HÌNH TƯỢNG TÁC GIẢ TRONG VŨ TRUNG TUỲ BÚT CỦA PHẠM ĐÌNH HỔ

 

          TS. Ngô Thị Phượng

Trường Đại học Tây Bắc

          1. Thể kí và hình tượng tác giả

Vũ trung tuỳ bút (Viết trong những ngày mưa) được coi là “một thiên hồi ức, nhưng lại nặng về sưu tầm nghiên cứu, chứ không có tính chất trữ tình”(1). Thực chất, hàng loạt các hình tượng được tìm thấy đã chứng minh rằng đây là tác phẩm nghệ thuật đích thực. Tính chất nghệ thuật biểu hiện rất rõ qua hình tượng tác giả.

Hình tượng là phương thức phản ánh thực tế đặc biệt của nhà văn. “Hình tượng là bức tranh vừa cụ thể, vừa khái quát về cuộc sống của con người, được xây dựng bằng hư cấu và có ý nghĩa mĩ học”(2). Trong nghiên cứu văn học, bất cứ hiện tượng nào được nhà văn miêu tả cũng đều là hình tượng. Ý nghĩa của hình tượng tạo nên thái độ thẩm mĩ ở con người với thực tại, nó làm “nhớ lại, đánh thức và làm sống lại những hồi ức về cái đẹp trong thực tế”. Bất cứ tác phẩm thuộc loại thể nào về cơ bản cũng phản ánh cuộc sống theo quan điểm của nhà văn. Tác phẩm “thâu tóm cảm giác và ý nghĩ của nhà văn, đồng thời nó là một sự kiện đời sống nội tâm của nhà văn, chỉ có miêu tả trong tác phẩm những gì mình đã xúc động thì nhà văn mới làm cho độc giả cảm xúc được”(3). Theo nghĩa này thì bất cứ tác phẩm nào cũng thể hiện thế giới quan của nhà văn đối với thế giới. Nói cách khác, nhà văn đã làm công việc miêu tả chính mình. Như vậy, nhà văn cũng là một hình tượng trong tác phẩm.

          So với các thể loại tự do hư cấu như truyện ngắn và tiểu thuyết chương hồi, kí luôn dựng lại những sự thật đời sống, nhà văn phải là nhân vật quan sát, chứng kiến sự thật đời sống ấy. Do đó, có thể nói, hình tượng nhà văn trong kí chân thực, gần gũi, dễ nhìn thấy nhất so với hình tượng nhà văn ở các thể loại khác. Hơn nữa, kí “không được trao quyền” dùng các thủ pháp cơ bản của văn học như: cốt truyện hấp dẫn, khả năng hư cấu tưởng tượng, ngôn từ hoa mĩ… Để lấp đầy sự vắng bóng của những phương diện nghệ thuật nói trên, kí chú trọng tới việc khắc hoạ hình tượng tác giả. Bài viết này, chúng tôi hướng tới hình tượng tác giả Phạm Đình Hổ trong Vũ trung tuỳ bút, chỉ ra sự thiết lập đó trong kí của ông.

2. Cái tôi tự thể hiện

Khác với các thể loại khác, kí luôn đòi hỏi sự có mặt trực tiếp của nhà văn. Trong ngôi trần thuật, nhà văn trước hết là một con người đời thường, cho nên chỉ khi nào vận mệnh và quyền sống của một con người đời thường được chú tâm hơn, thì đặc điểm của nhà văn mới càng được nhận thức rõ hơn. Từ thế kỉ X đến thế kỉ XV, thường là vua quan kiêm luôn tư cách nhà văn. Do đó nhà văn với tư cách là một nghệ sĩ thực thụ chưa được bàn đến nhiều. Tất nhiên trong thời kì này, nhà văn được nhấn mạnh là người có tài năng tuyệt vời, đạo đức cao rộng. Từ thế kỉ XVI trở đi, nhà văn không tất yếu đương chức đương quyền; nhất là bước sang thế kỉ XVIII – XIX, khi xuất hiện một trào lưu tư tưởng và văn học bênh vực quyền sống của con người bình thường trong nhân dân, từ đó, “nhà văn mới được quan tâm luận bàn nhiều hơn và hợp lẽ”(4).

Trong thời đại chuộng cái ta, khoả lấp cái cá nhân, Phạm Đình Hổ đã ý thức nuôi dưỡng vun đắp cá tính riêng, khước từ phạm trù mĩ học vô ngã đến với cái “hữu ngã” ngoại lộ. Đọc Vũ trung tuỳ bút, độc giả có thể tìm thấy chân dung con người ôm ấp nợ công danh thời thanh xuân tới con người suy tưởng giữa thế giới quan đa dạng của ông.

