CHIẾN TRANH TRONG THƠ VƯƠNG XƯƠNG LINH

Phạm Thị Nguyệt - K54 ĐHSP Ngữ Văn A

Khoa Ngữ Văn - Trường Đại học Tây Bắc

 

1.     Đặt vấn đề

           Thơ Đường đỉnh cao của văn minh nhân loại" trong "Almanach những nền văn minh thế giới" "Trong bậc thang tiến hóa của nền văn minh thế giới đã để lại nhiều dấu ấn khó phai mờ trên nhiều bình diện văn hóa vật chất tinh thần. Đó là những tác phẩm Đường thi rực rỡ một thời, biểu tượng huy hoàng của ngôn ngữ nhân loại đến đỉnh điểm thăng hoa. Mặc dù lịch sử đã trôi qua hàng ngàn năm, song nhiều bài thơ Đường vẫn còn làm say mê xúc động lòng người. Nhiều tứ thơ Đường đã đạt tới sự thần diệu tài hoa trong sáng tạo ngôn ngữ mà không mấy thời đại có được. 

        Thơ Đường có thể chia ra làm 4 giai đoạn: Sơ Đường (618 - 713), Thịnh Đường (713 - 766), Trung Đường (766 - 835), Vãn Đường (835 - 907). Mỗi thời kì thơ đường lại xuất hiện những nhà thơ nổi tiếng khác nhau trong đó nổi bật có các nhà thơ như Đỗ phủ, Lí Bạch, Bạch Cư Dị, Vương Duy, Mạnh Hao Nhiên, Vương Xương Linh. Mỗi nhà thơ sáng tác theo những những chủ đề và đề tài khác như : " thơ "điền viên" (Vương Duy,  Mạnh Hạo Nhiên sáng tác), thơ "tân nhạc phủ" (Bạch Cư Dị, Nguyên Chẩn sáng tác), thơ "chính nhạc phủ" đời Vãn Đường (sáng tác Bì Nhật Hưu, Đỗ Tuấn Hạc),  theo khuynh hướng hiện thực (Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị sáng tác) và thơ biên tái (Cao Thích ,Sầm Than, Vương Xương Linh, Lí Kì).

      Vương Xương Linh là nhà thơ nổi tiếng vào thời kì nhà Đường (698 – 757). Như Vậy Vương Xương Linh sống vào thời Sơ Đường và Thịnh Đường. Đó là thời xã hội Trung Quốc có nhiều biến động lịch sử xã hội đi từ cuộc sống yên bình đến loạn lạc chiến tranh nổi bật đó là loạn An – Sử. Chính bối cảnh xã hội như vậy đã in dấu không nhỏ trong thơ ông.

         Vương Xương Linh, tự Thiếu Bá, người trường An. Đời Đường Huyền Tông , năm Khai Nguyên thứ 15(727) đ ông đỗ tiến sĩ, năm Khai Nguyên thứ 22 ông đỗ đậu hoằng khoa. Năm 740, bị giáng xuống làm Giang Ninh thừa, sau đó vì những chuyện nhỏ nhặt giáng làm Long Tiêu úy. Vương Xương Linh biết cách tự an ủi, lấy thái độ đùa cợt không cung kính để khinh miệt sự bức hại của bọn thống trị. Nhưng vì điều đó bọn thống trị càng bức hại ông thâm tệ, trong loạn An - Sử, ông bị thứ sử Lư Khâu Hiển giết chết. Vương Xương Linh được người đương thời gọi là Thi thiên tử.

2.      Nội dung  

       Vương Xương Linh là nhà thơ kiệt xuất thời Thịnh Đường. Sự nghiệp thơ ca của ông chủ yếu là thơ biên tái nói lên nỗi sầu li biệt của những kẻ chiến trinh ngoài biên tái thêm vào đó là cuộc sống của người phụ nữ ở những góc độ khác nhau. Khái quát lại ông đã tả muôn hình cuộc sống trong chiến tranh với góc độ khác nhau từ cuộc sống nơi xa trường và cuộc sống nơi khuê phòng của người thiếu phụ.

