TIẾNG KHÓC VÀ NƯỚC MẮT TRONG THƠ ĐỖ PHỦ

Hà Thị Nụ - K55 ĐHSP Ngữ Văn

Khoa Ngữ Văn - Đại học Tây Bắc

 

"Văn chương bất chấp hết. Ngập trong bùn, sục tung lên, thoát thành bướm và hoa đó là chí thánh"

(Nguyễn Huy Thiệp)

 

         Đỗ Phủ (712 – 770) là nhà thơ hiện thực vĩ đại nhất Trung Quốc. Những sáng tác của Đỗ Phủ đã đưa thơ ca cổ điển Trung Quốc vào một giai đoạn mới. Cống hiến vĩ đại nhất của ông là làm cho thơ ca cổ điển Trung Quốc đi sâu vào nhân dân, vào cuộc sống hiện thực mà từ trước tới nay chưa hề có. Ông đưa nhiều chủ đề quan trọng giàu ý nghĩa xã hội vào lĩnh vực thơ ca, làm cho tính chính trị và tính nghệ thuật thống nhất cao độ và hoàn mĩ. Đỗ Phủ là một nhà thơ hiện thực vĩ đại, thơ ông phản ánh phản ánh một cách chân thực cảnh tượng xã hội trong quá trình từ cực thịnh đến suy vong của xã hội phong kiến đời Đường. Cho nên thơ ông được coi là thi sử. Xã hội đời Đường hiện lên trong thơ Tử Mĩ không chỉ có chiều rộng mà còn cả chiều sâu. Chính điều đó đã đưa Đỗ Phủ lên đỉnh cao của thơ ca hiện thực. Ông đã chọn nhân dân làm đối tượng mô tả trung tâm của mình, đã tự xếp mình trong đội ngũ nhân dân, dù ông có ra làm quan và đã chọn đời thơ của mình gắn bó xương thịt với nhân dân mình. Cả cuộc đời của Đỗ Phủ hầu hết sống trong buồn thương, đau khổ. Vì những buồn thương, đau khổ đó đã liên quan chặt chẽ đến thời đại của thơ ông. Đọc thơ Đỗ Phủ, người đọc ít khi thấy không khí náo nhiệt, vui tươi, hay tiếng cười trong veo sảng khoái mà thường bị nhấn chìm trong không khí u uất bởi tiếng khóc và nước mắt trong thơ của một con người “tiên ưu hậu lạc”, một nhà thơ dùng ngòi bút của mình để nói về nỗi khổ của nhân dân với niềm thương cảm, xót xa.

          Đỗ Phủ là con người rất mực yêu mến nhân dân, đồng tình với nhân dân. Ông không những nhìn thấy mà còn cùng nhân dân nếm trải cảnh loạn lạc, đói rét. Men theo năm tháng của các bài thơ chúng ta có thể thấy được thơ Đỗ Phủ thấm đẫm tiếng khóc và nước mắt của nhân dân trong thời buổi loạn li, thấy được những nét chính của xã hội đời Đường trước và sau loạn An – Sử. Đỗ Phủ - nhà thơ lớn của nhân dân - đã cùng nhịp thở với hàng triệu người lao động, đứng ở vị trí của những nạn nhân nói lên nỗi niềm uất ức không thể kìm nén.

          Nói về tiếng khóc và nước mắt trong thơ Đỗ Phủ, chúng ta cần quan tâm tới hoàn cảnh sống, môi trường sống thật đáng thương của Đỗ Phủ trong hoàn cảnh đất nước loạn li, cuộc sống đói rét khổ cực của nhân dân cũng như gia đình của Đỗ Phủ. Cuộc sống nghèo khổ, đói rét đã khiến cho mọi vật trở nên thiếu thốn, cùng đường, ngay cả chiếc áo mặc cũng khó khăn đối với cả nhà thơ:

                        Áo ngắn kéo dài không phủ cẳng

          Khi Đỗ Phủ về thăm nhà thì những vần thơ thể hiện rõ tiếng khóc và nước mắt của ông về cảnh tượng đói rét, thiếu thốn, đứa con phải ra đi: “Vào cửa nghe kêu gào/ Con thơ đói vừa mất”. Đấy là đứa con đã mất. Vậy đứa còn sống thì sao? Nó đói quá cứ nhè ông mà cắn như có thể ăn được để cứu đói cho mình: “Gái đói nhè ta cắn”. Đỗ Phủ vô cùng đau xót cái trách nhiệm làm cha của mình: “Làm cha chẳng đáng cha/ Không cơm bỏ trẻ thác”. Bản thân gia đình ông đói đén mức “Ba năm đói chạy vào trong núi” để hy vọng tìm thấy cái ăn từ cây cỏ trong rừng. Từ sự đói rách của bản thân và gia đình, nhà thơ đau lòng trước nỗi đau của hàng triệu người khác, một nỗi đau vừa ở góc độ cá thể hóa vừa ở tầm phổ quát. Những năm tháng đói rét khổ cực ấy càng làm cho Đỗ Phủ thấy rõ bộ mặt thật của giai cấp thống trị đối với nhân dân cũng như gia đình ông. Nỗi đau nghèo đói, bệnh tật, sự thống khổ bởi loạn lạc, ly tán, chiến tranh chết chóc luôn đeo bám nhà thơ cho đến tận cuối đời. Những trải nghiệm về sự thống khổ của đời người và người đời đã khiến cho trái tim nhà thơ thổn thức khôn nguôi, khiến nước mắt nhà thơ ướt đầm khăn áo. Thơ Đỗ Phủ phần lớn nói về nỗi đau buồn, hiếm thấy hoan ca, hồn nhiên. Hoàn cảnh thời đại và trải nghiệm cảnh ngộ bản thân nhà thơ có quan hệ máu thịt. Là con người mẫn cảm với thực tế và nỗi đau con người, Đỗ Phủ đã sáng tác những tác phẩm thấm đẫm tinh thần yêu nước, thương dân.

          Tiếng khóc và nước mắt còn nhỏ xuống và thấm đẫm trang trong thơ Đỗ Phủ trước nỗi đau  khổ của nhân dân bị áp bức, bóc lột và chiến tranh. Có thể nói, chiến tranh là cơn biến loạn đẩy nhân dân vào cảnh màn trời chiếu đất, lang thang phiêu bạt, con người đối mặt với nỗi đau vô hạn “sinh li tử biêt”. Loạn An – Sử đã gây nên thảm trạng “bóng người vắng ngắt, nghìn dặm tiêu điều”. Thảm cảnh xã hội thời loạn và số phận nhân dân trong chiến tranh được phản ánh rõ nét trong thơ Đỗ Phủ. Từ nhiều phương diện, nhà thơ đã miêu tả cho chúng ta thấy thời đại đầy máu và nước mắt của nhân dân đó là cảnh:

Dọc đường chỉ nghe khóc

Thành thị vắng tiếng ca

                                          (Chinh phu)

Thây chết tanh cây cỏ

Máu trôi đỏ lạch đồng

                                           (Thùy lão biệt)

          Những tiếng khóc thê thảm của người dân khi bị đói khát, bóc lột, bị bắt đi chiến đấu, người thân bị bắt ra trận… chỉ có cái chết bủa vây, đeo bám họ. Chứng kiến cảnh người dân phải chịu nỗi đau sinh li tử biệt, nhà thơ không kìm được nước mắt. Trong Binh xa hành, ông đã nghẹn ngào viết:

Xa lân lân

Mã tiêu tiêu

Hành nhân cung tiễn các tại yêu

Gia nương  thê tử tẩu tương tống

Trần ai biết kiến Hàm Dương kiều

Khiên y đốn túc lan đạo khốc

Khốc thanh trực tượng con vân tiêu

Dịch : 

Xe dầm dầm

Ngựa hí vang

Người đi cung tên đeo bên lưng

Cha mẹ vợ con chạy theo tiễn

Bụi mù chẳn thấy cầu Hàm Dương

Níu áo giậm chân chặn đường khóc

Tiếng khóc xông lên thẳng chín tầng

          Những hình ảnh: xe rầm rầm, bụi mù, níu áo giậm chân,… đã tái hiện cảnh tiễn đưa những người lính ra trận. Nhưng sự thật ẩn chứa đằng sau nó còn phũ phàng và lên án biết bao nhiêu. Rõ ràng đây không phải là buổi tiễn đưa những người lính ra trận, nó không mang không khí trang trọng, người đi người ở không có cảm giác tự hào mà đây là cuộc thúc quân, một cuộc dồn lính, một hành động cưỡng bức trắng trợn. Dưới ngòi bút tài hoa của Đỗ Phủ hiện thực đầy tiếng khóc và nước mắt được miêu tả một cách cụ thể. Tiếng xe pháo, tiếng ngựa hí không làm sao át nổi tiếng khóc của người nông dân, tiếng khóc vang đến tận trời cao.