2.1. Con người ôm ấp nợ công danh khi thanh xuân

Sống ở thế kỉ XVIII, Phạm Đình Hổ, giống như đương thời, ít nhiều gạt bỏ cái “phong thái siêu quần bạt chúng” do vua quan phong kiến tự biểu hiện trước đó, tìm đến một chân dung hào phóng ngạc nhiên và khám phá. Ông không cực đoan đặc chất nghệ sĩ của mình mà ông cho rằng cái uyên bác của nhà văn phải ở phương diện: kiến thức sách vở nhưng không kém phần quan trọng là những vốn sống trực tiếp.

Viết Vũ trung tuỳ bút, do tính chất kí chi phối, tác giả là người kể chuyện không giấu vai, có xu hướng tách rời, trong tính độc đáo riêng. Người đọc nhận thấy sự khác biệt kì dị có phần đối lập với những đòi hỏi của tập thể. Tư cách lập thể dửng dưng của nhà văn đặt ra câu hỏi làm thế nào để chiếm đóng được thế giới rộng lớn và nhiều bất trắc của thế kỉ XVIII. Cái tôi trong tập tuỳ bút được bộc lộ ở dạng tự truyện đáp ứng. Nhân vật tôi băn khoăn về sự tự nhận thức của mình, luôn tìm cơ hội tự biện minh, trải bày tư tưởng của mình. Nhân vật tôi có thú vui được trò chuyện về mình, thú vui này mang dấu hiệu tự ngưỡng mộ thái quá và biểu lộ những ý tưởng cao siêu về con người mình. Chân dung nhân vật tôi hiện ra rõ nhất trong thiên Tự thuật, từ gốc gác, sở thích đến lí tưởng hành đạo. Nói về gốc gác cao quý của mình, nhà văn không giấu nổi niềm kiêu hãnh với giọng điệu dửng dưng: “Ta sinh năm Mậu Tý (1768) niên hiệu Cảnh Hưng. Lúc bấy giờ, đấng tiên đại phu ta làm Hiến sát tỉnh Nam mới về”. Xuất thân trong gia tộc quyền quý “bổng lộc đã dư dụ”, song những cách chơi cây, đá, hoa chim, “không để bụng ham mê”, lúc năm sáu tuổi đã để chí ở việc lập thân giữ nghiệp nhà. Ông mượn cuộc đối đáp với bà bảo mẫu để đối thoại với người đọc như sau: “Bà bảo mẫu họ Hoàng hỏi ta: Về sau có chí muốn làm gì không? Ta nói: Làm người con trai phải lập thân hành đạo, đó là phận sự rồi, không phải nói nữa. Sau này trưởng thành mà được lấy văn thơ nổi tiếng ở đời để cho người ta biết là con cháu nhà nọ, nhà kia, chí tôi chỉ muốn thế thôi”. Muốn làm nhà văn phải có đức hạnh ở đời, anh hoa phát tiết ra ngoài, là do ở trong có chứa nhiều hoà thuận. Cho nên, người có đức tất biết cách ăn nói, người có hạnh, tất có học. Nhân vật tôi cũng vậy, muốn lưu danh muôn thủa thì phải biết phụng thờ cha mẹ, lúc nhỏ quen lối cử nghiệp, lớn lên “thấm thoát hơn hai mươi năm trời mà lời dạy bảo của cha mẹ vẫn văng vẳng bên tai”. Phạm Đình Hổ hiện diện như một nhà nho chân chính cứng cỏi. Nhà văn tự truyện về cái thích và cái không thích rạch ròi: “có người đem những sách truyện nôm và những trò thanh sắc, nghề cờ bạc rủ rê chơi đùa, thì ta bịt tai lại không muốn nghe” song lại thích lấy mũ trãi quan (mũ dành cho chức quan Hiến sát) của cha, thường mang ra đội.

Suốt thời tuổi trẻ, nhà văn khát khao ước muốn mình cao siêu với tương lai hứa hẹn. Kể chuyện quan trung quí Tả chí hầu là kẻ nội thị đời chúa Trịnh Thuận Vương với thuật bói toán như thần của Hầu, tác giả lồng ghép những tiên đoán về tài năng của mình: “Hỏi đến sự cùng đạt của ta thì Hầu đáp: Anh ấy ngày sau tất hiển đạt nhưng khác hẳn mọi người”. Tất nhiên, đây là cái tôi thời thanh xuân, chưa chịu nhiều va đập tủi hờn từ thời thế. Cái tôi nhìn cuộc đời với sức lửa căng tràn, có phần tưởng tượng và đầy lãng mạn. Tuy vậy, từ trước tác, có thể thấy thời trẻ, Phạm Đình Hổ luôn tin ở mình, ôm ấp nợ công danh. Sau này, lời tiên đoán có phần linh ứng, dẫu cách thức không phải từ kinh bang tế thế mà sự lưu danh muôn thủa ở văn chương.