     2.1. Thơ về người lính ngoài biên tái

       Đối với thơ biên tái Vương Xương Linh không tả chân thực rõ ràng cuộc sống chinh chiến và phong cảnh nơi biên tái như Sầm Than

     Trong thơ Sầm Than ông tả cuộc sống của người chinh chiến với muôn hình vạn trạng:

“Dưới trướng người nhàn rỗi

Trong quân mọi việc qua

                                   Ngồi nghe nói chuyện lạ

Nhạc lẫn tiếng phương xa”

                                    ( Phụng bồi Phong đại phu yến)

Các cuộc nhảy múa của của quân lính biên tái cũng rất yểu điệu, nhiều vẻ :

“Người đẹp nhảy múa như bông sen quay

                           Người đời có mắt nào đâu thấy?...

                           Mặt hiền cô em xinh đậm đà,

                           Dải vàng lụa mỏng lộng màu hoa

                           Quần xoay, áo chuyển, ngỡ bay tuyết,

                           Tả hữu quay cuồng cơn lốc qua”

                                      ( Điền sứ quân mĩ nhân như liên hoa bắc diễn ca)

      Ông cũng nói lên lòng uất hận của những người đi chiến đấu nhiều năm mà chẳng được hưởng chức tước gì :

                                  “Hai lần phá rợ Hồ,

                                  Triều đình coi nhẹ công.

                                  Mười nưm thân côi lẻ.

                                  Muôn dặm như cỏ bồng

                                  Bụi Hồ bạc rây tóc.

                                  Gió ải giòn áo bông.”

                                               ( Bắc đình di tông học sĩ đạo biệt)

      Lòng tưởng nhớ quê hương của người chinh chiến là tình cảm tất nhiên của các tướng sĩ, thơ Sầm Than thể hiện khá chân thành:

                                  “Quê nhà xa tít ngoái trông sang,

                                  Áo thong hai tay lệ chảy tràn.

                                  Trên ngựa gặp nhau không giấy bút,

                                   Nhờ anh nhắn hộ tớ bình an.”

                                                            (Phùng nhập kinh sứ )

        Tình cảnh đặc biệt do thời tiết ở biên ải thay đổi, nhà thơ cũng đưa vào thơ mình một cách nhạy bén :

                           “Thu về đầy bóng nhạn,

                             Hè hết tắt hơi ve,

                            Vách chiên mưa ẩm ướt,

                            Màn đông gió lạnh ghê.”

                                                     (Thủ thu Luân Đài)

       Đối với thiên nhiên trong thơ ông cũng thiên biến vạn hóa ít người thấy đó là cái nóng gay gắt của mây Hỏa Sơn, cái rét thấu xương của tuyết Thiên Sơn…

      Còn trong thơ Vương Xương Linh ông lại đi sâu khắc họa hoạt động tư tưởng tình cảm của nhân vật, đi sâu vào thế giới nội tâm của kẻ chinh chiến.

      Trước hết ông miêu tả trạng thái tâm lí của các chiến sĩ dũng cảm nghênh chiến, lạc quan phấn chấn, tinh thần hiên ngang được thể hiện rõ qua bài thơ Tòng quân hành kì 4 :

 “Thanh Hải trường vân ám tuyết san, 

Cô thành dao vọng Ngọc Môn quan. 

Hoàng sa bắc chiến xuyên kim giáp, 

 Bất phá Lâu Lan chung bất hoàn.”

(Thanh Hải dải mây dài bao phủ núi tuyết, 

Thành luỹ chơ vơ thấy xa xa là Ngọc Môn quan. 

Đánh hàng trăm trận trên sa mạc cát vàng này, mòn cả áo giáp, 

Chưa dẹp tan giặc Lâu Lan thì chưa về.)

