HƯNG HÓA QUA KHẢO CỨU CỦA NGUYỄN TRÃI VÀ LÊ QUÝ ĐÔN

Ngô Thị Phượng

                                                                                                                 Khoa Ngữ văn

 

          Hưng Hóa là một tỉnh  của Việt Nam vào nửa cuối thế kỷ 19. Tỉnh Hưng Hóa được thành lập năm 1831. Đây là một trong số 13 tỉnh được thành lập sớm nhất ở Bắc Kỳ. Tỉnh Hưng Hóa thời nhà Nguyễn gồm các châu, huyện: Tam Nông, Thanh Sơn (nay là huyện Thanh Sơn tỉnh Phú Thọ), Thanh Thủy (nay là huyện Thanh Thủy, Phú Thọ), Mai (châu) (nay thuộc Hòa Bình), Đà Bắc, Phù Yên, Mộc (châu), Yên (châu), Mai Sơn, Sơn La, Thuận (châu), Quỳnh Nhai, Luân (châu), Tuần Giáo, Lai (châu), Ninh Biên (nay là Điện Biên Phủ, huyện Điện Biên tỉnh Điện Biên), Yên Lập, Văn Chấn, Trấn Yên, Văn Bàn, Chiêu Tấn, Thủy Vĩ.

            Trên thực tế, qua tư liệu để lại, tên gọi Hưng Hóa được dùng sớm hơn nhiều. Tiền thân của tỉnh Hưng Hóa là xứ thừa tuyên Hưng Hóa, rồi trấn Hưng Hóa. Trước hết, hai từ Hưng Hóa đã được nhắc tới từ những năm 1419 như là một xứ. Thừa tuyên Hưng Hóa bao gồm các tỉnh Lai ChâuĐiện BiênSơn LaHòa BìnhYên BáiLào Cai ngày nay. Tháng 6 âm lịch, năm Quang Thuận thứ bảy (1466), vua Lê Thánh Tông đặt 13 đạo thừa tuyên gồm: Thanh HóaNghệ AnThuận HóaThiên TrườngNam Sách, Quốc OaiBắc GiangAn BangTuyên QuangThái NguyênLạng Sơn, phủ Trung Đô và Hưng Hóa. Đây là lần đầu tiên từ "Hưng Hóa" được nhắc tới trong sử sách Việt Nam ở cấp một đơn vị hành chính (gần như cấp tỉnh ngày nay).

          Trước thời Lê Thánh Tông, Nguyễn Trãi (Ức Trai, một danh thần của nhà Hậu Lê, sống ở thế kỉ XV), khi viết Dư địa chí - cuốn "địa lý học lịch sử đầu tiên của Việt Nam”, biên soạn vào năm 1435, có nhắc tới địa danh này.

          Dư địa chí (còn có tên gọi khác là Đại Việt địa dư chí, An Nam vũ cống) là một cuốn sách viết bằng chữ Hán, ghi chép sơ lược về địa lý hành chính và tự nhiên của Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử. Sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi chép về xứ giáp danh Hưng Hóa nhấn mạnh: “Thao, Lịch ở về Hưng Hóa… Gồm 3 lộ phủ, 4 huyện, 17 châu, 31 làng xã, 155 động, 137 sách, 8 trang. Là phên giậu thứ hai ở phía Tây”. Các châu chia thành các động. Nguyễn Trãi thống kê số động trong mỗi châu, xin trích dẫn một vài dòng liên quan đến Sơn La ngày nay, thuộc Chương 2728, trong tổng số 54 chương: “Châu Phù Hoa có 3 động; châu Mộc có 20 động, 3 sách; Thuận Châu có 10 động; châu Luân có 10 động; châu Quỳnh Nhai có 5 động…”. Như vậy, nhiều tên đất địa phận Sơn La duy trì đến ngày nay.

          Ghi chép rõ danh giới, Nguyễn Trãi chú ý tới thổ nhưỡng, phong vật địa phương. Tác gia cẩn án: “Vùng này, đất thì vào loại đất sét đỏ cùng đất bờ nước; ruộng thì vào loại thượng hạ. Cây gỗ thì to lớn. Sản nhung quế, sa nhân, vải hoa, ba loài kim, bạc mười thành, đồng, dầu, thiếc, hương liệu, mật ong cùng nhiều thứ. Chim anh vũ biết nói là vật không mấy khi có, hoặc khi nào người trong châu bắt được thì mới đem cống”. Hưng Hóa là một trong “năm lộ miền thượng du, hiểm trở đáng cậy, rắn rết, ma quỷ thường làm tai quái cho người, thủy thổ độc dữ hay làm khó cho người”. Nguyễn Trãi không chép chính xác ai thay mặt vua cai quản xứ này, chỉ ghi ngắn gọn: “nam tử phụ đạo (mặc dù hiểm trở khó khăn) vẫn không bỏ lễ phiên thần”. Mãi tới năm 1467, sách Đại Việt sử ký toàn thư mới đề cập tới việc tuyển lựa quan cai trị. Nguyễn Đức Du được vua chỉ định làm Ngự sử đài thiêm đô ngự sử và Nguyễn Thúc Thông được lệnh làm Hưng Hóa thừa tuyên sứ tham nghị.  

