CẢM QUAN NGHỆ THUẬT TRONG VĂN CHIÊU HỒN CỦA NGUYỄN DU

 

ThS Lê Thị Xuân Liên

Khoa Ngữ Văn – Trường Đại học Tây Bắc

 

1. Mở đầu

          Cảm quan (Feeling) chính là “sự nhận thức, sự cảm nhận” của mỗi người khi quan sát một hiện tượng, một hiện trạng nào đó trong cuộc sống. “Đó là loại nhận thức đặc biệt không phải bằng suy lí, lô gic, bằng khái niệm mà bằng cảm giác, cảm tính”(1). Thuật ngữ này được dùng trong nhiều lĩnh vực như tâm lí học, triết học, lí thuyết thẩm mĩ.

          Trong lĩnh vực nghệ thuật, cảm quan được hiểu là “bằng cách nào một tác phẩm nghệ thuật (văn học) được tạo ra và nó ảnh hưởng đến người đọc như thế nào, bằng cách nào” (2). Nói theo cách khác thì mỗi tác phẩm nghệ thuật giống như một kiểu biểu tượng hóa ý tưởng về cảm quan của người nghệ sĩ. Nó là cách thức cảm nhận, đánh giá của nhà văn khi tiếp cận đối tượng thẩm mĩ.

           Mỗi nhà văn thường tạo dựng nên một thế giới nghệ thuật bằng cảm quan của riêng mình. Thế giới nghệ thuật ấy không chỉ phản ánh thực tại khách quan mà còn thể hiện cách nhìn, cách nghĩ, cách cảm về con người và cuộc đời của nhà văn đó. Nguyễn Du rời cõi thế không để lại một bức hình hay pho tượng nào nên hàng trăm năm qua người đời vẫn đi tìm ông, đúng hơn là đi tìm con người ông qua những trang thơ, trang văn ông viết và cho đến bây giờ vẫn còn nhiều băn khoăn lắm. Người ta bình luận rằng “ông mang tâm sự hoài Lê, ra làm quan với triều Nguyễn”; “ông là nho sĩ thấm nhuần tam giáo, khuân mình trong giới hạn thời đại với những lý thuyết về mệnh, về nghiệp duyên của kiếp người tài hoa”; “ ông từ trong vô thức, dứt khoát với cái gốc nho gia, phát tử mà gắn bó với tầng lớp thị dân”... Tuy nhiên, ai đã từng đọc Văn chiêu hồn của Nguyễn Du có thể nhận thấy ông chỉ là “con người nhân bản thuần túy, không thuộc về một thời đại nào nhất định, cũng chẳng khuôn mình trong những chuẩn mực xã hội như những nhà nho khác”(3). Mang trong mình “tấm lòng nghĩ cả ngàn đời”, từng câu chữ, mỗi dòng thơ ông viết đều bộc lộ rõ cảm quan thẩm mĩ của ông về con người và cuộc đời một cách tinh tế và sâu sắc. Đó là cảm quan hiện thực về nghịch lý của kiếp đời con người và cảm quan nhân sinh mang sắc màu Phật giáo.

2. Nội dung

2.1. Cảm quan hiện thực về nghịch lý của kiếp đời con người

Văn chiêu hồn thực chất là một bài văn tế vong linh người chết, chính xác hơn là tế các cô hồn - vốn là những chúng sinh đau khổ; họ chết mà không có ai thương nhớ, thờ cúng; hồn bơ vơ, thất thểu nơi ngàn cây nội cỏ không biết đi đâu về đâu. Và chỉ đến ngày rằm tháng 7 họ mới được lòng người nhớ đến, dành cho chút lòng thương và bố thí cho hớp cháo lá đa. 