     Bài thơ nói lên ý chí quyết tâm đánh giặc của các chiến sĩ. Mở đầu bài thơ là là cảnh thiên nhiên khắc nghiệt với cảnh Thanh Hải bao phủ là tuyết có thể thấy cuộc sống nơi biên tái vô cùng  khắc nghiệt điều này ta cũng gặp trong thơ Sầm Than đó là “Đường núi Thiên Sơn chan chứa tuyết”. Thêm vào đó không chỉ là cuộc sống thiên nhiên khắc nghiệt với tuyết bao phủ mà hơn thế là cuộc sống xa nhà xa xa là Ngọc Môn quan nơi đây cách thành Trường An đến 3600 dặm, đủ thấy rằng cuộc sống nơi biên tái không hề dễ dàng.

          Thế nhưng các chiến sĩ vẫn vô cùng lạc quan chiến đấu một cách anh dũng : “Hoàng sa bắc chiến xuyên kim giáp”

                    Đánh hàng trăm trận trên sa mạc cát vàng này, mòn cả áo giáp”.

          Có thể thấy tinh thần chiến đấu dũng cảm của các chiến sĩ, đánh trận nơi địa hình đặc biệt đó là trên cát nhưng họ đã đánh không biết nhiêu trận đến nỗi mòn cả áo giáp với một tinh thần quyết chiến theo đuổi lí tưởng của mình : “Bất phá Lâu Lan chung bất hoàn”

                                         Chưa dẹp tan giặc Lâu Lan thì chưa về.”

          Họ sống chiến đấu hiên ngang với tinh thần chưa  dẹp gian giặc Lâu Lan thì chưa về. Trong họ chất chứa một niềm lí tưởng lớn lao, giết giặc lập công trạng, trong bốn câu thơ với giọng thơ hào hùng khẳng khái nhà thơ đã khái quát lên cuộc sống cũng như tinh thần của các chiến sĩ trong chiến tranh.    

Ở một bài thơ khác cũng nói tinh thần giết giặc của các chiến sĩ:   

 “Đại mạc phong trần nhật sắc hôn, 
Hồng kỳ bán quyển xuất viên môn. 
Tiền quân dạ chiến Thao hà bắc, 
Dĩ báo sinh cầm Thổ Cốc Hồn.”

                                                           (Tòng quân hành kì 5)

(Vùng sa mạc bao la đầy gió bụi đã sẩm tối, 
Cờ đỏ cuốn lại một nửa ra khỏi doanh trại. 
Quân tiên phong đánh ban đêm chiếm được bờ phía bắc sông Thao. 
Đã báo về bắt sống được nhiều giặc Thổ Cốc Hồn.)

          Tiếp nối tư tưởng của bài thơ trên. Câu thơ mở đầu mở ra cảnh nơi chiến đấu đó là sa mạc bao la đầy gió bụi với khoảng thời gian đã là “sẩm tối” đó là khoảng thời gian các chiến sĩ có thể là sum họp bên bữa cơm gia đình nhưng các chiễn sĩ vẫn ở nơi sa mạc đầy gió bụi để tiếp tục chiến đấu. Khi có dấu hiệu chiến đấu các chiến sĩ lập tức ra khỏi doanh trại với một đôi quân tiên phong. Trong điều kiện chiên đấu như vậy họ đã chiếm được phía bắc bờ sông thao “Tiền quân dạ chiến Thao hà bắc” hơn thế nữa họ lại bắt sống được nhiều giặc Thổ Cốc Hồn.

        Với bốn câu thơ tác giả đã cụ thể hóa tinh thần chiến đấu của các chiến sĩ đó là “Chưa dẹp tan giặc Lâu Lan thì chưa về”, họ đã sống chiến đấu với tất cả nhiệt huyết của tuổi trẻ.

       Hay trong bài Xuất tái cũng thể hiện được tinh thần chiến đấu :

                     “Tần thời minh nguyệt Hán thời quan, 
                      Vạn lý trường chinh nhân vị hoàn. 
                      Đãn sử Long Thành phi tướng tại, 
                      Bất giao Hồ mã độ Âm san.”

