THIÊN NHIÊN VÀ NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DÂN CA GIÁY

Mùng Thị Tuyết – Lớp K52 ĐHSP Ngữ Văn

 Khoa Ngữ Văn, Đại học Tây Bắc

 

 

Dân tộc Giáy (bản tộc tự gọi) còn có tên là Nhắng (phổ biến gọi ở vùng Hoàng Liên Sơn, Lai Châu), là Giẳng (tên do các dân tộc Tày, Thái gọi). Theo các nhà nghiên cứu, người Giáy di cư từ Trung Hoa vào Việt Nam từ khoảng cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII. Các cụ già ở xã Gia Hội, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái thì khẳng định rằng người Giáy đến sinh sống ở Gia Hội đã được gần 200 năm. Họ chịu ảnh hưởng rất lớn từ văn hóa Trung Hoa.

Người Giáy cớ địa bàn cư trú rộng lớn, nhưng sống chủ yếu ở miền núi phái Bắc, gồm các tỉnh Lai Châu, Yên Bái, một số sống ở các tỉnh khác, trong đó có Sơn La.

Dân ca dân tộc Giáy là một tài sản vô cùng quý giá của nền văn học dân gian Giáy nói riêng và văn học dân gian Việt Nam nói chung. Cũng như dân ca, ca dao của nhiều dân tộc anh em khác, dân ca dân tộc Giáy có nội dung phong phú đề, cập đến nhiều mặt của đời sống xã hội: về lao động sản xuất, về đấu tranh chống áp bức, về đạo đức làm người, về tình yêu đôi lứa … Sự lưu truyền của nó trong nền văn học đã làm nên bản sắc văn hóa tộc người đậm nét.

  Dân tộc Giáy không có văn tự nên trí nhớ là phương tiện duy nhất để lưu truyền dân ca. Do đó, hiện nay, việc sưu tầm và biên soạn dân ca Giáy gặp rất nhiều khó khăn.

Có thể điểm qua một số công trình nghiên cứu của một số tác giả tiêu biểu sau: Trong cuốn Dân ca Giáy, tác giả Lù Dín Siềng – một học giả bản địa, say mê nghiên cứu văn hóa, văn học nhận định, sở dĩ có được kho tàng dân ca phong phú là do người Giáy “Yêu tha thiết cuộc sống, gắn bó xương thịt với từng tấc ruộng”. Tác giả Sần Cháng trong cuốn Phong tục Việt Nam lại chú ý đến chức năng của dân ca Giáy, ông viết: “Tộc người Giáy cũng như các tộc người khác, đều có những cái riêng của mình, trong đó có dân ca. Trước hết người Giáy cho dân ca là một tri thức, người biết nhiều bài hát dân ca cũng là một người hiểu biết và có năng lực ứng xử, bởi vì người biết dân ca dân tộc Giáy không chỉ thuộc nhiều mà còn biết “vận” đúng lúc, đúng chỗ”. Và “Dân tộc Giáy coi dân ca là cái cốt lõi trong đời sống tinh thần của một tộc người. Bởi dân ca dân tộc Giáy gắn liền với phong tục tập quán của người Giáy”. 

Dân tộc Giáy hình thành từ lâu đời và có bề dày truyền thống. Họ hòa mình và gắn bó với thiên nhiên, là những cư dân của nền nông nghiệp trồng lúa và đời sống kinh tế tự cung tự cấp, đồng bào Giáy luôn sống chan hòa, nhân ái, đoàn kết, gắn bó để tạo nên một xã hội ổn định, phát triển. Chính bản sắc nguồn cội và môi trường tự nhiên - xã hội ấy đã làm nảy sinh những làn điệu dân ca mượt mà, trong sáng. Xuất phát từ những ý kiến, nhận định trên, chúng tôi tìm hiểu, nghiên cứu dân ca dân tộc Giáy.

