NGHIÊN CỨU NHÓM TRUYỆN KỂ VỀ SỰ TÍCH PHONG VẬT VÙNG VĂN HÓA TÂY BẮC, VIỆT NAM (Khảo sát truyện dân tộc Hmông, Thái, Dao) (2)

PGS. TS. Phạm Thu Yến

Khoa Ngữ Văn - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

 

Tiếp cận đề tài từ lý thuyết địa – văn hóa và văn hóa tộc người trong một vùng văn hóa, người nghiên cứu sẽ thấy nhóm truyện kể về sự tích phong vật ở vùng văn hóa Tây Bắc thật sự hấp dẫn, đáng trở thành đối tượng nghiên cứu riêng biệt vì số lượng khá phong phú, nội dung độc đáo mang giá trị giáo dục, thẩm mĩ sâu sắc, thể hiện đặc trưng tộc người rõ nét. Tiếp đó, báo cáo trình bày khái niệm sự tích và khái niệm phong vật.

 

I. Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu

Nghiên cứu văn học dân gian từ góc nhìn ngữ văn và góc nhìn văn hóa là vấn đề rất phổ quát trong giới nghiên cứu Folklore thế giới. Những công trình nổi tiếng - Jean Chevalier và Alain Gheerbrant (1997) Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, NXB Đà Nẵng; - V. Prốp Tuyển tập, NXBVHTT 2004, E. Mêlêtinxki Thi pháp của huyền thoại, NXBĐHQGHN, 2005, James George Frazer  Cành vàng  (Bách khoa thư về văn hóa nguyên thủy) NXB Văn hóa Thông tin 2007… đã chuyển tải những công trình nghiên cứu rất có giá trị của các nhà nghiên cứu văn hóa tầm cỡ nhân loại tới bạn đọc Việt Nam.

- Vấn đề giải thích sự tích các sự vật bao gồm việc giải thích nguồn gốc sinh thành, tên gọi, đặc điểm các loài (cây cối, loài vật, sản vật, địa danh, phong tục) đã được các thế hệ cha ông ta có ý thức sáng tác và lưu truyền hàng ngàn năm nay, bằng chứng là sự hiện diện của nhóm truyện này vừa phong phú về số lượng, vừa đẹp đẽ, độc đáo về chất lượng thẩm mĩ. Các truyện kể hướng đến việc giải thích sự tích các sự vật thân thuộc quanh ta nhưng sự giải thích ấy không xuất phát từ đặc điểm sinh học hay khoa học thông thường mà bằng trí tưởng tượng dân gian với những hình tượng nghệ thuật hư cấu độc đáo mang giá trị nhân văn vô cùng sâu sắc  

Tuy nhiên những công trình nghiên cứu trực tiếp về sự tích các loài liên quan đến đề tài này thì cho đến nay chúng tôi chưa thấy tài liệu nào được công bố một cách hệ thống. Phải chăng điều này liên quan đến văn hóa, phong tục từng dân tộc, từng vùng miền? Phải chăng việc nghiên cứu từng truyện kể về sự tích có thể tồn tại song chưa được triển khai thành những công trình mang tính hệ thống. Những truyện đó chỉ được tập hợp từ góc độ sưu tầm, tuyển chọn và ngay cả từ góc độ sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu thì nó vẫn bị nhòe mờ, bị lẫn đi trong vấn đề chung, rộng lớn là tuyển chọn và sưu tầm văn học dân gian nói chung.

Đặc biệt nhóm truyện kể về sự tích từ trước đến nay chưa được chú ý với tư cách là đối tượng nghiên cứu. Có một vài công trình, bài viết đề cập tới truyện kể về sản vật, phong tục, địa danh song việc nghiên cứu ấy còn lẻ tẻ, chưa hệ thống, chưa được xuất phát từ ý thức nghiên cứu dưới góc độ hình tượng thẩm mĩ và góc độ văn hóa đặc trưng mang tính tổng thể để phát hiện ra các quy luật sáng tạo nghệ thuật. Đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu nhóm truyện kể này một cách hệ thống, toàn diện.