          Đỗ Phủ trải lòng mình với nỗi đau của con người trong xã hội đen tối và thời đại chiến loạn. Vì vậy thơ ca của ông đã tập trung miêu tả chính xác nỗi đau của những người nông dân nghèo khổ bị áp bức. Đỗ Phủ đã phê phán cuộc sống xa hoa, hủ bại của giai cấp thống trị, chia sẻ nỗi đau với người dân, thể hiện sự lo lắng đến vận mệnh quốc gia, dân tộc. Tiếng khóc và nước mắt trong thơ Đỗ Phủ thể hiện rõ nhất ở chủ đề miêu tả về chiến tranh trong thời đất nước loạn lạc, chia li. Hậu quả nặng nề nhất của chiến tranh đó chính là chết chóc. Cái chết được hiện hình bởi những tiếng khóc than của ma mới và ma cũ trong không khí ảm đạm, thê lương nơi chiến địa:

Quân bất kiến Thanh Hải đầu

Cổ lai bạch cốt vô nhân thâu

Tân quỷ phiền oan cựu quỷ khốc

Thiên âm vũ thấp thanh thu thu

Dịch thơ:

Há chẳng thấy miền Thanh Hải kia sao?

Xưa nay xương trắng ai nhặt đâu

Ma mới kêu oan ma cũ khóc

Trời âm mưa thấm tiếng hu hu!

          Đỗ Phủ không những tố cáo chiến tranh loạn lạc mà còn tố cáo áp bức bóc lột về kinh tế của giai cấp thống trị.

Nghèo đến xương còn lo thuế khóa

Lệ đầm khăn những tủi can qua

                                                          (Hựu trình Ngô Lang )

          Đỗ Phủ đã từng trải nghiệm nỗi đau khổ cùng cực của nhân dân, ông không còn đủ sức khóc nữa, đành lặng lẽ nuốt nước mắt rỉ máu vào trong.

Nằm đói cứ thế mười ngày rồi

Mặc tồi mà vẫn trăm mảnh thịt

Há chẳng thấy tường trơ chiều trắng xóa

Không tiếng già này khóc rỏ huyết

                               (Gửi đến các ngài ở hai huyện Hàm Dương và Hoa Nguyên)

          Những tiếng khóc và những giọt nước mắt khổ đau của người dân muôn nơi trên đất nước Trung Quốc rộng lớn cũng như tiếng khóc và nước mắt của nhà thơ ngày đem tuôn chảy vì chiến tranh và áp bức bóc lột, hôm nay ở thôn Thạch  Hào là tiếng khóc “ấm ức”, ngày mai ở Đồng Quan là tiếng khóc thống thiết vì hàng vạn chiến binh biến thành cá, ngày kia ở huyện Tân An là “Tiếng khóc vang non xanh”, gia đình này là hành động gạt lệ của cô dâu vừa về nhà chồng chống gậy ra chiến trường (Thùy lão biệt) và nỗi đau khôn cùng của người lính cô đơn, trải qua chiến tranh thoát chết trở về làng chỉ thấy đổ nát, tiêu điều, chẳng còn đến một người thân mà vẫn phải chia tay (Vô gia biệt) …. Đỗ Phủ dù có trung quân ái quốc nhưng đối mặt với hiện thực quá tàn khốc ông vẫn sẵn sàng đứng vể phía nhân dân. Ông không chỉ khóc cho sự thống khổ của nhân dân mà còn tố cáo sự vô cảm, nhẫn tâm của những viên quan lại đại diện cho triều đình nhà Đường gây nên thảm cảnh này:

Dẫu cho khóc thấu xương

Trời đất vẫn vô tình

                                            (Tân An lại)