2.2. Con người khiêm tốn khi trưởng thành

Phạm Đình Hổ trải bày về mình, ông không là người khoe học vấn theo kiểu “trong bụng này có tám bồ chữ”. Viết kí, Phạm Đình Hổ đưa ra tôn chỉ “học thuật đã bất chính, đến khi ứng dụng cho đời thì chỉ làm hại cho thiên hạ, nên cần phải khiêm tốn và trung thực… Ta từ nhỏ đã phải mồ côi thất học, đến khi lớn lên lại dùi mài về nghề học cử nghiệp, thường bị những kẻ khinh bạc chê bai… Ta đâu dám không lấy câu “hòn đá núi kia có thể mài ngọc” làm kim chỉ nam” (Học thuật). Phạm Đình Hổ ở thời điểm này bắt đầu có những cảm nhận đặc biệt về thế thời, ông không dành nhiều thời gian cho những thú vui tao nhã, những chuyến ngao du sơn thuỷ mà trăn trở lo lắng về chính sự, nhận chân giá trị trong tương quan hiện thực. Ông tìm đến câu trả lời: Ta là ai?. Câu trả lời không phải là cái tôi vĩ đại mà là cái tôi khiêm tốn. Nam nhi đại trượng phu phải kinh bang tế thế song Phạm Đình Hổ biết mình, biết người, ông cho rằng, mình chỉ có quyền trăn trở. Bàn về kế sách quốc gia lâu dài, Phạm Đình Hổ nung nấu trong lòng “ta thường muốn kén chọn những người thiếu niên anh tuấn ở những làng đã quen làm nghề nghiệp … cho cạo trọc hoá trang, theo khách buôn sang Trung Hoa đem tiền bạc đi mà học lấy những nghề khéo”, nghĩ mà không dám tỏ bày bằng kế sách dâng vua vì biết mình là “kẻ hèn mọn” thì không “được nói leo” (Xét về địa mạch và nhân vật). Là con người khiêm tốn, Phạm Đình Hổ ghét cay ghét đắng thói khoe khoang hợm hĩnh: “Ta thường thấy những anh hủ nho, những chú trò ngông, mới học được một nghề mọn đã khoe khoang làm bộ”, “tự đắc”, thế mà sau rút cục suốt đời giở giang, chẳng làm nên công cán gì” (Học thuật). Phản biện xã hội, nhưng đó cũng chính là sự phản biện cá nhân mình, chiêu tuyết cho con người non trẻ thời thanh xuân giàu khát vọng.

2.3 Con người cảm nhận suy tưởng và phê phán

Trong Vũ trung tuỳ bút xuất hiện hàng loạt các từ ngữ: “ta còn nhớ”, “ta vẫn mong”, “ta khi biết”, “ta cứ nghiệm lời nói”, “ta khi nhỏ, hồi lắm gian truân”, “ta mới hay”, “ta nhân thế lại tiếc”, “ta e rằng”, “ta thường thấy”, “đến nay nghĩ lại”, “ta thường ngày đêm suy nghĩ”… Những từ ngữ ấy góp phần xác lập nên con người nhiều trăn trở, luôn suy tưởng, không dửng dưng trước hiện thực đời sống. Nó khiến cho tác phẩm giống như một lời độc thoại, đồng thời làm tăng chất trữ tình cho tuỳ bút. Chất suy tưởng cho biết tâm lí con người Phạm Đình Hổ. Nó giống như chất keo gắn kết giữa tình tiết sự kiện với thông tin tâm trạng của ông nhưng thông tin tâm trạng là mục đích chính của tuỳ bút.

Trong tuỳ bút, Phạm Đình Hổ bộc lộ suy tưởng của mình thông qua những sự kiện quan trọng, nhằm khắc phục cốt truyện lỏng lẻo, đồng thời định hướng cho độc giả cách nhìn, cảm nhận về sự kiện đó, giúp độc giả làm thế nào để nhìn thấy, cảm thấy hay, thấy sự kiện đó là lí thú. Qua suy tưởng tác giả bộc lộ ý thức phê phán thực tại: “ta thường thấy các con nhà thế gia phải dịu lời tươi mặt nịnh nọt kẻ ca công, cầu học lấy giọng hát, bắt chước bộ đi đứng của họ để khoe với chúng bạn. Nếu không có người chỉnh đốn lại, không biết sau này lưu tệ đến thế nào” (Bàn về âm nhạc). Sự việc kết nối với suy tưởng nhằm bày tỏ nỗi lo lắng của con người trách nhiệm, không vô thường trước thời cuộc đang “đời suy thói tệ” đồng thời gợi sự liên tưởng tới tương lai. Khi nghe chuyện Doãn Bạt thác oan, chỉ vì bị nghi ngờ không giữ phép tắc trên dưới đạo nhà, tác giả lấy làm “quái lạ” rồi trộm nghĩ: “Ôi! Người đời, những kẻ mũ cao áo dài, đứng ngồi chững chạc, mồm vẫn đọc sách thánh hiền… tự nhận là bậc đạo học, danh giáo, gặp phải sự biến thì thường tiến thoái hồ đồ, mất cả sở cứ. Doãn Bạt là chàng thiếu niên sơ học, thế mà không chịu cái tiếng loạn luân nhơ bẩn danh dự, đành liều mình dưới dòng nước trong, người đời như thế thì còn ai lượng được” (Thác oan). Từ sự trải lòng, so sánh của tác giả, người đọc cảm nhận được quan niệm về nho sĩ chân chính của ông, đồng thời thấy được hiện thực xã hội đương thời.