                   (Vẫn là vầng trăng sáng của đời Tần và quan ải của đời Hán,
                     Mà người chinh chiến nơi nghìn dặm vẫn chưa trở về. 
                     Nếu như có vị phi tướng ở tại Long Thành, 
                     Thì sẽ không cho ngựa Hồ vượt qua núi Âm sơn.)

Ngay tên nhan đề bài thơ đã thể hiện tinh thần chống giặc. Xuất tái (khúc hát ra cửa ải,vào cửa ải). Tương truyền khi khúc hát này cất lên quân Hồ khóc mà bỏ đi. Người chiến sĩ chinh chiến qua bao đời vẫn một lòng hiên ngang nghênh chiến  ngoài chiến trường. Tinh thần đó được thể hiện cao nhất ở vị phi tướng (tướng nhà trời) đó là Lý Quảng -  một tướng giỏi tòng chinh lớn nhỏ đánh 70 trận, giữ vững biên cương. Nếu như có tướng thì nhất định giặc Hồ không thể vượt qua núi Âm Sơn sang xâm chiếm. Bài thơ sử dụng điển cố làm cho lời thơ thêm phần hào hùng sang sảng khẳng định tinh thần chống giặc Hồ.

    Không chỉ khắc họa tinh thần dũng cảm nghênh chiến, cuộc sống chinh chiến, thơ biên tái của Vương Xương Linh còn phần nhiều nói lên cảnh bất hạnh của các tướng sĩ trước và sau chinh chiến.

     Trong bài Tái hạ khúc nó rõ tình cảnh của chiến sĩ sau chiến trận

                 “Ẩm mã độ thu thuỷ, 
                  Thuỷ hàn phong tự đao. 
                  Bình sa nhật vị một, 
                 Ảm ảm kiến Lâm Thao. 
                Tích nhật Trường Thành chiến, 
                 Hàm ngôn ý khí cao. 
                 Hoàng trần túc kim cổ, 
                 Bạch cốt loạn bồng mao.”

                (Cho ngựa uống nước, qua dòng sông thu, 
                 Nước lạnh, gió như dao cắt. 
                Trên bãi cát phẳng, mặt trời chưa lặn, 
                 Nhìn thấy Lâm Thao mờ mịt xa xa. 
                 Ngày xưa, chiến đấu ở Trường Thành, 
                 Mọi người đều biểu lộ ý khí cao. 
                 Bụi vàng đủ hết chuyện xưa nay, 
                 Chỉ còn xương trắng lẫn lộn trong cỏ dại,)

         Ở ba cầu thơ đầu nhà thơ tả cảnh thiên nhiên hiu hắt cho ngựa uống nước qua dòng sông thu. Mùa thu trong thu trong thơ đường luôn mang 1 màu sắc ảm đạm, sầu buồn như trong thơ Đỗ Phủ và trong thơ Vương Xương Linh cũng vậy. Không chỉ thời gian mùa thu mà không gian cũng chất chứa 1 nỗi buồn đó là nước lạnh gió thổi mạnh như dao cắt, cơn gió lạnh đó như cứa vào lòng nười những nỗi đau. Bãi cát trước đây là nơi chiến đấu thì giờ đây chỉ là khung cảnh hoang tàn “Trên bãi cát phẳng, mặt trời hoang tàn”

Ở những câu thơ cuối, tác giả miêu tả tâm trạng của người chiến sĩ trên lưng ngựa trở về chiến trường cũ Lâm Thao trước đây là nơi mà  :“Quân tiên phong đánh ban đêm chiếm được bờ phía bắc sông Thao”  đã chiến đấu hiên ngang nhiệt huyết với tinh thần ý chí cao độ quyết không giết được giặc thì không trở về, nơi gió cát bụi mờ đã in dấu bao trận chiến của họ xưa nay nhưng giờ đây khung cảnh đó chỉ còn lại xương trắng, họ đã ngã xuống thầm lặng vô danh, không ai biết đến, hi sinh nhiều đến nỗi thành xương trắng lẫn trong cỏ dai. Trong thơ Lí Bạch cũng nói lên hiện trạng của các chiến sĩ đó là: 

“Xương trắng chất thành núi

  Dân đen tội tình gì?”