Theo như lời kể của tác giả Nguyễn Văn Khánh trong cuốn tiểu thuyết Ba trăm năm lẻ thì Văn chiêu hồn được viết trong hoàn cảnh khá đặc biệt. Lúc bấy giờ Nguyễn Du đang ở ẩn tại chân núi Hồng Lĩnh, di dưỡng cho tinh thần nhẹ nhõm, mong muốn vươn tới cảnh giới “hư tâm” thì được nhà sư Huyền Hư Tử- trụ trì chùa Uyên Trình trên núi Hồng cho mời, ngỏ lời nhờ viết hộ văn chiêu hồn. Ban đầu ông chối từ nhưng sau khi chứng kiến cảnh nhà sư làm lễ, nhất là chứng kiến cảnh những người nghèo quanh đó nghe tin nhà chùa làm lễ cúng cháo đã tụ tập chờ xong lễ vào xin cháo, cảnh đám trẻ mục đồng hò nhau cướp bánh trái trên các bồ đài... Nguyễn Du đã liên tưởng tới nỗi bất hạnh của con người nơi dương thế cũng như ở chốn âm thế và cảm thấy không thể nào dửng dưng với nỗi đau khổ của đồng loại chúng sinh nên đã nhận lời soạn hộ văn chiêu hồn. Hôm đó, trời lạnh lắm, mưa dầm rả rích suốt đêm. Gió heo may hun hút thổi từng cơn, Nguyễn Du một mình trước ngọn bạch lạp bên án thư viết một mạch đến sáng thì xong bài văn tế này.

Tôi không biết đó có phải là bối cảnh thực khi Nguyễn Du viết Văn chiêu hồn hay không nhưng có một điều tôi dám chắc trong cõi đời, con người không ai giống ai, đâu chỉ có “thập loại chúng sinh”. Nguyễn Du chọn viết về mười loại người tiêu biểu và mười loại vong hồn, gói gọn vận mệnh số kiếp của họ trong 184 câu thơ song thất lục bát đủ khiến cho áng Văn chiêu hồn trở thành một kiệt tác bất hủ trong di sản tinh thần của nhân loại; để rồi mỗi khi đọc lại áng văn này, ta có thể cảm nhận được khá rõ cảm quan nghệ thuật tinh tế của nhà thơ về cuộc sống mưu sinh của loài người nơi dương thế mà cái chết là điểm nút cuối cùng. Đó là cảm quan nghệ thuật mang tính hiện thực về nghịch lý của kiếp đời con người. Mỗi nghịch lí đều liên quan đến số mệnh của con người trong lẽ sống đời thường, giữa khát vọng và thực tại cuộc đời; giữa đời người nơi dương thế và cô hồn nơi ấm thế; giữa khi sống và khi chết của mỗi hạng người, lớp người ấy.

2.1.1. Nghịch lí vòng đời của hạng người quyền bính, giàu sang

          Khi viết về nghịch lí vòng đời của hạng người quyền bính, giàu sang trong xã hội, Nguyễn Du cố ý “chọn mặt gửi vàng”, viết về nghịch cảnh trong vòng đời của những loại người tiêu biểu nhất. Trước hết là những kẻ thuộc hàng vương gia. Tất cả bọn họ đều chung nhau cái khát vọng trở thành một bá vương trong thiên hạ, không chịu làm một kẻ sất phu (một người dân bình thường trong xã hội) để rồi trong cuộc tranh hùng ấy lại rơi vào thảm cảnh trở thành những cô hồn mang nặng oán thù nên không bao giờ có thể đầu thai đổi kiếp được:  

Những kẻ tính đường kiêu hãnh

Chí những lăm cất gánh non sông

Nói chi những buổi tranh hùng

Tưởng khi thất thế vận cùng mà đau

Máu tươi lênh láng, xương khô rã rời

Đoàn vô tự, lạc loài nheo nhóc

Quỉ không đầu, đau đớn khóc đêm mưa

Thứ đến là

Những kẻ mũ cao áo rộng

Ngọn bút sơn thác sống ở tay

Kinh luân một túi găm đầy

Đã đêm Quân Nhạc lại ngày Y Chu.