Đọc Vũ trung tuỳ bút, người đọc bắt gặp lối liên tưởng không ngang hàng, đa diện. Trong bài Y học Trung Hoa, lấy chuyện làm thuốc của người Trung Hoa làm sự việc trung tâm, tác giả nói chuyện dùng đức nhân trị người: “Ta thường ngày đêm suy nghĩ lời cổ nhân dạy…, bệnh nào quả là hư thì dùng thuốc bổ, cũng như làm tướng nên dùng nhân đức, hà tất phải dùng hình phạt khắt khe”, rồi cả cách làm người: “học cho tinh, làm cho phải đường”. Đang nói chuyện y học của nước người, tác giả liên tưởng tới chuyện y học nước nhà: “Thầy thuốc nước ta, đời xưa (cũng) có ông Đổng Tiên, ông Trâu Ý là bậc danh tiếng”, “nước ta về đời Lê có hai ông danh y: một là ông Lê Lãn Ông…, học lực thâm thuý, nghị luận xác đáng”. Kết nối chuyện xưa và nay như vậy, tác giả kín đáo thể hiện niềm tự hào dân tộc. Nhờ lối liên tưởng phong phú trong việc xây dựng những hình ảnh so sánh độc đáo, kết hợp tư duy nghiên cứu và tư duy nghệ thuật, tác giả đã cung cấp cho người đọc những tri thức, hiểu biết thú vị về nghề thuốc, về việc làm người, trị nước và về văn hoá Việt Nam.

          2.4. Con người trách nhiệm qua thế giới quan phong phú

          Thế giới quan của nhà văn biểu hiện ở “sự lựa chọn những gì mình miêu tả trong tác phẩm” (5). Mặc dù đời tư nhiều thiệt thòi, đường hoan lộ chỉ đậu đến tú tài, làm nghề dạy học, “sống cuộc đời của kẻ hàn nho”, không giữ trọng trách ở triều đình song qua Vũ trung tuỳ bút, người đọc vẫn thấy ở Phạm Đình Hổ có một thế giới quan phong phú. Trong cuộc sống đa dạng của xã hội, Phạm Đình Hổ chọn lựa một số hiện tượng cơ bản. Việc quyết định lựa chọn hiện tượng nào đó là do nhà văn cho rằng hiện tượng đó thú vị và quan trọng. Vũ trung tuỳ bút mặc dù tản mạn về chủ đề, “viết theo ngọn bút, gặp đâu viết đó, không có hệ thống, rất linh động và cũng rất linh tinh”. Cách thức tác giả thể hiện thế giới quan ấy là “chú ý nhiều đến chuyện vặt vãnh(6) trong đời sống của người dân thường hơn là chú ý đến những chuyện to lớn trong phủ chúa hay trong triều đình” nhằm “nói những suy tư của mình”(7)và nhiều lúc nói về những biến thiên trong đời mình, người thân thuộc hoặc bạn bè của mình. Người khác thường tránh nói điều này, nhưng“ông viết ra một cách tự nhiên, không khoe khoang mà cũng không khiêm tốn một cách giả tạo”. Chuyện lớn đến chuyện nhỏ chốn kinh trấn đều thu vào trang văn của ông. Đầu tiên là chuyện hoạch định xây dựng phủ trấn cho con cháu muôn đời. Xem việc đặt kinh trấn Hải Dương, ông trăn trở việc kinh bang tế thế: “Ôi! Định đô, đặt trấn mà chỉ lấy cho gần nơi thanh viện, tiện việc chạy trạm, không để ý đến việc công thủ sau này, thì sao có thể khống chế sơn hải, hộ vệ cho chốn bang kỳ được”.