      Có thể nói miêu tả cảnh  vật nước lạnh, gió mạnh đã làm nền cho bức tranh thê lương sau chiến trận của các tướng sĩ. Đồng thời thông qua những câu thơ man mác buồn này, nhà thơ cũng lên án chiến tranh phi nghĩa, những người chiến sĩ chiến đấu hiên ngang với tinh thần giết giặc cao độ nhưng cái họ nhận được cũng chỉ là xương trắng lẫn trong cỏ bụi.

      Ở một bài thơ khác nhà thơ cũng nói lên tình cảnh thê thảm của người chiến sĩ ngoài biên tái sau chiến tranh :

                  “Thiền minh không tang lâm, 
                    Bát nguyệt Tiêu Quan đạo. 
                    Xuất tái phục nhập tái, 
                    Xứ xứ hoàng lô thảo. 
                   Tòng lai U Tinh khách, 
                   Giai hướng sa trường lão. 
                   Mạc học du hiệp nhi, 
                   Căng khoa tử lưu hảo”.

                                                 (Tái thượng khúc)

                    (Ve kêu trong rừng dâu đã rụng hết lá 
                    Tháng tám ở cửa ải Tiêu Quan 
                     Ra khỏi ải rồi lại vào ải 
                     Đâu dâu cũng chỉ thấy cỏ lau đã úa vàng 
                     Xưa nay những người ở U châu và Tinh châu 
                     Đều sống chết một đời ở sa trường 
                      Xin đừng học thói người hiệp sĩ du hành 
                      Khoe khoang con ngựa xích thố oai hùng của mình).

             Bài thơ cũng là bức tranh thiên nhiên và tâm trạng của nhà thơ.  Trước hết đó là một bức tranh thiên nhiên không lấy gì làm tươi tắn

                        Ve kêu trong rừng dâu đã rụng hết lá 
                        Tháng tám ở cửa ải Tiêu Quan 
                        Ra khỏi ải rồi lại vào ải 
                        Đâu đâu cũng chỉ thấy cỏ lau đã úa vàng 

            Đó là bức tranh thiên nhiên cây cối không còn sức sống rừng dâu đã rụng hết lá, đâu đâu cỏ lau đã úa vàng, Tiêu Quan trươc đây là nơi chiến đấu nhưng giờ đây cảnh vật cũng hoang tàn sơ xác. Tiếp đó là những câu thơ hiện thực những người U châu và Tinh châu đều đã chết ở nơi xa trường, chiến tranh không đem lại cho họ sự bình yên mà là cả một đời ở sa trường. Nhà thơ cũng khuyên đừng nên học theo thói người hiệp sĩ khoe khoang con xích thố, đừng xung phong đi giết giặc để nhận được cái kết cục cay đắng nơi chiến trường lạnh lẽo.

             Ngoài miêu tả tinh thần hiên ngang dũng cảm chiến đấu từ buổi ban đàu ra chiến trường cho đến tình cảnh bất hạnh của các chiến sĩ nơi chiến trường đó là bỏ mạng chôn vùi vào cỏ cây, bên cạnh đó Vương Xương Linh còn khắc họa cuộc sống của các lão tướng đã may mắn thoát khỏi lưỡi dao tử thần nhưng đó không phải là cuộc sống sung sướng mà đó là một cảnh ngộ thê lương, cô độc, khổ sở của các lão tướng khi chiến tranh kết thúc trở về. Điều này được thể hiện qua  bài thơ “Không dầu dẫn”, ‘Đại phù phong chủ nhân đáp.”