Trong khi đó, những truyện dân gian kể về sự tích đã, đang và mãi mãi có sức sống mạnh mẽ với các lứa tuổi trong quá khứ, hiện tại và mai sau. Lứa tuổi thiếu nhi yêu thích những truyện giải thích sự tích các con vật. Ở những câu chuyện đó chứa đựng những tri thức vừa cụ thể vừa đa dạng, sinh động về thế giới tự nhiên, giáo dục những tình cảm đạo đức tốt đẹp cho các em. Lứa tuổi trung niên trở lên chú ý đến những chuyện kể về sự tích phong tục, tập quán, cách đối nhân xử thế của con người. Người trẻ tuổi ưa du lịch khám phá càng thêm yêu quê hương đất nước khi những địa danh thân thuộc luôn gắn với những câu chuyện lãng mạn đầy ấn tượng như Sự tích hoa Ban, sự tích cái váy hoa, sự tích cái đàn môi… Dịch vụ du lịch phát triển, nền kinh tế thị trường trong quá trình giao lưu, hội nhập, những thương hiệu hàng hóa sẽ càng có ý nghĩa khi được gắn kết với những câu chuyện chứa đựng các lớp văn hóa, phong tục, địa danh vùng miền.

Trên thực tế hiện nay, các phong tục, địa danh, các sản vật đang có xu hướng bị biến đổi theo những hướng cả tích cực lẫn tiêu cực. Một số vùng đất đang có nguy cơ bị nền kinh tế thị trường xâm lấn, triệt tiêu. Một số phong tục, sản vật có xu hướng bị mai một. Cần thiết phái có những công trình tuyển chọn đầy đủ, nghiên cứu kĩ, sâu, lưu lại chúng bằng ngôn từ đồng thời bằng sự hỗ trợ của các phương tiện thông tin hiện đại như máy chụp ảnh, camera quay hình để giữ gìn tư liệu cho mai sau.Đó chính là mục đích cấp thiết, thiết thực của vấn đề nghiên cứu.

Đã có một số bài viết của các nhà nghiên cứu văn hóa trung ương và địa phương bàn về sự tích các địa danh Tây Bắc, Trong bài viết này, với giới hạn của một báo cáo khoa học, chúng tôi tập trung hướng đến khảo sát, nghiên cứu một số lượng có hạn các truyện kể về sự tích phong tục, sản vật của một số dân tộc vùng văn hóa Tây Bắc. Vấn đề phân vùng văn hóa ở Việt Nam vẫn còn những quan niệm khác nhau. Chúng tôi sử dụng cách phân vùng của GS Trần Quốc Vượng. Vùng Tây Bắc có nhiều dân tộc cùng cộng cư sinh sống. Bài viết của chúng tôi chủ yếu sử dụng nguồn tư liệu truyện kể về sự tích phong vật của dân tộc Hmông, Dân tộc Thái, Dân tộc Dao

II. Những truyện kể về sự tích phong vật, địa danh của một số dân tộc Tây Bắc

Tiếp cận đề tài từ lý thuyết địa – văn hóavăn hóa tộc người trong một vùng văn hóa, người nghiên cứu sẽ thấy nhóm truyện kể về sự tích phong vật ở vùng văn hóa Tây Bắc thật sự hấp dẫn, đáng trở thành đối tượng nghiên cứu riêng biệt vì số lượng khá phong phú, nội dung độc đáo mang giá trị giáo dục, thẩm mĩ sâu sắc, thể hiện đặc trưng tộc người rõ nét. Qua các truyện kể được lưu truyền trong trí nhớ của người già, các phong tục, tập quán, thiên nhiên, con người, các sản vật vùng núi cao không chỉ được miêu thuật, khắc họa mà còn được cắt nghĩa, lý giải trả lời câu hỏi vì sao như thế. Tất nhiên cách cắt nghĩa ấy phần nhiều mang tính hư cấu, hoang đường nhưng đã được khái quát hóa, thăng hoa, tồn tại lâu bền trong quan niệm truyền thống dân gian nên chúng mang ý nghĩa văn hóa, thẩm mĩ to lớn.

Theo Hán Việt tự điển của Thiều Chửu: “Sự” có nghĩa là: việc, câu chuyện. “Tích” có nghĩa là: dấu chân, dấu vết hoặc những gì người xưa để lại.

Theo đó, “Sự tích” có nghĩa là đầu đuôi, gốc tích của một việc hay dấu tích của việc. Như vậy, có thể hiểu “sự tích” là những câu chuyện đời xưa được kể lại nhằm giải thích, cắt nghĩa về nguồn gốc xuất hiện hay về một đặc điểm nào đó của sự vật, hiện tượng và có “tích” (truyện) để lại.