Ở dạng hình thức biểu hiện khác, nhà văn thường có tư cách nhân chứng, tức là một loại tư liệu nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu một cách khách quan các vấn đề về nhân cách thông qua những sự việc mà để lại tính cách cá nhân. Những gì mắt thấy tai nghe được ông ghi chép lại tường tận. Phạm Đình Hổ là sản phẩm của cuộc biến thiên xã hội. Mặc dù xuất thân nho gia, có hưởng lộc triều đình nhưng sớm rơi vào cảnh cùng quẫn, lưu lạc, nay đây mai đó nên hết sức bất mãn với hiện tại. Về giai cấp thống trị, ông đặc biệt khinh ghét những người trong phủ Chúa Trịnh, với cách ăn chơi xa hoa lộ liễu “mỗi tháng ba bốn lần, Vương ra cung Thuỵ  Liên trên bờ Tây Hồ, binh lính dàn hàng vòng quanh bốn mặt hồ, các nội thần thì đều bịt khăn, mặc áo đàn bà, bày bách hoá chung quanh bờ hồ để bán. Thuyền ngự đi đến đâu thì các quan hỗ tụng đại thần tuỳ ý ghé vào bờ mua bán các thứ như ở cửa hàng trong chợ” (Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh). Còn thường ngày, “bao nhiêu những loài trân cầm dị thú, cổ mộc quái thạch, chậu hoa cây cảnh ở chốn nhân gian, Chúa đều sức thu lấy, không thiếu thứ gì”,  thậm chí bắt khiêng cả một cây đa cổ thụ, rễ dài đến vài trượng, chở qua sông đem về. Xã hội dột từ nóc dột xuống, nhân cơ hội ấy “bọn hoạn quan cung giám lại thường tiện gió bẻ măng, ra ngoài doạ dẫm” cướp bóc. Bản thân tác giả xuất thân dõng dõi cũng lo sợ không tránh khỏi vạ lây, ông trở thành nhân chứng “nhà ta ở phường Hà Khẩu, huyện Thọ Xương, trước nhà tiền đường có trồng một cây lê, cao vài mươi trượng, lúc nở hoa, trắng xoá thơm lừng… bà cung nhân sai ta chặt đi cũng vì cớ ấy”. Trong bài Tả chí hầu, ông kể chuyện một tên nội thị của Chúa Trịnh thường đi lại các nhà quan thần, đánh chén vào là chửi mắng vung cả lên, nhưng chỉ bỏ ra một ít tiền thì hắn lại cười sằng sặc mà nói đùa bỡn”. Khi loạn lạc xảy ra, chỉ có dân chúng là những người thiệt thòi nhất, đến nỗi thân xác họ trở thành một món ăn trong quán khách. Chuyện Võ Thái Phi, ông nho sinh Phạm Diên Bá kể “đương lúc loạn lạc, ông đi đường về tỉnh Đông, có vào nghỉ nhà hàng cơm bên đường, thấy mùi thịt rất tanh, trên mặt nước bát canh nổi lên như hình bán nguyệt. Hỏi hàng cơm thì họ nói đó là thịt lợn lòi, khi ăn đến nửa chừng, thấy có con rận chết ở trên mặt bát, mới biết là thịt người, vội vàng chạy ra móc cổ”. Xã hội kinh thành được ông ví như Lục hải (Biển cả bao la không thiếu thứ gì) nhưng luật pháp coi khinh, bạc tiền làm trọng, bát nháo, kẻ nào mạnh thì lộng hành: “Nhiều những kẻ đầy tớ nhà quan, du đãng cờ bạc, gây chuyện đánh nhau, cãi nhau, cũng là những kẻ vô lại trộm cắp, nhiều lắm không thể kể xiết được…”. Hoàng thân quốc thích của Chúa té nước theo mưa làm điều càn quấy. Trong bài Võ Thái Phi, kể chuyện ở làng Mi Thữ “con cháu họ hàng (bà Võ được phong làm Thái Phi) ỷ thế làm càn, bắt dân đi phu lấy đá về làm nhà từ đường. Tất cả bốn phủ thuộc tỉnh Hải Dương phải cung cấp… phu phen tạp dịch rất nặng, dân không kham nổi. Xã hội phong kiến trong văn ông hiện lên đầy căm ghét, chua chát.

Đối lập với đời sống tàn bạo, vô lương tâm của phủ chúa là cuộc sống cơ cực của nhân dân lao động. Bị dồn tới đường cùng, nhân dân nổi lên đấu tranh, họ “thừa thế làm loạn, ghép tre làm nón dấu, vót nứa làm giáo, kéo quan đến đốt phá nhà từ đường ngoại phủ ở làng Mi Thữ, ấy chính là hồi loạn khoảng năm Canh thân – Tân dậu (1740 -1741)”. Sự việc này xảy ra gần ba mươi năm, trước khi tác giả chào đời (1768), ôn lại chuyện tang thương dâu bể của quê hương, ông không khỏi đau lòng, tấm lòng cảm khái kín đáo của ông được gửi gắm qua một quy tắc tâm linh, nhân quả báo ứng: “Nay toà nhà đá từ đường ấy đã tách nẻ ra, sụt cả xuống đất, gần chấm đến mái, khi nào mưa to thì nước chảy rót vào trong, gần đây vẫn còn trông thấy mái nhà”. Lời văn là một minh chứng, Phạm Đình Hổ là dòng dõi phong kiến, nhưng ông đã đứng về phía nhân dân mà nhìn cảnh thịnh suy của giai cấp thống trị.