Người Giáy gọi hình thức sinh hoạt hát dân ca là “vươn”. Nội dung của dân ca rất đa điệu và phong phú, phản ánh đầy đủ những tâm tư, tình cảm của người dân Giáy ở mọi phương diện của đời sống, song chủ yếu thể hiện qua những bài ca về thiên nhiên, con người lao động và thành quả lao động

Trong kho tàng dân ca phong phú của dân tộc Giáy, có một số lượng lớn bài ca nói về đề tài thiên nhiên, lao động sản xuất. Đó là những khúc hát về tình yêu cuộc sốn, yêu thiên nhiên đất nước, về bản tính cần cù, chất phác của nhân dân.

Người nghe dân ca Giáy dễ nhận thấy nhất là những bài ca về thiên nhiên.Người Giáy sống ở miền núi lâu đời, họ hòa mình với đại ngàn hùng vĩ, nên thơ từ ngàn xưa đã che chở cho họ. Thiên nhiên ấy bốn mùa có sắc xanh của lá, rực rỡ màu hoa, có tiếng choim líu lo, tiếng suối rì rầm róc rách. Những thanh sắc tấu thành bản nhạc để người Giáy cất lên lời ca. Thiên nhiên được phản ánh trong dân ca Giáy được nhìn qua con mắt của người lao động, có lúc lại được khúc xạ qua con mắt của người đang yêu.

Cư dân Giáy dành tình cảm sâu nặng cho không gian sinh tồn của mình nên mặt trăng, mặt trời, nước chảy, nước rơi thác, nước nguồn, núi non cay lá, hoa mật cỏ đường, đám mây, hạt mưa… cảnh vật nào cũng tươi đẹp, đáng ấp ủ và là người bạn tri kỉ chia ngọt xẻ bùi. Mỗi tia nắng sớm ấm áp, từng khoảng trăng vàng như mỡ gà, mỗi nhánh lá đóa hoa… cái gì cũng chan hòa, lắng đọng thương yêu, làm mối lái, làm cây cầu chắp nối tình cảm, đưa sự việc nào cũng có đầu có ngọn, không lẻ loi, lạc lõng, đột ngột:

Nước từ suối nào đến?

Nước từ suối nào về?

Em ở phương nào tới?

Nước được nhân hoá như “em” và “em” được hoà vào nước, nhân vật em cũng mênh manh hư ảo như nước. Và:

Trăng mới nhô sáng trăng

Soi em dưới rặng đào

Rọi cô nàng thấp thoáng.

Vẻ đẹp thiên nhiên trong con mắt người Giáy là thẩm mĩ của những tâm hồn chất phác. Tự nhiên như giấc mơ đẹp đẽ bắt nguồn từ những nét chấm phá rất thực giữa ánh mặt trời:

Sáng sáng chân trời mở

Trưa rồi chân trời nhắc

Mây dày bổng đầu lên

Mặt trời vươn khá cao

Nắng chiều ghềnh nước chảy

Nắng rọi ghềnh nước ấm

Nắng tỏa ngọn sông Hồng

Cá tranh nhau ra bến

Trông tựa vải phơi sào.

Cất tiếng chào đời giữa muôn cảnh vật thiên nhiên hùng vĩ, cuộc sống mãi tận phút nhắm mắt xuôi tay vẫn keo sơn với thiên nhiên như bạn, như vợ chồng sâu nặng nghĩa tình:

“Nửa đêm trăng nhàn rỗi

Trăng nhảy cửa vào báo

Trăng đến báo hai lần

Trăng đến báo ba lần

Anh vội viết tên lên mặt trăng

Anh vội vẽ hình lên mặt nguyệt

Sấm rền em có nhắc đến tên anh không?

Trăng rọi sàn em có nhớ tới anh chăng?”

Đồng bào Giáy sống với rừng núi  nhưng do đặc điểm cư trú là ở gần sông suối, trong các thung lũng, gắn bó với ruộng nước. Nước trở thành biểu tượng văn hoá không thể thiếu trong mỗi lời ca. Nước hiền hoà ở ao, hồ, sông, dữ dằn ở thác, suối:

Cây quả mọc bờ ao

Cây lát mọc bờ suối.