 

 

 

 

          Hưng Hóa được còn được giới văn chương biết tới qua Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn. Ông có tên thuở nhỏ là Lê Danh Phương, tự Doãn Hậu, hiệu Quế Đường; làm quan thời Lê trung hưng, là nhà thơ, nhà "bác học lớn của Việt Nam trong thời phong kiến”. Ông để lại cho đời sau nhiều trước tác kinh điển, trong đó có Kiến văn tiểu lục (Chép vặt những điều thấy nghe). Sách này gồm 12 quyển, có tựa của tác giả đề năm 1777, viết theo thể ký, nói về lịch sử và văn hóa Việt Nam từ đời Trần đến đời Lê, đề cập tới nhiều lĩnh vực thuộc chế độ các vương triều Lý, Trần, từ thành quách núi sông, đường xá, thuế má, phong tục tập quán, sản vật, mỏ đồng, mỏ bạc và cách khai thác cho tới các lĩnh vực thơ văn, sách vở... Nghiên cứu về Hưng Hóa, ông mượn lời phú của Nguyễn Bá Thống, thời nhà Hồ để khái quát như sau: “Thác nước trắng xóa như sương tuyết, đê Rồng cao ngất giữa không trung, non Tản chọc trời trấn ngữ cõi Bắc, sông Đà chảy xiết, đổ xuống biển Đông”. Ngoài chú thích giống với Nguyễn Trãi, Lê Quý Đôn bổ sung thêm, Hưng Hóa phân lộ bởi sông Đà về bên trái sông Mã, phát nguyên từ châu Ninh Viễn tỉnh Vân Nam Trung Quốc, “chảy ra bên phải thành Tam Vạn ở Mường Thanh, chảy qua các đồng U Thượng, U Hạ làm thành sông U”. Lê Quý Đôn đặc biệt chú ý khắc họa những lưu vực hiểm yếu sông Đà: “Đường sông thác ghềnh hiểm trở, gồm 83 thác có tiếng, mà Vạn Bờ là thác nguy hiểm thứ nhất… Thác Bờ thuộc châu Mộc, một ngọn núi sừng sững giữa sông Đà, đá lớn lởm chởm, hàng năm, cứ ngày 8 tháng 4, từng đàn cá ngược dòng nước bơi lên, chỉ có một vài con cá chép là vượt được”. Ông tin lời Tăng Cổn (thế kỉ IX) viết trong Giao Châu ký “Có Long Môn, nước sâu trăm tầm, cá lớn vượt lên được chỗ này sẽ hóa thành rồng”, lại giới thiệu lời của Bành Đại Dực nhà Minh trong Sơn Đường tứ khảo “nước chảy xiết, tiếng kêu ầm ầm, nghe như tiếng sấm mạnh, vang đến hơn trăm dặm, thuyền qua đến đây phải kéo lên bờ mới có thể đi qua được; bên cạnh có huyệt, nhiều cá anh vũ, tức là chỗ này”.

          Núi cao vực sâu, sông lớn kiến tạo nên trấn Hưng Hóa lam chướng (khí có độc bốc lên dễ sinh bệnh tật). Bên cạnh đó, hai tác giả đều giúp người đời nhận thức mối lợi từ rừng và cả những nguy cơ tiềm ẩn. Nguyễn Trãi chấp bút: “Thượng lưu sông Đà có hai thác đá ở trên và ở dưới, thuyền bè đông tây đi đến bị giội nước xuống như đổ bình nước, thương nhân phần nhiều khổ vì nỗi thuyền bè vướng vấp. Lại ở Việt Châu có thứ quýt vàng, đến tháng 9 thì vỏ đỏ tươi. Mộc Châu có cây dã lô, đến tháng 3 thì cây bắt đầu nẩy đọt mọc lá, khe suối thấm lá cây ấy rồi chảy ra sông Đà, thổ nhân uống nước ấy thành bệnh báng”. Lê Quý Đôn viết “Các núi Tuyên Quang, Hưng Hóa chỗ nào cũng có cây mần đế, lá như lá cây cổ độ, có cây khoát đến 2 – 3 tấc, rất độc, cây và lá trôi vào trong khe, trong ngòi, tôm cá đều chết. Hoa và lá cây ngải dại trôi xuống nước, cũng có thể làm cho người mắc phải chất độc”. Ông chú thích thêm: “Hai xứ Tuyên Quang và Hưng Hóa có cây xui, cao đến hơn trăm thước, lớn đến vài mươi quầng, lá như lá sung, mà có ba khía, người địa phương bóc lấy vỏ, giã nện cho mỏng và mềm, rồi căng thẳng ra như chăn bông, dùng làm đồ mặc rất ấm. Nhựa cây này khi mặt trời lặn mới có chất độc, cây nào sắc hơi tía lại càng độc lắm; người địa phương cắt lấy nhựa ấy chứa vào trong cái lọ, dùng tẩm mũi tên, để bắn các loại thú”.