          Hình tượng tác giả còn được phản ánh qua quan niệm về học thuật, nhất là nho giáo. Nếu thế kỉ XVI - XVII, điểm đặc trưng dễ nhận thấy nhất của văn chương nhà nho có “sự gia tăng mạnh mẽ khuynh hướng văn chương của người ẩn dật”, nhà nghiên cứu khẳng định “sự đổi thay hợp quy luật” (8) thì đến thế kỉ XVIII, xuất hiện xu hướng hội nhập tam giáo (Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo) (9). Bản thân Phạm Đình Hổ thừa nhận Nho giáo với tư cách tôn giáo đặc biệt. Tầng lớp nho sĩ vẫn là lực lượng “hộ trì” tư tưởng nho gia đồng thời họ có những hoạt động thực tiễn có phần xa rời tinh thần nho giáo chính thống và tự giác dụng nạp Đạo giáo và Phật giáo. Thừa nhận tư cách đặc biệt của Nho giáo nhưng Phạm Đình Hổ không giấu nổi những băn khoăn khi chứng kiến nho sĩ lập thân, hành đạo. Xưa, con đường nhập cuộc của nhà nho thành mô hình: học - thi cử - đỗ đạt - làm quan - cáo quan - ẩn dật, hoặc học - thi cử - không đỗ đạt, các loại thầy - ẩn dật (10). Đời nay, những kẻ học hành không “quan thiết gì đến đạo tu, tề, trị, bình”, “chỉ học lỏm mấy câu mép”, tư lợi cá nhân, thăng quan tiến chức, “chứ có ích chúa lợi dân gì cho người đời cậy đâu!”, nhiều khi học mà không hành chỉ “làm hại cho thiên hạ” (Học thuật). Một số người giỏi văn chương thực sự như Ngô Thì Sĩ, Phạm Vĩ Khiêm thì bài thi luôn bị tìm cách đánh hỏng. Ngô Thì Sĩ vì nổi tiếng hay chữ mà bị quan trên đương thời ghen ghét, khi thi hội, các quan giám khảo cứ dò xem quyển nào giọng văn hơi giống văn ông thì bảo nhau: “Quyển này hẳn là khẩu khí Ngô Thì Sĩ”, thế là bới móc đánh hỏng. Quan giám khảo trường thi tìm đủ cách gian lận, họ chưa hẳn là hiền tài để cầm cân nảy mực. Phạm Đình Hổ giấu tiếng cười hóm hỉnh sau những câu chuyện này. Đặt ra phép thi, tư vấn và quyết định phép thi, đề thi văn sách đôi khi là võ thần. Quan võ Bằng Quận công Nguyễn Hữu Chỉnh chức Đại Tư Mã thời Chiêu Thống trong chuyện Phép thi nhầm lẫn tai hại giữa tên gọi khoa thi là “hiền lương”, “phương chính” với danh từ chỉ phẩm cách người đỗ đạt. Lấy đỗ nhờ gian lận và quen biết nên kẻ ăn lộc dân, bia đá bảng vàng phần lớn bất tài vô dụng. Trong Cuộc bình văn trong nhà Giám, Phạm Đình Hổ bóc trần bộ mặt thật của tầng lớp quan lại. Chúng thực sự là phường ngu dốt. Là chứng nhân, ông thuật tả tỉ mỉ cuộc bình văn này với chất giọng vừa nghiêm trang vừa hài hước “quan tri giám Nguyễn Hoãn thì thuỷ chung nín lặng, không nói câu nào, thỉnh thoảng chỉ sẽ cười hi hi mà thôi. Ta trong bụng lấy làm ngờ, hỏi các bạn thì ai cũng cười, bảo không rõ”. Hành động của Nguyễn Hoãn sau này được lí giải bằng lời truyền văn về gốc gác ông ta, vì là con nhà tướng nên được đỗ hương nguyên và hội nguyên, “văn hai kì ấy đều không phải tự Nguyễn công làm ra’. Dưới mắt Phạm Đình Hổ, nhà nho thời bấy giờ phần nhiều không có nghĩa khí, không có lòng yêu nước, thương dân, tất cả đều bất tài, bất lực: “Những nho sĩ xu thời chỉ biện bác lém lỉnh mấy câu khẩu đầu” để được lấy đỗ ra làm quan. Thi hội, thi đình cũng toàn thi lấy văn chương cả”, chứ không phải chọn kẻ hiền tài, mưu lược” (Phép thi). Thế mà ra đường võng giá nghênh ngang “những anh hủ nho, những chú trò ngông, mới học được một nghề mọn gì khoe khoang, làm bộ’.

Từ thế giới quan phong phú trên, có thể thấy rằng, Phạm Đình Hổ có ý thức tham gia trực tiếp vào những cuộc đấu tranh xã hội. Ông đã làm hết chức năng, phận sự của mình: nhà tuỳ bút và nhà nho chính thống, một cái tôi khả tín giàu tinh thần trách nhiệm.