Đây là hạng quan văn thuộc hàng quyền cao chức trọng trong triều đình, quyền lực rất lớn “dưới một người, trên vạn người”; ngọn bút son của họ chỉ cần quệt một cái thì có kẻ chết người sống nhưng bản thân họ cũng chẳng thoát kiếp tử sinh theo lẽ thường. Theo quan điểm của Nguyễn Du thì “thịnh mãn lắm, oán thù càng lắm” nên hạng người này khi chết xuống âm phủ dẫu có nghìn vàng cũng chẳng mua nổi một kẻ thân thích thờ phụng đèn nhang, muốn hóa sinh thành kiếp đời khác cũng không nổi đành chịu kiếp cô hồn phiêu bạt:         

Kẻ thân thích vắng sau vắng trước

Biết lấy ai bát nước chén nhang

Cô hồn thất thểu dọc ngang

Nặng oan khôn nhẽ tìm đường hóa sinh

Nguyễn Du đã đặt những hạng người này vào hai thái cực của sự đối lập: lúc họ đang cực thịnh, đang tranh hùng và “lúc khuất thế vận cùng” để khắc họa trọn vẹn cái nghịch lí trong cuộc đời của họ.

Dưới ngòi bút Nguyễn Du ta còn thấy cả những võ tướng vốn rất giỏi “bài binh bố trận”, nuôi khát vọng “dấn mình vào cướp ấn nguyên nhung” nhưng kết cục lại gặp phải cảnh:

Dãi thây trăm họ, làm công một người...

Bãi sa trường thịt nát, máu trôi

Mênh mông góc bể bên trời

Nắm xương vô chủ biết nơi chốn nào?

Khi viết về nghịch cảnh trong vòng đời của bọn người giàu sang phú quí, Nguyễn Du không đặt mình trong vị thế của con người “nhà quan” để xét đoán cũng không bày tỏ thái độ thù hận, căm phẫn với bọn người này bằng đôi mắt nhìn của những người bị bọn chúng hà hiếp bóc lột. Ông hoàn toàn đứng ở vị thế một kẻ sĩ nhìn nhận, xét đoán nhân thế dựa trên cơ sở lòng nhân. Lòng trắc ẩn khiến ông khóc thương cho những linh hồn đó song thực chất là ông cảm thương cho những kẻ chỉ ham làm giàu, không màng chi đến tình thân, họ đã lựa chọn cuộc sống độc hành độc bộ trên cõi dương thế để kiếm thật nhiều tiền bạc, nhưng họ đâu có biết rằng khi chết tất cả lại tròn trĩnh là con số không:

Dẫu làm nên, dễ dành phần cho ai

Khi nằm xuống không người nhắn nhủ

Của phù vân dẫu có như không

Sống thời tiền chảy bạc ròng

Thác không đem được một đồng nào!

Thật là mỉa mai thay cho họ, khi mà sống thì sang giàu, chết thì đơn bạc:

Khóc ma mướn, thương gì hàng xóm

Hòm gỗ dâu, bó đóm đưa đêm

Ngẩn ngơ nội rộc, đồng chiêm

Nén hương, giọt nước, biết tìm vào đâu

Có không ít những kẻ sĩ “văn chương đâu đã chắc” những vẫn cố chen vào con đường khoa cử những mong đỗ đạt cầu chút vinh hoa phú quí. Than ôi! Hư danh đâu chẳng thấy lại chỉ thấy kết cục bi thảm chẳng may bỏ mạng nơi đất khách quê người, đến chuyện chôn cất cũng vội vàng qua quít:          

Vội vàng niệm sấp, chôn nghiêng

Anh em thiên hạ, láng giềng, người dưng

Cô hồn nhờ gửi than hương

Gió trăng hiu hắt lửa hương lạnh lùng.