         Trong bài Đại phù phong chủ nhân đáp, tác giả đã nêu rõ cuộc sống của lão tướng sau chiến tranh :

“Sát khí ngưng bất lưu, 
Phong bi nhật thái hàn. 
Phù ai khởi tứ viễn, 
Du tử di bất hoan. 
Y nhiên túc Phù Phong, 
Cô tửu liêu tự khoan. 
Thốn tâm diệc vị lý, 
Trường giáp thuỳ năng đàn. 
Chủ nhân tựu ngã ẩm, 
Đối ngã hoàn khái thán. 
Tiện khấp sổ hàng lệ, 
Nhân ca Hành Lộ Nan. 
Thập ngũ dịch viễn địa, 
Tam tứ thảo Lâu Lan. 
Liên niên bất giải giáp, 
Tích nhật vô sở xan. 
Tướng quân hàng Hung Nô, 
Quốc sứ một Tang Càn. 
Khứ thời tam thập vạn, 
Độc tự hoàn Trường An. 
Bất tín sa trường khổ, 
Quân khán đao tiễn ban. 
Hương thân tất linh lạc, 
Trủng mộ diệt tồi tàn. 
Ngưỡng phan thanh tùng chi, 
Đỗng tuyệt thương tâm can. 
Cầm thú bi bất khứ, 
Lộ bàng thuỳ nhẫn khan. 
Hạnh phùng hưu minh đại, 
Hoàn vũ tĩnh ba lan. 
Lão mã tư phục lịch, 
Trường minh lực dĩ đàn. 
Thiếu niên hưng vận hội, 
Hà sự phát bi đoan. 
Thiên tử sơ phong thiện, 
Hiền lương loát vũ hàn. 
Tam biên tất như thử, 
Bĩ thái diệc tu quan.”

(Sát khí ngừng không trôi, 
Ngày lạnh theo gió sầu. 
Bụi nổi tràn bốn hướng, 
Du tử chạnh lòng đau. 
Phù Phong đêm ngủ đỗ, 
Tìm vui đi mua rượu. 
Con tim nào lý lẽ, 
Đao kiếm năng dùng chưa. 
Chủ nhân mời tôi uống, 
Nhìn nhau buồn thở than. 
Lệ chảy dài xuống mắt, 
Khởi ca Hành Lộ Nan. 
Mười lăm tuổi đi lính, 
Ba bốn đánh Lâu Lan. 
Bao năm không cởi giáp, 
Ngày ngày ăn uống khan. 
Tướng đã hàng Hung Nô, 
Sứ giả chết Tang Càn. 
Ba mươi vạn lính thú, 
Chỉ một về Trường An. 
Không tin chuyện chiến trường, 
Hãy nhìn sẹo đao tên. 
Thân nhân đi lưu lạc, 
Mồ mã rồi bỏ quên. 
Ngước vin cành cây tùng, 
Đớn đau nhói trong lòng. 
Cầm thú buồn trốn hết, 
Bên đường ai đứng trông. 
Nếu gặp thời tốt hơn, 
Cuộc đời không sóng nổi. 
Máng cỏ ngựa già phục, 
Lực tàn cố hí vang. 
Tuổi trẻ nhiều cơ hội, 
Cớ sao phải buồn lo. 
Nhường ngôi vua cũng sẽ, 
Chuẩn bị đi hiền tài. 
Tam biên được như thế, 
Bỉ cực rồi thái lai.)

          Những câu thơ đầu đó là cảnh an nhàn của tướng lĩnh và người hầu đêm hôm không ngủ được nhớ về cuộc sống chinh chiến “đao kiếm năng dùng chưa” trong cảnh ngộ ấy họ tìm đến rượu để nâng chén tiêu sầu cùng ôn chuyện cũ. Tác giả khắc họa những hiện thực đó là 15 tuổi đi lính với quyết tâm không giết được giặc Lâu Lan không về, cuộc sống chiến trường vô cùng khắc nghiệt ăn uống khổ cực, khi tướng đầu hàng thì đánh đổi bằng 3 vạn quân đã ngã xuống may mắn mới sống sót được một người với những vết sẹo ngang dọc. Khi đi chiến trường hi sinh cho đất nước như vậy nhưng thân nhân ở nhà cũng chẳng được yên vợ con gia đình của những người lính lưu lạc mỗi người một nơi rồi “Mồ mã rồi bỏ quên.”