          Trong sáng tác Vũ trung tuỳ bút, Phạm Đình Hổ kín đáo chỉ ra sự chủ động hội nhập Tam giáo của xã hội đương thời, nhưng bằng thế giới quan của nhà nho chính thống. Từ Việc tế tự, ông chỉ ra sự hội nhập Tam giáo trong đời sống hiện nay. Nếu sách Kinh thư của Nho giáo có chỉ rõ đối tượng tế lễ là thần thượng đế thì “Đạo giáo với Thích giáo thì không thế. Đạo giáo ngoài vị Ngọc hoàng thượng đế, lại còn vị tử vi đại đế, Phù tang đại đế, Trường sinh đại đế, Chân võ đại đế, Đông hoa đế quan, những vị đế trên này đều ứng dưới vị Tam thanh thiên tôn. Thích giáo thì có vị Đế Thiên, Đế Thích, Phạm vương thiên tử. Nhật nguyệt thiên tử kể số mục thì nhiều lắm, đều đứng về bậc thứ hai dưới vị tam thế”. Vậy, điểm chung của các đạo, gọi thế lực “che trùm tất cả” các đạo là “thiên”, chúa tể  khắp cả thì gọi là “đế”. Song, ông khuyên con người không nên “bắt bóng”, mà nên tuân theo Khổng Tử. Ông “sắp xếp” chỗ ngồi của Nho giáo ở ngôi chính giáo nhưng không quên chỗ ngồi của Phật giáo và Đạo giáo. Nhiều bài, ông vận tới thuyết nhân quả báo ứng của đạo Phật như Võ Thái Phi… Lại có nhiều chuyện nói về đạo sĩ, các thầy phong thuỷ. Chuyện Gò đất làng Đình Tổ, ông tin vào lời truyền của các thầy phong thuỷ: “Phía đông thôn chợ làng đình Tổ có một gò thổ tinh, tả hữu lại có hai gò kim tinh, các thầy phong thuỷ cho là có hai ông thần đồng ngồi đọc sách”, dân làng thường nghe thấy tiếng đọc sách trong đêm, sau không nghe thấy nữa. Tác giả đoán: “Ý chừng hai ông thần đồng ấy đã xuất thế chăng…, điều đó không thể lấy lý mà lường được”. Chuyện Đỗ Uông kể nguồn gốc hoạn lộ của nhân vật “vào thi đình,  đỗ bảng nhãn, làm quan nhà Mạc đến chức Thị lang” là do thầy địa lí Hoa Kiều đền ơn chỉ đất cho ngôi đất “đời đời làm chức công khanh”.  Như vậy, ông ít nhiều công nhận vai trò của các tôn giáo khác bên cạnh Nho giáo.

          Trong các chủ đề phản ánh, Phạm Đình Hổ còn cho thấy sự suy tàn của Nho giáo kéo theo sự đi xuống của thuần phong mĩ tục. Trong bài Phong tục, Phạm Đình Hổ so sánh thời ông với thời trước đó, khái quát lại, nói: “thời Long Đức, Vĩnh hựu (1730 – 1740) trở về trước, thì phong tục còn hồn hậu hơn nhiều”, còn từ Cảnh Hưng về sau thì: “Tất cả lễ độ về giao tiếp, thù tạc, ăn uống, cư xử, đều bị bóp méo, mỗi ngày một khác, đua nhau chuộng lạ, nếu có người đứng vững không chịu thay đổi, thì lại xô nhau chê cười, thậm chí họ muốn hãm hại và xô đổ đi; tập tục ngày càng kiêu bạc”. Về điểm này, cuốn Vũ trung tuỳ bút đã  bổ sung cho cuốn Hoàng Lê nhất thống chí, và cho ta thấy Nho giáo “xuống dốc” từ lâu lắm rồi, mọi chuyện đều đảo lộn.

2.5. Nghệ thuật thể hiện

Nhà viết kí không đơn thuần là thư kí của thời đại và để bớt đi tính thô cứng của kí do phải bám sát đời sống và tăng chất văn chương nghệ thuật, nhà văn tìm đến chất liệu truyền kì. Chính tính truyền kì làm tăng sự hư cấu cho tác phẩm. Điểm này làm cho nhiều truyện kí của Phạm Đình Hổ giống như một câu chuyện thuộc thể loại truyền kì. Việc thi cử trong tư duy chính thống là chuyện nghiêm túc, luật chế và khắt khe. Sau một hồi kể lại đường sĩ hoạn của nhiều hiền tài, ông dẫn lời của một nho sinh: “khoa giáp vốn có mệnh số, không thể lấy sức người mà tránh được”. Chỉ bằng một lời dẫn mà sự nghiêm túc đã lùi về phía sau, nhường chỗ cho bao chuyện li kì mở ra. Ông Võ Miêu, người Liên Trì, khi nhỏ học tối tăm, suốt ngày nhai nhải chỉ được một trang giấy, mà vẫn cố sức học mãi không thôi”. Lúc thi xong lại nộp nhầm quyển không có dấu, đêm về buồn chép lại tới sang quyển có dấu. Sau ngủ thiếp đi, tỉnh dậy, không thấy quyển đã chép đâu nhưng bẩy ngày sau có tên bảng yết rằng đã đỗ hội nguyên. Không tin câu chuyện li kì ấy, tác giả mượn lời người đời: nhà ông có phúc đỗ cao do “ba đời không nuôi mèo” nên được báo ơn. (!) (Khoa cử). Cũng trong chuyện Khoa cử, tác giả kể chuyện Nguyễn Quýnh đỗ đại khoa, nộp nhầm quyển, đi đi lại lại trước trường thi, gặp một người lính vào nộp bài hộ, ông xin địa chỉ sau này đền ơn. Lúc yết bảng, Nguyễn Quýnh tìm đến địa chỉ ấy thì người lính đó đã chết hơn một trăm ngày. Chuyện “quan tiến sĩ tân khoa” Ngô Tiêm cũng là dẫn chứng tương tự.