Mỗi câu chữ trong bài văn tế dành viết cho bọn người phú quí chẳng khác xa là bao với những lời văn tế ông khóc cho kiếp người nghèo hèn trong xã hội. Có khác chăng thì tiếng khóc ông dành cho bọn người này chỉ là tiếng khóc của sự thương hại. Đối với họ, ông vừa thương lại vừa giận, lại vừa có chút coi thường. Họ chết đã đành là đáng thương, nhưng đáng giận, đáng khinh bởi họ chết vì chính dục vọng và tham vọng cá nhân. Mượn văn tế để nói về những cái chết của bọn người tham vàng bỏ ngãi, tham quyền cố vị, bị danh lợi làm cho mờ mắt mà lao vào tranh giành đấu đá gây nên bao bi kịch, nhà thơ lên tiếng phê phán xã hội nhưng quan trọng hơn là phê phán con người cùng cái dục vọng thấp hèn của chính con người. “Có thể nói cảm quan nghệ thuật của Nguyễn Du ở đây là một cảm quan bi kịch lịch sử, về tham vọng quyền lực và danh lợi của chính con người”(4). 

Khi tập trung vào lí giải nguyên do cái chết của nhóm người này, Nguyễn Du đã phơi bày một hiện thực bi ai của kiếp người: Con người chỉ vì tham, sân, si mà bỗng chốc trở thành nạn nhân của chính dục vọng đó. Đúng như lời Đức Phật đã dạy: “Con người mà không đoạn được tham dục, sân nhuế, ngu si tà kiến, thì sau phải đọa địa ngục chịu khổ vô cùng” (5).

Trong thế giới của hạng người trên trong xã hội ấy, Nguyễn Du không quên than tiếc cho số kiếp hồng nhan. Dưới ngòi bút của ông, thân phận của những người con gái xuất thân thuộc tầng lớp trên trong xã hội “những kẻ màn loan trướng huệ/ những cậy mình cung quế phòng hoa” cũng thật bi hài. Ngay từ lúc sinh ra, họ đã được hưởng cuộc sống nhung lụa giàu sang, có bao giờ biết buồn khổ, đói rét là gì nhưng rồi chẳng may gặp phải “một phen thay đổi sơn hà” nên phận đổi sao rời thành ra “mảnh thân chiếc lá biết là về đâu”, đường cùng bi phẫn mà nhảy lầu tự tử. Những tưởng khi sống được nâng niu chiều chuộng thì khi chết họ sẽ được những người hầu kẻ hạ chăm chút khói hương, ai dè khi “trâm gãy, bình rơi” họ sa vào nghịch cảnh trở thành cô hồn yếu đuối lang bạt khắp chốn cùng nơi:

Khi sao đông đúc vui cười

Mà khi nhắm mắt không người nhặt xương

Đau đớn nhẽ không hương không khói

Luống ngẩn ngơ, dòng suối, rừng sim

Bản thân những người con gái này không hề có lỗi khi được sinh ra trong gia đình quyền quí cao sang; lỗi bởi cái xã hội rối ren lúc bấy giờ đã biến họ thành nạn nhân phải chịu tai kiếp. Thương thay kiếp số con người! Mọi thứ phú quí cao sang cuối cùng không trở thành mối họa thì cũng trở thành phù vân, chỉ còn lại cái bóng cô hồn đi mãi trong cõi u buồn vô định.

          2.1.2. Nghịch lí vòng đời của những hạng người nghèo hèn trong xã hội

Là một nhà thơ giàu nhân ái, Nguyễn Du đặc biệt quan tâm đến những con người bình thường ngoài xã hội. Ngoài những hạng người phú quí nói trên, tác giả dồn hết yêu thương cho những kiếp người vô danh, sống và chết trong lặng lẽ. Đó là

những kẻ vào sông ra bể chẳng may:

Gặp cơn giông tố giữa dòng

Đem thân chôn rấp vào lòng kình nghê

hay những kẻ:

Đòn gánh tre chín dạn hai vai

Gặp cơn mưa nắng giữa trời

Hồn đường phách xá, lạc loài nơi nao...