Hay:

Nước rơi thác đề thác

Nước thác đổ rào rào

Nước suối chảy róc rách

Cá không ở vực sâu

Cá lượn tìm ghềnh rộng

Cá đi tìm ghềnh đất

Ghềnh đất cá không tụ

Cá đi tụ cửa bến…

Hình ảnh giếng nước cũng rất quen thuộc, gần gũi trong tiếng ca. Ta ít thấy nói tới núi cao non  vút, khe sâu vực thẳm, phải chăng những cái đó chưa thật “bạn bè” với sinh hoạt hàng ngày của đồng bào… Vì vậy, cứ mỗi khi nói tới non cao chót vót, mây mưa mù mịt là để diễn tả những gì xa xôi, vời vợi, tâm tư uẩn khúc, chuyện tơ vò:

Mây mù phủ núi mù

Mây mù phủ núi cao

Chồng em đi đâu sao chưa về!

Bằng cái nhìn đa chiều, dân gian Giáy đã đưa thiên nhiên vào các làn điệu dân ca. Thiên nhiên trong dân ca Giáy vừa xanh tươi, vừa hùng vĩ nên thơ nhưng cũng tiềm ẩn sự khắc nghiệt. Dù được cảm nhận ở khía cạnh nào thì thiên nhiên miền núi vẫn là người bạn thân thiết của con người, nó xâm chiếm cả hồn, cả ý của lời ca. Qua những khúc dân ca về quê hương đất nước, ta cảm nhận được tâm hồn trẻ trung , dạt dào cảm xúc và tình yêu thiên nhiên của đồng bào Giáy. Say sưa với đại ngàn, họ trải rộng cảm xúc của mình đến muôn vật tự nhiên.

Những làn điệu dân ca Giáy còn xuất phát từ tình yêu lao động, họ nhận rõ vai trò, giá trị của lao động đối với sự sinh tồn của mình. Bởi thế không ít những khúc ca được cất lên về lao động, trong lao động, làm phương tiện để người Giáy phản ánh xúc cảm, tâm tư.

Say tiếng hát – yêu lao động, nhân dân lao động Giáy vốn siêng năng làm ăn, cần mẫn, sáng tạo ra hạt thóc, củ khoai, tạo ra đường thêu, tiếng hát. Người đời trước để lại cho người đời sau, ông để cho cha, cha dành cho con, con tích lại cho cháu… vốn liếng, cái gốc của mọi sự làm ăn là trí tuệ lao động. Người Giáy có câu “Dạy con dạy ở ruộng, dạy vợ dạy trong màn”. Dạy con ngay khi làm đồng, thực tế đó, kinh nghiệm cũng ở đó, thật là thiết thực nhưng cũng là cái hạt để nảy mầm, có cây, có cành, ra hoa, kết quả, giữ vững truyền thống cần cù sáng tạo của dân tộc. Người Giáy có nhiều lời ca dành cho đối tượng lao động cụ thể, gắn với từng mùa, chẳng hạn như bài Hát trồng bông:

Tháng Giêng rẫy nương rậm

Tháng Hai tra nương bông

Chọn giống bông cho tốt

Lấy hạt bông đem trồng.

 

Tháng Ba sấm nổ rền

Tháng Tư sấm nổ rung

Cá nhảy tung bọt nước

Hạt mưa rơi rào rào…

Hay:

Tháng Bảy tháng nắng gắt

Tháng Tám tháng nắng hanh

Bố đem lửa đi đốt

Tháng Mười một bố đi cuốc

Tháng Chạp bố đi xới

Tháng Giêng xới đất tơi

Tháng Hai gieo hạt bông

Tháng Ba tháng làm cỏ…

Và khi bông đã nở thì việc lao động vẫn được tiếp tục:

Bông nở trắng như hoa

Cả nhà đi gặt bông

Đem về chọn về cán

Rồi kéo bông thành sợi…

Đến mùa vụ, người Giáy dồn tất cả tâm sức cho việc trồng cấy, họ làm say mê tới mức quên cả tình yêu, đành phải gửi lời lỗi hẹn với người thương, Anh như lỗi với em:

Tháng Ba cày bừa chưa đóng

Tháng Tư vực trâu cày

Tháng Năm nhổ mạ

Tháng Sáu tra bông và phát bờ

Tháng Bảy lúa lên đòng phải lo đầy nước

Tháng Tám lúa đang thì con gái phát quang ven bờ

Tháng Chín, tháng Mười nùa gặt hái, kéo củi

                              Tháng Một, Chạp lo Tết, cày ải…

Trai gái yêu nhau cùng động viên nhau sản xuất, lao động. Đến khi tình yêu đơm hoa kết trái, hai người được nên duyên vợ chồng, trước khi xuất giá việc đầu tiên cha mẹ khuyên con gái cũng bắt đầu từ việc lao động:

 Con ơi! Đêm thức khuya

Sáng tinh mơ phải dậy

Làm con đi nương phải về muộn

Đi ruộng phải đi sớm

Chân dính bùn đừng kêu

Làm việc mệt đừng oán…

Hay:

Đêm thì thức khuya

Sáng thì cần dậy sớm

Hãy dậy trước mọi người…

 

Và khi dậy:

Tayhãy nắm chổi hoa

Quét cửa nhà sạch sẽ…

Rồi khi bố mẹ chồng dậy thì:

Nước nóng trong chậu đồng

Mời cha mẹ rửa mặt…

Công việc dựng nhà quan trọng đối với bất cứ dân tộc nào. Người Kinh nói: an cư, lạc nghiệp. Người Giáy làm công việc này cẩn trọng, tỉ mỉ, đong đếm:

Bố vác rìu lên rừng chọn gỗ

Chọn được ba mươi cây gỗ chung gốc

Chọn được sáu mươi cây gỗ cùng tên…

Nhà cha dựng mười tám cột

Cột cong cột ôm thẳng…

Những bài dân ca Giáy đề cao lao động nhưng cũng không quên nhiệm vụ cảnh tỉnh kẻ lười biếng. Đây là lời nhắc nhở kín đáo, thường trực, có mối quan hệ logic với tục ngữ Giáy:“người lười, người  thừa” (pú chịch, pú lưa):

 Muốn mặc nên phải làm

Muốn dùng cần gắng chăm

Dồn việc lại đến việc

Đem lại đêm tiếp đêm…

Tiếng hát tâm tình của đồng bào Giáy thể hiện nhiều cung bậc tình cảm khác nhau. Bởi cuộc sống nhân dân được đặt nền móng từ lao động nên khi thể hiện tình cảm, người Giáy thường đặt tâm tư trong bối cảnh lao động để người nghe dễ có mối đồng cảm. Những con người cần mẫn, chịu thương chịu khó và say mê lao động đã trở thành đối tượng trung tâm của nhiều bài ca.

Người Giáy yêu lao động và càng thêm quý trọng thành quả lao động mà mình đã tạo ra. Còn gì vui hơn niềm vui của người nông dân khi dõi theo sự lớn lên, ra hoa, kết hạt của bông, lúa mà mình vun xới. Hạt thóc, sợi bông,  những vườn rau, gốc cây, những ngôi nhà… họ vất vả tạo dựng luôn được nâng niu và ca ngợi.

Hạt lúa mới vàng óng như chuối

Hạt lúa mới giòn như lá móc

Cây lúa mới sánh mật ong

 

…Gạo mới xay dã trắng

Trắng như bẹ chuối bóc

Trắng tưởng như hạt bạc…

Thóc gạo ngon được chế biến thành rượu và chỉ những người bạn thực quý, thực thân thiết mới có cơ hội thưởng thức:

Rượu này lúa kê năm xưa

Rượu này cao lương năm ngoái

Khách sang đến chẳng mời

Rể quý tới không mở

Để chờ bạn hôm nay…

Họ reo vui trước những nương bông trắng xóa:

Tháng Tư giáp tháng Năm

Mưa đến gặp bông mít

Nắng đến gặp bông nở

Quả bông trắng như bạc

Đẹp sao ơi cây bông

Người người cũng muốn xem

Khắp bản cũng đều thích.

