NGHỆ THUẬT SỬ DỤNG ĐIỂN CỐ TRONG THƠ CHỮ HÁN CỦA NGUYỄN BẢO

 

ThS. Nguyễn Diệu Huyền – Khoa Ngữ văn

 

1. Nguyễn Bảo 阮 保 (1439 – 1503) hiệu là Châu Khê 珠 溪, quê xã Phương Lai 芳 萊 (hay còn gọi là Tri Lai), huyện Vũ Tiên 武 仙 (nay là thôn Phú Lạc, xã Phú Xuân, thành phố Thái Bình), tỉnh Thái Bình. Ông sống ở thế kỷ XV, đời Lê Thánh Tông và Lê Hiến Tông. Thơ chữ Hán của Nguyễn Bảo được ghi chép tập trung trong Toàn Việt thi lục 全 越 詩 錄 của Lê Quý Đôn. Thơ của ông thể hiện những đặc điểm chung của nghệ thuật văn học trung đại Việt Nam: Thứ nhất, có tính quy phạm và bất quy phạm; Thứ hai, có tính tranh nhã và bình dị; Thứ ba, có yếu tố Hán, văn hóa Hán. Trong đó, với những hình ảnh trong thơ được lấy sử sách, lắm điển tích, điển cố hay có trong văn học Trung Hoa là một trong những đặc trưng được ông thể hiện rất đặc sắc trong các bài thơ chữ Hán.

2. Điển cố là một trong những biện pháp tu từ được sử dụng nhiều trong các tác phẩm thơ văn trung đại nhằm giúp cho những câu thơ, câu văn cô đọng, hàm súc, ý nhị và sâu sắc hơn. Nguyễn Bảo là người đỗ đạt và ra làm quan cho nên ông là người rất thông thuộc các tác phẩm thi phú, kinh, sử, truyện… trong kho tàng thư tịch cổ. Việc vận dụng kiến thức về điển cố trong thơ không chỉ thể hiện học vấn uyên thâm của Nguyễn Bảo mà còn thể hiện những thành công về giá trị nghệ thuật. Đây cũng là những đặc trưng về nghệ thuật của văn học trung đại Việt Nam. Trong đó, Nguyễn Bảo thường sử dụng những điển cố sử địa, hiện thực và những điển cố truyền thuyết văn chương, tư tịch để thể hiện những tâm tư, tình cảm quan điểm và ý thức trách nhiệm của bản thân đối với quê hương đất nước. Đó là những điển cố về Khổng, Tăng, Nhan… để nói về đạo Nho với những triết lý uyên thâm, những bài học đạo đức làm người; chiết quế, đan quế là những hình ảnh hoán dụ để thể hiện việc học hành thi đỗ; nói đến lê, hoắc, thuần, lô… để chỉ cuộc sống thanh bần giản dị nhưng giữ tấm lòng trung; đào lý, quan cái… để chỉ những người tài giỏi, có địa vị; Lạc Dương, Trường An để chỉ đến kinh đô, cảnh trí đẹp; nói đến tang bồng, tứ hải là nói đến chí khí làm trai; Bàn Thái để nói đến sự vững bền; tang tử, phần du, cao đường, bạch vân… để chỉ tấm lòng hiếu thảo…

Chẳng hạn, trong bài: Phú Hoàng Giang phong thổ thị môn sinh có câu: “Cựu đức Đồng Thái học, Thiềm cung chiết quế hồi”. Điển Chiết quế: bẻ cành quế”. Theo Tấn thư, Khích Sằn tâu vua rằng: “Thần cử hiền lương đối sách đệ nhất, do quế lâm chi thất chi, Côn Sơn chi phiến ngọc” (Tôi đỗ đầu vì bài đối sách khoa hiền lương, cũng như một cành quế ở rừng quế, một phiến ngọc ở núi Côn Sơn). Bạch Cư Dị có câu thơ: “Chiết quế danh tàm Khích” (Bẻ cành quế thẹn với họ Khích). Từ đó, bẻ quế dùng để nói việc thi đỗ. Hay trong câu: “Thiên thượng Hằng Nga ái thiểu niên, Nguyệt trung đan quế y cựu tài”. Điển Đan quế: cây quế đỏ. Theo Dậu dương tạp trở, trên mặt trăng có cây quế đỏ, cao năm trượng. Do đó cung đan quế, cung quế là gọi mặt trăng. Hoặc chỉ người có tài, người đỗ đạt cao. 