Trong thời kì xã hội loạn lạc mà Nguyễn Du gọi là “đêm trường tối tăm trời đất” ấy, biết bao người phải chịu cảnh điêu linh. Có “những kẻ mắc vào khóa lính” phải “bỏ cửa nhà đi gánh việc quan” để rồi trong cái buổi chiến trận mạng người như cỏ rác, ấy họ phải bỏ mạng bởi đạn lạc tên rơi, linh hồn họ hóa thân vào bóng tối lập lòe như những “ngọn lửa ma trơi”, ai sẽ khóc thương họ nếu không có Nguyễn Du. Những câu thơ thấm đẫm nước mắt, nhà thơ dành viết cho những kiếp đời bé mọn nhất, đáng thương nhất: Những người ăn mày cả cuộc đời “nằm cầu gối đất”:

Dõi tháng ngày hành khất ngược xuôi

Thương thay cũng một kiếp người

Sống nhờ hàng xứ, chết vùi đường quan

Và những đứa “tiểu nhi tấm bé”:

Lỗi giờ sinh lìa mẹ, lìa cha

Lấy ai bồng bế vào ra

U ơ tiếng khóc thiết tha cõi lòng

Dẫu không phải kẻ sĩ đa tình thì Nguyễn Du vẫn dành cho người phụ nữ những dòng thương cảm nhất, xẻ chia với họ “nỗi truân chuyên” trong cuộc đời. “Đau đớn thay phận đàn bà, Kiếp sinh ra thế biết là lại đâu!” hai lần, trong Truyện Kiều Văn chiêu hồn, ông đã kêu lên như vậy. Ông không lí giải nổi cái nghịch lí ghê gớm của xã hội là tại sao những người phụ nữ, nhất là những người càng tài sắc thì cuộc đời lại long đong, lận đận; dẫu họ muốn sống cuộc đời bình dị nhất cũng không được, phải sống cuộc đời kĩ nữ hoặc cầm ca. Thời gian trôi qua, tài thì còn mà sắc thì phai, rơi vào cảnh sa cơ lỡ bước trong vòng đời đen bạc với một nỗi bi ai:

Ngẩn ngơ khi trở về già

Ai chồng con tá biết là cậy ai?

Họ chết đã đành phận họ, nhưng Nguyễn Du không cam lòng nên cảm thông chia xẻ với họ nghịch lí:

Khi sao đông đúc vui cười

Mà khi nhắm mắt không người nhặt xương

......

Sống đã chịu một đời phiền lão

Thác lại nhờ hớp cháo lá đa.

Còn biết bao kiếp người khổ đau khác nữa: “kẻ chìm sông, lạc suối; những người leo giếng đứt dây, người trôi nước lũ, kẻ lây lửa thành...Nhiều, nhiều lắm những mảnh đời lang bạt, bỗng chốc hóa thành cô hồn thoắt ẩn thoắt hiện, chập chờn như giữa cơn mê. Hoặc “ẩn ngang bờ dọc bụi”, “nương ngọn suối chân mây” hay “điếm bóng cỏ cây”... tất cả những con người bé mọn ấy từng ngược xuôi trên nẻo đường đời giờ đây tụ hội đầy đủ trong áng văn chương bất hủ của Nguyễn Du. Dường như cả một xã hội rộng lớn đã được nhà thơ thu nhỏ lại cho muôn người, muôn đời dõi theo mà thương cảm cho họ, mà  thấu hiểu được những nghịch lí bất công trong vòng đời bi thiết của họ. Nguyễn Du đã vượt mình và vượt thời đại bằng chính tấm lòng thương người hơn cả thương thân ấy.

Càng đọc và ngẫm kĩ càng thấu rõ cảm quan nghệ thuật của Nguyễn Du trong Văn chiêu hồn chính là cảm quan phát hiện ra những nghịch lí của thực tại. Nhưng lớn hơn cả chính là tấm lòng ôm trùm lên mọi kiếp người lao khổ, kiếp người vô tội, oan khốc trong cái bể đời trầm luân vô ảnh, để rồi trong cái đêm mưa gió não nùng của ngày rằm tháng 7 “tưởng chừng như bầu trời trút ra toàn nước mắt chúng sinh, và cảnh vật cũng thê lương như lòng người; buồn trên dương thế, buồn cả dưới mồ sâu”(6). Ông đã trải lòng mình, hứng lấy những cảnh đời bất hạnh để nói về những nghịch lí trong cái vòng đời nghiệt ngã của muôn vạn chúng sinh.