Kí gồm nhiều thể, chủ yếu là văn xuôi tự sự như bút kí, hồi kí, du kí, phóng sự, kí sự, nhật kí, tuỳ bút… Ngôn ngữ tuỳ bút giàu hình ảnh và chất thơ. Chọn tuỳ bút, tác giả có thêm nhiều cơ hội thể hiện chất thơ, ngôn ngữ bay bổng, văn từ hoa mĩ. Tả cách viết chữ của người bạn là Hoàng Hy Đỗ, Phạm Đình Hổ “lột tả được tâm lí sáng tạo của người viết”: “Hễ cầm bút lên thì rụt rè như không thể viết được, nhưng lúc đã đặt bút xuống giấy thì nét chữ tươi tắn, có cái ý nhị của hoa đào đọng giọt mưa, lá dương phủ làn khói” (Lối viết chữ). Tả tâm tình của mình khi uống chè, ông viết: “Trông những cảnh mây nổi hợp tan, chim đồng bay lượn, cùng là cỏ cây tươi tốt hay tàn, hành khách lại qua, ta thường thường gửi tâm tình vào câu ngâm vịnh… đôi bên bờ sông bóng cây so le thấp thoáng, mảnh trăng in trên mặt nước trong veo”. Những dòng văn trong trẻo nên thơ của Phạm Đình Hổ được người đọc bắt trong tuỳ bút của Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường.

Bên cạnh lời văn giàu chất thơ, có phần trữ tình, xa rời lối văn viết kí, người đọc còn thấy thấp thoáng những câu văn chứa đựng chất triết lí. Ông xót xa cho nhân phận nhân sinh: “Nào những người xe ngựa nghênh ngang, áo mũ xúng xính, ngang nhiên tự đắc ở trên đời mà chớp mắt đã biến đi đâu mất cả, kể xiết bao nhiêu” (Tên làng Châu Khê). Quan niệm này của Phạm Đình Hổ gặp gỡ với người đương thời Nguyễn Gia Thiều trong Cung oán ngâm khúc.

Trăm năm còn có gì đâu

Chẳng qua một nấm cổ khâu xanh rì.

          3. Kết luận

          Trong thể kí, nhà văn phải là người quan sát, chứng kiến sự thật đời sống. vì vậy, hình tượng nhà văn trong kí gần gũi và dễ nhìn thấy nhất so với các thể loại khác. Vũ trung tuỳ bút là tập kí minh chứng cho điều này. Mặc dù bị đánh giá là “không có tính chất trữ tình” song người đọc vẫn thấu triệt hình tượng tác giả Phạm Đình Hổ trong nhiều khúc đoạn của cuộc đời: thủa thanh xuân, lúc trưởng thành với những suy tư chiêm nghiệm chua chát, những nếm trải mất mát, nỗi đau nhân tình thế thái. Từ hình tượng đó, người đọc có cơ hội thấu hiểu xã hội, góp phần bổ khuyết cho những trang văn đương thời.

 

 

 

----------------

(1), (6), (7)Phạm Đình Hổ: Vũ trung tuỳ bút. Nxb Văn học, H.,1972, tr.8 – 184.

(2), (3), (5) L.I. Timôfêep: Nguyên lí lí luận văn học. Tập 2. Nxb Văn hoá – Viện Văn học, H. 1962, tr.101 - 129.

(4) Tuyển tập Phương Lựu. Tập 1. Nxb Giáo dục, H., 2005, tr.299.

(8) Trần Ngọc Vương: Văn học Việt Nam, dòng riêng giữa nguồn chung. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 1999, tr.142.

 (9) Viện Nghiên cứu Hán Nôm – Viện Harvard – Yenching Hoa Kỳ: Nho giáo ở Việt Nam. Nxb Khoa học Xã hội, H., 2006, tr.118.

(10) Trần Ngọc Vương: Loại hình học tác giả - nhà nho tài tử và văn học Việt Nam. Nxb Giáo dục, H., 1995, tr.37 – 39.