Khi thể hiện tâm tư tình cảm trong những bài thơ tiễn sứ, thơ tống biệt, như trong bài Tiễn Hiệu thư Đàm công phụng Bắc sứ có những câu: Dịch mai bất kham chiết, Phức uất tiêu lan hương, Huyền hồ toại tứ phương, Khán vân tư chuyển trường, Tảo vãn úy cao đường. Trong đó, Dịch mai: cây mai trên đường trạm, nói việc tặng tiễn nhớ nhung khi phải xa nhau; Tiêu, lan: tên hai loại cỏ thơm, để nói phẩm chất trong sạch, cao quý; Huyền hồ: treo cung. Theo tục xưa, sinh con trai thì làm cung bằng gỗ dâu và tên bằng cỏ bồng treo lên để tượng trưng cho chí khí bốn phương của người con trai ấy; Khán vân: xem mây. Xưa, Địch Nhân Kiệt xa nhà, xem mây trắng bay trên núi Thái Hoàng chạnh lòng nhớ cha mẹ và quê hương. Ở đây là nói về tình cảm nhớ nước, nhớ nhà khi đi sứ; Cao đường: ngôi nhà cao, chỉ chỗ cha mẹ ở. Ở đây chỉ cha mẹ. Thông qua những điển cố đó ta có thể cảm nhận sâu sắc hơn những tâm tư tình cảm gửi gắm trong thơ của Nguyễn Bảo.

Khi miêu tả những cảnh đẹp của thiên nhiên hùng vĩ, hoặc ca ngợi công đức vững bền của triều đại, ta thấy những hình ảnh mang màu sắc tượng trưng như trong bài Phụng canh ngự chế Đề Dục Thúy sơn có những câu: Hoàng tản cao lâm thúy nghiễn đoan, Vạn niên Bàn Thái điện dân an, Phiên nhiên vân dực cửu tiêu đoàn. Trong đó, Điển Hoàng tản: chiếc lá vàng, chỉ nghi trượng của nhà vua khi tuần du; Thái Sơn bàn thạch: tảng đá của núi Thái Sơn. Ý thơ nói cơ đồ vững chãi, đời sống ổn định; Vân dực: cánh mây, chỉ cánh chim đại bàng, bay lên chín tầng mây xanh. 

3. Điển cố được sử dụng rất nhiều trong thơ Nguyễn Bảo. Những điển cố thường làm sống lại lịch sử. Chúng thay thế cho những trường hợp cụ thể, tình cảm cụ thể. Xét về một khía cạnh nào đó, điển cố là những lời văn vẻ, kiểu cách nhưng nhờ vậy mà giúp cho lời thơ cao quý, tao nhã và sang trọng hơn. Đó cũng là cách để khoe chữ nhằm thể hiện sự thông thái, nho nhã. Những điển cố có khi chỉ có vài từ nhưng ẩn trong hình thức cô đọng ấy là cả một thế giới hình tượng, những bài học về phẩm chất đạo đức, những triết lý nhân sinh sâu sắc, những kinh nghiệm quý báu trong cuộc sống mà tác giả mượn lời của người xưa để gửi gắm suy nghĩ của mình. Đồng thời, qua việc tìm hiểu những điển cố đó chúng ta sẽ có cơ hội để nhận định và hiểu thêm về tư tưởng tình cảm cũng như tài năng của Nguyễn Bảo.  

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đoàn Ánh Loan (2003), Điển cố và nghệ thuật sử dụng điển cố, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

2. Nguyễn Đăng Na (2005), Giáo trình văn học Việt Nam trung đại, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội.

3. Bùi Văn Nguyên (1978), Lịch sử văn học Việt Nam, tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

4. Nguyễn Khắc Phi (2001), Mối quan hệ giữa văn học Việt Nam và văn học Trung Quốc, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

5. Đặng Đức Siêu, Nguyễn Ngọc San (1987 - 1988), Ngữ văn Hán Nôm, tập 1, 2, 3, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 

6. Trần Đình Sử (1999), Mấy vấn đề thi pháp văn học Việt Nam trung đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

7. Trần Đình Sử (2005), Thi pháp văn học trung đại Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

8. Bùi Duy Tân (1991), Nguyễn Bảo nhà thơ – Danh nhân văn hóa, Nxb Văn hóa, Sở Văn hóa Thông tin Thái Bình.

9. Lê Trí Viễn (1996), Đặc trưng văn học Việt Nam trung đại, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.

10. 全 越 詩 錄, A.3200/1-4, A.1262, A.132/1-4, VHv.117/1-2, VHv.777/1-2, VHv.1450/1-2, VHv.116, A.1334, A.393, A.2743, Viện nghiên cứu Hán Nôm.

 

 

 

 T. J. Logan Jersey