Viết về nghịch lí trong vòng đời của những cô hồn khi họ còn sống trên dương thế, Nguyễn Du thực sự thành công với một cảm quan nghệ thuật vừa mang màu sắc hiện thực vừa gắn liền với đời sống tâm linh của con người.

2.2. Cảm quan nhân sinh mang sắc màu Phật giáo

 Theo quan niệm triết học của đạo Phật: “Con người là hợp thể của Danh và Sắc: Danh - Sắc là tên gọi chung của ngũ uẩn. “Danh” chỉ phương diện tinh thần hay Tâm; còn “Sắc” chỉ về cơ thể, thể xác hay vật chất. Khi nói con người là hợp thể của Danh và Sắc, điều đó có nghĩa con người chỉ được gọi là con người khi có sự tương hợp của hai yếu tố tinh thần và vật chất”(7).  Như vậy theo quan niệm của Phật giáo: Con người là sự hợp thể của tinh thần và thân xác. Tinh thần không thể tồn tại ngoài thân xác, cũng như thân xác không thể thiếu tinh thần. Tuy nhiên trên thực tế con người không tồn tại vĩnh hằng. Ngay từ khi xuất hiện trên thế gian này, con người đã phải tuân theo qui luật cuộc đời một cách tuyệt đối: sinh- lão- bệnh- tử.  Khởi đầu bằng sự sống (sinh) kết thúc bằng sự chết (tử). Như vậy, có sinh ắt có tử. “Sống và chết, sinh và tử là hai mặt đối lập nhau mà không tách rời nhau như sáng và tối; âm và dương níu kéo con người trong vòng sinh tử luân hồi”(8).

Chết có phải là hết, chết có phải là một sự kết thúc? Câu hỏi ấy được giải đáp theo quan niệm nhân sinh trong đạo Phật như sau: “Cuộc đời này chỉ được coi như là cõi tạm và con người chỉ hiện diện được theo đúng chu kỳ có giới hạn rồi thân xác lại trả về trạng thái lúc ban đầu và tinh thần rời khỏi thể xác để nương vào một lớp khác mà tồn tại”(9). Như vậy, chết không phải là một sự kết thúc; chết không phải là hết. Sự chết của con người chỉ là sự chết về thể xác, không phải sự chết của tinh thần. Nó sẽ tìm đến một thân xác khác để tiếp tục cuộc hành trình của nó bằng một sự khởi đầu khác, và vòng xoay theo bánh xe cuộc đời đã định. Nguyễn Du có lẽ đã ngộ được điều này nên mới khắc họa thành công một kiểu không gian đặc biệt - kiểu không gian hiện thực trong tâm tưởng khi viết văn tế cho người chết. Nó vừa là cõi thực (dương thế) - nơi trú ngụ sinh sống của những kiếp con người ông đang nói tới khi họ còn sống; đồng thời cũng là cõi âm - nơi trú ngụ của những cô hồn ông đang chiêu tế.

Có thể nói, trước khi Văn chiêu hồn của Nguyễn Du ra đời, trong nền văn học Việt Nam từ xưa đến nay chưa có tác phẩm nào viết về người chết lại tập trung nhiều cô hồn đến thế. Nhưng trên thực tế khi đọc và ngẫm kĩ ta sẽ thấy Nguyễn Du không chỉ viết văn chiêu tế linh hồn người chết mà ông mượn chuyện viết văn tế cúng âm hồn trong lễ tục Rằm tháng bảy hàng năm để giãi bày những nghĩ suy cứ canh cánh trong lòng ông về kiếp con người.