Tiếng khóc và nước mắt trong thơ Đỗ Phủ thể hiện trái tim yêu thương và một tâm hồn cao thượng của một “thánh thi”.  Đỗ Phủ không chỉ cảm nhận sâu sắc nỗi đau của con người vì bị áp bức , bóc lột,  bị đẩy vào chiến tranh loạn lạc mà là ông đã vượt lên nỗi đau của bản thân đến với nỗi đau của đời. Tình cảm của ông không chỉ rộng lớn và sâu sắc mà còn hết sức tiến bộ và cao thượng. Cuộc đời của Đỗ Phủ luôn bị khổ sở vì cảnh binh đao, loạn lạc, bôn tẩu vì cơm áo, bệnh tật dày vò, nên thơ ca của ông trước hết là những rung động sâu sắc vì những trải nghiệm đắng cay. Đáng trân trọng hơn là ông đã vượt lên nỗi thống khổ của bản thân để đến với nỗi đau của đời. Trái tim đau thương, rỉ máu của ông luôn suy nghĩ vì quốc gia và nhân dân. Bài thơ Tự kinh phó Phụng Tiên huyện vịnh hoài ngũ bách tự là những điều “Trải qua một cuộc bể dâu/ Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”. Sau bao năm tháng lận đận trụ lại ở kinh đô Trường An mong kiếm một chức quan nhỏ làm rạng danh truyền thống gia đình “phụng Nho thủ quan”, ông về thăm gia đình ở Phụng Tiên, nhà thơ đã tận mắt chứng kiến nỗi đau khổ cùng cực của người dân và cảnh ăn chơi xa đọa của bọn quý tộc, vừa về đến nhà đã nghe thấy tiếng khóc thì mới biết con trai của ông vừa chết vì bị đói. Vượt lên nỗi lòng và trách nhiệm của người làm cha xót thương con trai, ông mở lòng đến với nỗi đau của dân chúng bằng cả trách nhiệm của một người làm quan được miễn sưu thuế, miễn đi phu, đi lính mà còn bị khốn khổ như vậy thì dân thường khốn khổ đến mức không còn đường sống:

Việc sưu thuế một thời được rảnh

Tên đi phu, đi lính cũng không

Vậy mà còn chịu khốn cùng

Dân thường chả trách long đong trăm đường

          Cuộc đời đẫm nước mắt của nhà thơ không chỉ vì nỗi đau của bản thân ông và nhân dân mà còn có cả những giọt nước mắt của niềm vui cho dù rất hiếm hoi nhưng cũng rất đáng được trân trọng. Đó là tiếng reo vui từ tấc lòng của ông già đối với quê hương được giải phóng, chấm dứt chiến tranh là khát vọng một cuộc sống thanh bình. Niềm vui của ông bột phát mạnh mẽ đến mức đầm đìa nước mắt. Giọt nước mắt của ông không chỉ là giọt nước mắt của nỗi đau mà là những giọt nước mắt của niềm vui:

Kiếm ngoại hốt truyền thu kế Bắc

Sơ văn thế lệ mãn y thường

Khước khan thê tử sầu hã tại

Mạn quyển thi thư hỉ dục cuồng

Dịch thơ:

Ngoài kiếm bỗng truyền thu kế Bắc

Thoạt nghe nước mắt ứa hai hàng

Vợ con đau khổ hồn vui vẻ

Sách vở mừng điên gấp vội vàng

                                                (Văn quan quân thu phục Hà Nam, Hà Bắc)

          Đỗ Phủ không chỉ chia sẻ nỗi đau và niềm hạnh phúc với những người dân lao động nghèo khổ mà ông còn có những hoài bão cao cả, những ước mơ mãnh liệt về cuộc sống hòa bình, tự do và hạnh phúc cho mọi người.

Mao ốc vi thu phong sở phá ca điển hình cho hoài bão và tình thương này. Nhà bị gió thu thổi lốc mái cả nhà đang phải chống chọi với ướt và rét nhưng nhà thơ vẫn có ước mơ thật nhân bản và cao cả:

An đắc quảng hạ thiên vạn gian

Đại tý thiên hạ hàn sĩ câu hoan nhan

(Sao được nhà rộng ngàn vạn gian

Để che cho kẻ sĩ nghèo trong thiên hạ, mặt ai cũng được tươi vui).