        Cuối bài thơ tác giả mơ ước về một cuộc sống tốt đẹp hơn. Lời như như lời tâm sự về nỗi lòng của lão tướng bao nhiêu năm thong dong trên lưng ngựa hi sinh vì đất nước để khi về già sống trong cảnh cô đơn.

         Trong các nhà thơ biên tái như Cao Thích Sầm Than đều nói về cảnh biệt li, lòng nhớ thương quê hương của các chiến sĩ, tuy nhiên mỗi nhà thơ đều có cách thể hiện khác nhau. Đối với Vương Xương Linh ông thể hiện nỗi sầu li biệt ấy bằng ngòi bút dịu dàng, lấy cảnh vật để gửi gắm tình cảm, rất uyển chuyển, rung động lòng người:

 “Phong hoả thành tây Bách Xích lâu, 
 Hoàng hôn độc thướng hải phong thu. 
 Cánh xuy Khương địch "Quan san nguyệt", 
 Vô ná kim khuê vạn lý sầu.”

(Phong hoả đài bên thành cao trăm thước 
Buổi hoàng hôn, một mình lên lầu giữa gió biển mùa thu 
Tiếng sáo Khương lại thổi khúc "Quan san nguyệt" 
Trong chốn khuê vàng, làm sao không sầu mối sầu vạn dặm.)

      Bài thơ nói lên nỗi sầu li biệt. Khung cảnh chia tay thơ mộng đó là khói lửa thành cao trăm thước trong một chiều thu, gợi lên nỗi sầu chia cách càng thấm thía. Thêm vào đó tiếng sáo Khương lại nổi khúc quan san nguyệt đó là khúc hát tỏ nỗi lòng của người lính nhớ nhà. Tâm trạng sầu não chia ly không chỉ ở người ra đi mà cả người ở lại chốn khuê phòng cũng sầu vạn dặm. Lời thơ uyển chuyển, lấy cảnh vật để gửi gắm những tâm tình của người lính khi phải ra chiến trường.

       Ở một bài thơ khác cũng bày tỏ nỗi lòng nhớ nhà, nhớ quê hương của người chiến sĩ ngoài chiến trường :

“Tỳ bà khởi vũ hoán tân thanh, 
Tổng thị quan san cựu biệt tình. 
Liêu loạn biên sầu thính bất tận, 
Cao cao thu nguyệt chiếu Trường Thành.”

     Toàn bài toát lên 1 phong vị đượm buồn tiếng đàn tì bà nói lên nói hộ tấm lòng của người lính,  khúc đàn đó nghe đâu cũng chỉ thấy khúc biệt ly, tiếng đàn chính là tiếng sầu trong thời cuộc chiến tranh náo loạn, tiếng đàn nơi duy nhất để người lính có thể gửi chút tâm sự nhớ nhà, như một vật tri kỉ có thể bầu bạn trong đêm thu vòi vọi. Bài thơ nhẹ nhàng như chính tiếng hát cất lên từ nỗi lòng của người lính khi ở chiến trường.

     Đó là toàn bộ tình cảm tâm trạng nỗi niềm của người lính nơi chiến trường. Chiến tranh đã gây nên bao sự xa cách và đau khổ không chỉ đối với chiến sĩ ngoài biên ải mà cả những người vợ chốn khuê phòng. Đó là lời oán thán của họ về chiến tranh khiến cho đôi lứa chia lìa:

               “Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu, 
Xuân nhật ngưng trang thướng thuý lâu. 
Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc, 
Hối giao phu tế mịch phong hầu.”

(Khuê oán)

               (Người thiếu phụ nơi phòng khuê không biết buồn, 
Ngày xuân trang điểm đẹp đẽ bước lên lầu biếc. 
Chợt thấy màu dương liễu tốt tươi ở đầu đường, 
Bỗng hối hận đã để chồng đi tòng quân để kiếm phong hầu.)

 

             Nội dung chính của bài thơ nói về nỗi oán hận của người con gái nơi khuê phòng thể hiện ngay ở nhan đề bài thơ “khuê oán”.

“Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu, 
Xuân nhật ngưng trang thướng thuý lâu.” 