Trong văn chiêu hồn, ta thấy toàn nói về những người đã chết, nhưng thực ra là đang nói tới cảnh đời thực của những linh hồn cô độc đang phiêu dạt khắp chốn cùng nơi ở chốn dương thế:

Hoặc là ẩn ngang bờ dọc bụi

Hoặc là nương ngọn suối chân mây

Hoặc là bãi cỏ bóng cây

Hoặc là quán nọ, cầu này bơ vơ

Hoặc là nương Thần Phật tự

Hoặc là nhờ đầu chợ, cuối sông

Hoặc là trong khoảng đồng không

Hoặc nơi gò đống, hoặc vùng lau tre...

Dường như nhà thơ cố tình tạo nên kiểu không gian nghệ thuật vừa hư vừa thực ấy để biểu đạt tính nghịch dị của xã hội đương thời. Xã hội ấy không thuần túy là chốn dương thế của con người theo đúng nghĩa mà còn là nơi chốn đi về của những thứ quỉ ma theo nghĩa bóng. Trong cái không gian xã hội mà Nguyễn Du ám chỉ ấy, Người và Ma rất khó phân định; có những kẻ mang hình dáng Người nhưng lại mang tâm Ma, và ngược lại.

Trong cái “trường dạ tối tăm trời đất” ấy, Nguyễn Du đã dựng lên một nét đẹp trong chân dung của những con người nghèo hèn trong xã hội qua hình ảnh: từng đoàn cô hồn “Dãi dầu trong mấy mươi năm/ Thở than dưới đất, ăn nằm trong sương”đang “bồng trẻ dắt già”. Họ đã từng trải qua biết bao khổ nạn mà vẫn cưu mang lẫn nhau, rõ ràng là họ rất tình nghĩa. Chúng tôi cho rằng đó là hình ảnh phản chiếu sinh động về mối quan hệ người của những kiếp người lao khổ trong xã hội mà Nguyễn Du muốn nói tới.

Văn tế là một bài văn cúng nên tất yếu nó nói về người chết, nhưng trong áng văn tế này của Nguyễn Du chỉ có đoạn đầu, đoạn cuối là nói tới người chết còn phần lớn bài văn tế nói về người sống. Giá trị hiện thực của tác phẩm nằm chính ở đó. Nhà thơ chỉ mượn văn tế rằm tháng 7 như một phương tiện để nói về “cô hồn” rồi từ chuyện về “cô hồn” để nói về “kiếp người”. Trên thực tế, nhà thơ đã nhìn đời theo cách nhìn của nhà Phật (tất cả các chúng sinh không phân biệt sang hèn, giàu nghèo, nam nữ, già trẻ) vì vậy dưới ngòi bút Nguyễn Du tất cả các cô hồn ấy đều là hiện thân của những “chúng sinh” trong bể trầm luân, trong cái vòng luân hồi. Dẫu là mỗi người mang một “nghiệp” khác nhau và chết một trăm cách khác nhau nhưng giờ đây tất cả họ đều bình đẳng, rất đáng thương và nên được yêu thương. Và hơn ai hết, họ đang rất cần được siêu thăng tịnh độ để được đầu thai sang kiếp khác.

Thương thay thập loại chúng sinh

Hồn đơn phách chiếc lênh đênh quê người

Hương lú đã không nơi nương tựa

Hồn mồ côi lần nữa đêm đen

Còn chi ai quí ai hèn

Còn chi mà nói ai hiền ai ngu

Tiết đầu thu lập đàn giải thoát

Nước tịnh đàn rưới hạt dương chi

Muốn nhờ Đức Phật từ bi

Giải oan cứu khổ, hồn về Tây Phương

Trong kinh Phật có câu: “Sống gửi thác về” để chỉ cõi thế gian lúc ta sống và sau khi chết sẽ về một cảnh giới an lành khác là thế giới Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà. Nơi đó vĩnh viễn không già, không chết mà mọi người được sống đời an lạc tự tại.  Theo chúng tôi, “Tây phương” mà Nguyễn Du nói tới trong Văn chiêu hồn, chính là cõi Cực Lạc- nơi “về” của linh hồn con người sau khi “thác”. Rõ ràng là Nguyễn Du muốn chiêu tế các cô hồn để giải oan, cứu khổ với mong muốn vong linh của họ có thể siêu thăng tịnh độ, về tọa ngự ở chốn cực lạc Tây phương theo quan niệm của nhà Phật.