Qua bàn tay khéo léo của cô gái, sản phẩm lao động được thổi hồn vào đó. Thành quả lao động được dân gian Giáy tôn vinh. Từng sợi bông được các cô, các chị tỉ mẩn kéo, dệt mà nên những tấm vải xinh xắn rồi từ đó làm nên những vật phẩm dùng trong sinh hoạt hàng ngày:

Đã thành vải thành tấm

Mẹ tìm màu chàm xanh

Mẹ tìm màu hoa đỏ

Mẹ tìm lá tím, hồng

Ghép vào mẹ may địu

Được chiếc địu đủ màu

Tặng cháu ngoại thân yêu…

Các mẹ, các chị có niềm vui trong may vá, thêu thùa thì người bố, người anh lại vui với căn nhà mới dựng:

“Nhà cha dựng giữa chợ đông vui

Gian dành bày vịt quay ngỗng nướng

Gian trước dành bày bán đàn nhạc

Vào nhà cha vui tựa mường tiên…”

Và gia chủ vui mừng tiếp đón quan khách đến mừng nhà mới:

Nhà vui hơn nhà trọ

Như nhà trọ ngoài phố

Hai cửa to mở rộng

Hai dồi chạy hai đầu

Xem ra kín hơn thùng

Nằm giữa vùng thung lũng

Cái nhà xòe cánh diều.

Tiếng chày giã gạo vang khắp bản

Tiếng chổi quét nhà rộn khắp làng…

 

Cả mường dồn nhà cha

Tất cả dồn nhà ngoại

Nhà mười vách chín lớp

Hiên xếp hàng đá tảng…

Từ bao đời nay, người Giáy vẫn quan niệm rằng lao động không chỉ phục vụ cho bản thân, ý nghĩa hơn, người Giáy quan  niệm: lao động để đem lại hạnh phúc, ấm no cho người thân, đặt nền tảng cho hạnh phúc lứa đôi. Quan niệm ấy ăn sâu vào nếp nghĩ tộc người, bởi vậy khi lao động, người Giáy được tiếp thêm nghị lực. Lao động không chỉ là công việc làm ăn sinh sống mà còn là con đường để đồng bào thực hiện bổn phận, thể hiện tình cảm với người thân:

Nhà cha dựng mười bậc, chính bậc

Thành mười bậc, chín gian:

Gian trạm lá trổ hoa

Gian dầu xa bếp lửa

Gian trái làm gia ăn

Gian dành gái thêu thùa

Gian dành trai đánh cờ đánh bài

Gian ngoài hứng gió hoa…

Trong vật chất có tinh thần, đồng bào Giáy lao động không chỉ tạo ra của cải vật chất mà còn tạo nên sức mạnh kết nối lứa đôi, thắt chặt quan hệ cộng đồng. Chàng trai mượn hình ảnh lao động trong gia đình để ướm hỏi cô gái mình thầm thương yêu:

Nhà anh tắt lửa tìm người nhóm không có

Củi tắt tìm người đầy không có

Ốm đau tìm ngươig chăm cũng không

Có ruộng không nười cấy

Gà vịt không người chăn

Lợn cừu không ai gọi

Có nhà bỏ nhà trống

Có buồng bỏ buồng không

Nhà không người may vá…

Nếu em biết em có đến giúp anh chăng?

Nếu em gặp em có thương anh không nhỉ?

Những giá trị và thành quả lao động được người Giáy say sưa ca ngợi, tôn vinh bởi lẽ giá trị thành quả ấy được sản sinh từ bàn tay cần mẫn và lòng yêu lao động của tộc người. Lao động có ý nghĩa lớn lao đối với đồng bào Giáy bởi quan lao động, người Giáy vừa tạo ra của cải vật chất làm nên tảng cho sự tồn tại của con người vừa là sợi dây gắn kết lứa đôi, là điều kiện để xây dựng bản mường giàu đẹp.

Có thể nói, người Giáy dành vị trí xứng đáng trong các làn điệu dân ca để tôn vinh người lao động và thành quả lao động. Bằng những khúc ca mộc mạc mà sâu lắng, cư dân Giáy đã dệt nên bức tranh tâm hồn muôn màu muôn vẻ của tộc người trong cuộc sống lao động. Dù nhiều khó khăn vất vả nhưng những con người hăng say lao động ấy luôn tin tưởng và tự hào về khả năng lao động của chính mình.

 

 

 T. J. Logan Jersey