          Viết văn, Lê Quý Đôn chú ý đến phong tục vùng Hưng Hóa “Một dải sông Đà, phong tục giống người Man, người Lạo… Con gái còn ở nhà thì bỏ xõa tóc hoặc búi tóc nhọn, đã lấy chồng thì búi tóc ngược lên đỉnh đầu; nhân dân không nhớ ngày sinh tháng đẻ, người chết thì dùng phép hỏa táng; văn tự giống như người Lào”. Những chi tiết này khiến cho cuốn sách vượt ra ngoài phạm vi văn chương thuần túy, giống như tài liệu về văn hóa học.

          Nguyễn Trãi cũng như Lê Quý Đôn đều có điểm chung là chú trọng vốn truyền thuyết của vùng đất này. Nguyễn Trãi trước khi nói về trung tâm Hưng Hóa có đoạn: “Thần Tản Viên (án ngữ của ngõ châu Hưng Hóa) gọi là Trụ quốc đại vương, linh hiển có tiếng. Nhân tôn triều Lý sai thợ làm đến thờ ở ngọn núi thứ nhất, có lầu 20 tầng. Tĩnh Vương dẹp miền Tây, muốn lên trên ấy, hốt nhiên mưa gió nổi dữ, tướng sĩ lạc đường, không trèo lên được”.  Lê Quý Đôn nghiên cứu sách Tương Phù và Hạ Lộ và cho rằng: “Trấn Hưng Hóa… có dân ma, gọi là “ma cà rồng”. Người dân này, lúc ban ngay động tác phục dịch, ra vào như thường. Giọt gianh nhà để cái thùng gỗ đựng nước tô mộc. Đến đêm thi xỏ hai ngón chân vào cái lỗ mũi, bay đi làm ma, thường vào nhà đàn bà đẻ để hút máu. Người ta nếu thấy ánh đèn ở trong nhà có bóng lạ, tức là giống quái vật ấy bay vào nên họ thường bố trí lưới vây chung quanh để chống cự, giống ma ấy không vào được thì bay đi nơi khác… Đến canh năm, giống quái vật ấy bay về, ngâm chân vào thùng nước tô mộc, tháo chân ở mũi ra, trở lại làm người, nếu hỏi đến việc đã làm ban đêm thì không biết gì cả. Nhà nào bị thứ ma quỷ ấy quấy nhiễu, thì mời thầy mo đến khấn khứa cầu đảo, nếu thấy chỗ bệnh nhân bị đau, có dấu vết răng người cắn, thì lấy áo của bệnh nhân mặc, để lên trên chỗ chõ thổi xôi, thầy mo nói: “mày đã cắn nó phải tha ra” rồi lại đem áo ấy đắp cho bệnh nhân, liền giải cứu ngay được”.

          Đọc địa chí về Hưng Hóa của Lê Quý Đôn, ngoài những cứ liệu truyền thuyết và thực chứng, cũng còn một vài điểm đáng ngờ. Danh nhân hiệu Quế Đường nhận xét: “Một dải sông Đà, phong tục giống người Man, người Lạo, con trai phần nhiều dối trá, con gái phần nhiều dâm đãng; anh em bọn lang đạo tự ý chém giết, tranh cướp lẫn nhau; vợ chồng cẩu hợp không có giá thú…”.

          Xem ra, từ thế kỉ XV - XVII, Hưng Hóa xa xôi hiểm trở, nước độc rừng thiêng, phương tiện di chuyển hạn chế, mới có thể thấy, sự lao tâm khổ tứ của hai nhà khảo cứu Nguyễn Trãi và Lê Quý Đôn là không hề nhỏ.

 

         

 T. J. Logan Jersey