           Mở đầu bài thơ là hình ảnh thiếu phụ (tức người phụ nữ có chồng nhưng còn trẻ). Có thể thấy người phụ nữ ấy còn trẻ và không biết buồn, vẫn rất hồn nhiên vui vẻ. Thể hiện ngay ở hành động ngưng trang ( trang điểm đẹp) trong ngày “xuân nhật” và “thướng thúy lâu” tức trèo lên lầu đẹp. Một hành động cũng góp phần nói lên sự hồn nhiên vô tư của người thiếu phụ khi lên lầu ngắm cảnh đẹp ngày xuân.

       Hai câu thơ sau là sự chuyển đổi cảm xúc một cách kì diệu :

“Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc, 
Hối giao phu tế mịch phong hầu.”

         Từ “hốt” đánh dấu sự biến đổi hoàn toàn trong cấu tứ bài thơ. Nó tạo nên sự chuyển đổi đầy tinh vi trong cảm xúc. Ở đây chú ý đến hình ảnh “cây dương liễu” một hình ảnh ước lệ trong thơ ca truyền thống, liễu trượng trưng cho sự chia lìa ly biệt, khi hai người xa nhau họ sẽ bẻ cảnh liễu trao tay nhau. Vậy là khi người thiếu thụ nhìn thấy sắc dương liễu – một hình ảnh đầy vô tình trong cái sự trang điểm lộng lẫy, ngắm cảnh xuân của một trái tim vô tư, nhưng nó chứa đựng một sự xót xa đang ngập đầy trái tim người thiếu phụ trẻ.

          Lẽ thường “Vắng chàng điểm phấn trang hồng với ai”. Nhưng người thiếu phụ trẻ tuổi ở đây trang điểm rất lộng lẫy, càng lộng lẫy càng xinh đẹp thì càng làm nỗi xót xa cay đắng tăng lên gấp bội. Bởi đẹp có làm gì đâu, đẹp cũng không ai ngắm. Và càng đau xót hơn nữa khi nhận thấy nếu như chàng đi mãi không về thì cái tuổi trẻ sắc đẹp của nàng sẽ phôi pha dần theo năm tháng. Nàng đang đứng trong mùa xuân hơn ai hết hiểu rõ cái sự tuần hoàn ấy của đất trời, và nàng thật sự cảm thấy thật sự hối hận :

“Hối giao phu tế mịch phong hầu”

            Ngày xưa người phụ nữ xem người chồng đi chinh chiến và tìm kiếm công danh là chuyện thường tình. Nhưng người phụ trẻ này thì khác, nàng nhận ra cái vô nghĩa của con đường tìm kiếm công danh ấy. Trong hàng triệu người ra đi thì có bao nhiêu người đem được công tước quay trở về, hay đa số mất xác nơi còn cỏ, hoang mạc gió bụi trong các cuộc chiến tranh mở rộng bờ cõi phi nghĩa, để lại nỗi nhọc nhằn cô đơn mỏi mòn của những người thân của người thân nơi làng quê từng giây từng phút mong ngóng. Nàng ý thưc rõ chiến tranh là nguyên nhân gây đau khổ, chết chóc và giết chết tuổi thanh xuân của nàng trong thầm lặng. Bài thơ với thể thất ngôn tứ tuyệt, thể hiện cảm xúc tinh vi khéo léo bằng nghệ thuật tương phản nói lên nỗi sầu của người thiếu phụ và đồng thời phê phán cuộc chiến tranh phi nghĩa gieo đau thương cho dân chúng.

3.     Kết luận

    Thơ về chiến tranh trong thơ Vương Xương Linh mang nhiều màu sắc đã diễn tả được nhiều sắc thái tâm trạng của cả người lính và người thiếu phụ. Ông cùng nhiều nhà thơ khác trong mảng thơ về đề tài biên tái đã khắc họa chân thực nhiều mặt của cuộc sống chiến tranh. Trang thơ của ông về chiến tranh đã góp phần làm phong phú thêm cho thơ ca đời Đường.

 T. J. Logan Jersey