 Bản thân Nguyễn Du không phải là người sùng đạo Phật nhưng cớ sao trong Văn chiêu hồn, ông lại lụy đến Phật pháp để hóa giải mọi nỗi khổ hạnh của kiếp con người và kiếp cô hồn ngoài kia? Thực chất ông cũng có niềm tin vào Phật giáo, nhưng ở ông còn có một cái tâm lớn là lòng thương người. Chính cái “Tâm” lớn ấy đã đưa nhà thơ đến với tư tưởng từ bi của đạo Phật, tạo nên cảm quan nghệ thuật mới mẻ trong áng Văn chiêu hồn- cảm quan nhân sinh mang sắc màu đạo Phật. Nói một cách chính xác thì Nguyễn Du đã hòa trộn đạo Phật trong tín ngưỡng dân gian bằng giải pháp chữ “Tâm”, “tìm cho họ một lối thoát- một lối thoát không có tính hiện thực nhưng biết bao chân thành”(10).

3. Kết luận

 “Tác phẩm nghệ thuật là hình thức biểu hiện cụ thể của cảm quan con người được nhà văn tạo ra cho nhận thức thẩm mĩ của chúng ta thông qua cảm quan hoặc trí tưởng tượng”(11). Nếu trong cuộc sống thông thường, cảm quan in dấu cá nhân trong cách nhìn nhận, cách nhận thức sự vật, hiện tượng thì trong nghệ thuật, cảm quan như là một thuộc tính đặc trưng của hình tượng nghệ thuật. Nó phản chiếu quan niệm nghệ thuật của người sáng tạo ra nó, đem đến cho người tiếp nhận một biểu tượng ẩn dụ để khám phá, tìm hiểu. Mỗi bạn đọc sẽ tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật theo một cách riêng trên cơ sở thế giới nghệ thuật đó.

Văn chiêu hồn không chỉ thể hiện rõ cách cảm, cách nghĩ hiện thực về nghịch lí trong số kiếp con người mà còn thể hiện một cảm quan nghệ thuật thấm đẫm tinh thần, tư tưởng nhân văn của đạo Phật của nhà thơ Nguyễn Du - nhà thơ của “nỗi đau đời”.

Lưu truyền trong những ngôi chùa cổ mấy trăm năm nay, Văn chiêu hồn luôn hòa quyện cùng tiếng mõ, lời kinh. Âm hưởng của nó vượt ra khỏi chốn cửa Thiền, lan khắp cõi trần ai, thấm sâu trong lòng người về một tiếng khóc thương người chết lại hóa ra thương cả người đang sống. Với Văn chiêu hồn Nguyễn Du đã gióng lên một hồi chuông báo, cảnh tỉnh con người: Hãy đừng bao giờ quên đi đồng loại trong hành trình cuộc đời.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

(1) (2) (11) Nguyễn Thị Tuyết, “http://tapchisonghuong.com.vn/tintuc/p0/c7/n20975/

Cam-quan-va-cam-quan-nghe-thuat.html”

(3) Vũ Ngọc Khánh, Ba trăm năm lẻ, NXB Văn Hóa, Hà Nội, 1988.

(5) Hòa thượng Thích Viên Giác, Lương hoàng sám, NXB Tôn giáo, Hà Nội, 2017

(4) (6) (10) Lê Thu Yến (chủ biên), Văn học trung đại những công trình nghiên cứu, Mai Quốc Liên - Nhà thơ của nỗi đau nhân loại, NXB Giáo dục, 2002.

(7) https://text.123doc.org>Ly luan chinh tri> Triết học Mác – Lê nin

(8) (9) https://www.chuaquansu.net/phat-giao-quan-niem-the-nao-ve-cuoc-doi-va-con-nguoi...