Cho dù những ước mơ ở đây có phần ảo tưởng, song không thể không thấy đó là những phản ứng đối với xã hội đen tối, là khát vọng cháy bỏng, tình cảm đối với nhân dân,khát vọng một xã hội không có chiến tranh, con người được bình đẳng, tự do, không có cảnh áp bức bóc lột người. Điều này làm cho thơ Đỗ Phủ mặc dù tiếng khóc và nước mắt  trong thơ ông là bi kịch, là nỗi buồn, là máu song biểu hiện của cảnh vẫn đậm chất hồn hậu và nhân văn. Có thể nói tiếng khóc và nước mắt trong thơ Đỗ Phủ là sự hiện diện độc đáo về nội dung sáng tác của ông luôn hướng về nhân dân lao động nghèo khổ, cùng trải nghiệm với nhân dân, lên án tố cáo xã hội phong kiến đã chà đạp, bóc lột nhân  dân. Để có được thành công về nội dung sáng tác đó, thể hiện rõ nội dung tiếng khóc và nước mắt trong thơ ông ta phải kể đến phương diện nghệ thuật. Trong thơ ông có sự kế thừa và phát triển truyền thống của văn học Trung quốc từ kinh thi trở đi nên đã đạt được mức độ chưa từng thấy. Thơ ông chan chứa không khí cuộc sống hiện thực mãnh liệt, ngòi bút của ông khách quan, thận trọng. Thơ ông phản ánh một cách trung thực tình hình xã hội và không khí lịch sử đương thời để thể hiện rõ tấm long, tiếng khóc và nước mắt của ông trước hiện thực của cuộc sống ở Trung Quốc trong thời buổi loạn lạc. Tính hiện thực là đặc sắc chủ yếu trong những sáng tác của ông để nói lên tất cả những sự thật của cuộc sống bawbgf chính nước mắt và tiếng khóc của mình.  Thơ của ông không vui tươi, náo nhiệt như thơ của những nhà thơ khác mà là thâm trầm, cô đọng hay chính như ông đã nói “trầm uất”. Ngôn ngữ thơ ca của ông tinh xảo, công phu, thích đáng, mạnh mẽ mà có cái thần diệu, bất ngờ. Đọc thơ ông ta ít khi thấy có cảm giác bằng phẳng, lỏng lẻo, dễ dãi mà trong âm điệu du dương ta thấy lời hay, ý nhiều, không có nét bút nào thừa, chính vì Đỗ Phủ sống cùng nhân dân, trải nghiệm cùng nhân dân nên những sáng tác của mình ông rất tài tình trong việc sử dụng nững khẩu ngữ dân gian và phương ngôn ngạn ngữ. Ông đưa vào một số chữ gọi là “quê mùa” như: “ngột” có nghĩa là ăn, “xú” có nghĩa là thối,… qua sự gọt giũa của ông chúng càng làm cho thơ của ông trở nên sinh động, trong sáng, trôi chảy như người xưa thưởng ngợi ca “dùng chữ tục mà lại thấy đẹp”.

 

         Đỗ Phủ - “người thư kí trung thành của thời đại”, nhà thơ hiện thực xuất sắc nhất đã viết nên những vần thơ để phản ánh chân thực diện mạo đất nước và con người Trung Hoa đương thời. Đỗ Phủ là “nhà thơ dân đen” (Phan Ngọc), là người đứng về phía nhân dân cùng khổ để cất lên tiếng thơ ai oán, xót thương, nghẹn ngào với nỗi thế nhân vang động thiên địa và dư ba đến muôn đời sau và những vần thơ của Đỗ Phủ vươn xa qua khỏi bờ cõi của Vạn lí trường thành để cất lên tiếng nói phản đối chiến tranh, tha thiết và quyết liệt đấu tranh cho một thế giới hòa bình, thế giới không còn chiến tranh. Có thể nói tiếng khóc và nước mắt trong thơ Đỗ Phủ là một trong những tín hiệu nghệ thuật độc đáo trong thế giới nghệ thuật thơ của ông, nó trở đi trở lại như nỗi niềm khắc khoải, như nỗi đau chất chồng, như bị kịch bất tận. Có thể nói, thế giới thơ Đỗ Phủ có cả một dòng sông nước mắt được gom góp từ nước mắt nhân dân lao động và nước mắt của chính nhà thơ. Văn chương Đỗ Phủ không có vẻ đẹp lãng mạn, thần tiên như văn chương Lí Bạch mà lấm láp nỗi cơ cực dân chúng. Nếu Lí Bạch muốn thoát li cuộc sống hiện thực thì Đỗ Phủ nguyện một lòng đứng trên mặt đất, tư tưởng cắm rễ sâu trên mảnh đất cuộc đời. Thơ ca là lãnh địa của cái ĐẸP, và cái đẹp trong thơ Đỗ Phủ được thoát thai và chưng cất từ máu và nước mắt của nhân dân đúng như nhà nghiên cứu phê bình Tiêu Điều Phi đã nhận xét: Máu và nước mắt nhân dân Trung Quốc tưới đẫm vườn Đỗ Phủ. Có lẽ quan niệm về văn chương của Nguyễn Huy Thiệp trong Giọt máu đúng với trường hợp Đỗ Phủ: “Văn chương bất chấp hết. Ngập trong bùn, sục tung lên, thoát thành bướm và hoa đấy là chí thánh”.

 T. J. Logan Jersey