rắc không ít những tư tưởng bi quan, tiêu cực. Chẳng hạn, lời tiên đoán của một thầy số:

“Nhớ từ năm hãy thơ ngây,

Có người tướng sĩ đoán ngay một bài.

Anh hoa phát tiết ra ngoài,

Nghìn thu bạc mệnh, một đời tài hoa”

(K.c.416)

Hay lời đay nghiến của nhân vật chính:

“Đã cho lấy chữ hồng nhan,

Làm cho cho hại cho tàn cho cân.

Đã đày vào kiếp phong trần,

Sao cho sỉ nhục một lần mới thôi.”

(K.c.1274)

Nguyễn Du dựa vào thuyết “định mệnh” và tư tưởng “tài mệnh tương đố” mà cho rằng con người tài giỏi đến mấy cũng không thể thay đổi, cho nên Thúy Kiều tài sắc mà phải lưu lạc đầy đọa là cái số do trời qui định. Chẳng những Kiều, Đạm Tiên… mà phận hồng nhan phải chịu nghiệp chướng ấy. Vì thế Nguyễn Du mới viết:

“Rằng: Hồng nhan tự thuở xưa,

Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu.”

(K.c.108).

Thậm chí Nguyễn Du ca ngợi Từ Hải hết lời:

“Anh hùng tiếng đã gọi rằng,

Giữa đường dẫu thấy bất bình mà tha.”

(K.c.2430)

Nhưng tác giả lại để Từ Hải nghe lời Kiều cho cuộc đời ấy là phiêu lưu:

“Chẳng hơn chiếc bách giữa dòng,

E dè sóng gió hãi hùng cỏ hoa.”

(K.c.2486)

Nguyễn Du đề cao những hành động nhân nghĩa của Từ Hải nhưng lại để cho Thúy Kiều cho đó là:

“Ngẫm từ gây việc binh đao,

Đống xương vô - định đã cao bằng đầu.”

(k.c.2494)

Nguyễn Du hoan nghênh việc Từ Hải chống lại triều đình, nhưng lại để Thúy Kiều khuyên Từ Hải ra hàng để được công danh phú quý:

“Sao bằng lộc trọng quyền cao,

Công danh ai dứt nối nào cho qua.”

(K.c.2498)

Những điều nói trên chứng tỏ Nguyễn Du mâu thuẫn với mình. Những điều mâu thuẫn ấy là phản ánh các mâu thuẫn căn bản của xã hội, của thời đại, nhưng Nguyễn Du lại giải thích bằng thuyết “thiên mệnh”:

“Ngẫm hay muôn sự tại trời,

Trời kia đã bắt làm người có thân.

Bắt phong trần phải phong trần,

Cho thanh cao mới được phần thanh cao.”

(K.c.3244)

Rõ ràng, tư tưởng “định mệnh” ít nhiều ảnh hưởng đến Truyện Kiều đấy là những hạn chế bởi hoàn cảnh lịch sử và thế giới quan của Nguyễn Du. Chúng tôi nói “ít nhiều” là vì Nguyễn Du không sợ triều đình phong kiến mà dám đứng lên ca tụng Từ Hải chống lại triều đình: “Dọc ngang nào biết trên đầu có ai” (K.c.2442). Tương truyền khi Tự Đức đọc Truyện Kiều đến câu này đòi nọc Nguyễn Du đánh ba chục roi, nếu như ông còn sống. Điều đó chứng tỏ Nguyễn Du đã thành công và Từ Hải là một đòn đánh mạnh vào chế độ phong kiến tan rã. Cho nên chúng ta không thể phủ nhận giá trị lớn lao củaTruyện Kiều là bản cáo trạng vạch mặt chế độ phong kiến thối nát, tàn bạo, chà đạp lên quyền sống của con người.

Chú thích:

(1) Đặng Thanh Lê: Nguyễn Du - Truyện Kiều, Nxb. Giáo dục, H. 1972, tr.7./.

(Tạp chí Hán Nôm; Số 4(113) 2012; Tr.3-11)

 

Nguồn: http://www.hannom.org.vn/detail.asp?param=2219&Catid=919