Khái niệm phong vật được sử dụng theo cách phân loại thể loại truyền thuyết của tác giả Kiều Thu Hoạch khi ông phân truyền thuyết Việt Nam thành ba tiểu loại: Truyền thuyết về nhân vật lịch sử, truyền thuyết địa danh và truyền thuyết phong vật (gồm những truyện kể về phong tục và sản vật.)

II.1. Truyện kể về sự tích tộc người gắn với tín ngưỡng Tôtem đậm nét

Người Hmông với những truyện kể phản ánh và giải thích thật hồn nhiên về không gian sinh sống, phong tục tập quán, thẩm mĩ trang phục, thị hiếu âm nhạc, sản vật ẩm thực…để trả lời rất nhiều câu hỏi mà họ đặt ra rồi tự trả lời. Truyện Người Hmông ở núi cao ( Hmông) thể hiện rất rõ không gian địa lý tự nhiên và tín ngưỡng vật linh của tộc người. Truyện kể về ba chị em mồ côi đùm bọc nhau, trồng bắp trồng bông sinh sống. Nhưng cuộc sống đầy bất trắc, người chị bị hổ ác ăn thịt. Các em thương chị đi tìm, được hổ hiền ( chính là linh hồn của người cha trong lốt hổ) chỉ cách diệt trừ hổ ác. Hổ bày cho con đi vào rừng sâu, núi cao, tìm cây có mùi thơm làm nhà. Hổ tìm đến chỗ cây thơm nói chuyện với chàng trai rằng: Người Hmông ta từ nay ở núi cao, rừng sâu. Cũng từ nay nếu mẹ chết trước thì thôi, nếu bố chết trước thì bố biến thành hổ, trông nom con và đi tìm hạnh phúc cho con.

Trong tuyển tập truyện cổ Hmông có truyện Nguồn gốc họ Giàng (Hmông) giải thích họ Giàng có nguồn gốc thủy tổ từ Dê thần. Dê núi được thần núi dạy phép thuật. Vốn tinh khôn, sáng dạ, dê học được rất nhiều phép biến hóa, giúp đỡ mọi người. Dê cứu cô gái đẹp, con gái chúa bản. Câu chuyên tiếp theo có phần tương tự các truyện trong kiểu truyện người mang lốt. Dê vượt qua nhiều thử thách, lấy được con gái chúa bản, trút bỏ lốt dê để trở thành chàng trai tuấn tú. Hai vợ chồng sống rất hạnh phúc, họ sinh con đẻ cái, cháu chắt ngày càng đông lên mãi. Đó chính là tổ tiên của dòng họ Giàng (Giàng là do chữ Dương đọc chệch đi, mà Dương tức là (Truyện cổ Hmông, NXBGD, tr. 30)

Vấn đề giải thích nguồn gốc tộc người gắn với tín ngưỡng Tôtem còn xuất hiện trong khá nhiều truyện kể của các dân tộc. Dân tộc Si La ở Mường Tè, Lai Châu có truyện Sự tích họ Hổ kể rằng chàng trai Kíu San khi mới sinh ra, mẹ địu con lên nương bị bệnh cảm mà chết. Một con hổ cái đem bé về nuôi với đàn con sơ sinh của mình. Khi Kíu San 12 tuổi, hổ mẹ cõng em về bản và cứ ba ngày lại cõng lợn rừng hay hoãng xuống bản cho con nuôi. Sau này Kíu San yêu Sa Ly- con gái tổng bản, bị tổng bản cấm đoán, chàng buồn bã, đi lang thang và được hổ anh em nuôi giúp đỡ. Kết chuyện là cảnh chàng gọi các con đến dặn dò: Không có hổ bà thì không có bố, không có hổ cậu thì thì bố mẹ không được lấy nhau. Từ nay bố đổi họ Kíu thàng họ Hù ( hổ). Từ đấy dân tộc Si La có thêm họ Hù ( hhổ) và có tục thờ hổ. Người Si La có tục cấm săn bắt hổ lấy thịt ăn, lấy xương nấu cao và da trang trí. Nếu ai giết hổ coi như giết người phải đền mạng sống. Hổ trong rừng già mất đi thì được chôn cất mồ yên mả đẹp

như người ở nơi sườn núi cao nhất ( Truyện cổ thượng nguồn sông Thao, tr 37, NXBGDVN) 

         Tục thờ cúng Bàn Vương (thờ chó làm thủy tổ - tô tem) của người Dao cũng liên quan đến câu chuyện về Bàn Vương

    II.2. Truyện kể về sự tích các nghi lễ, phong tục

Truyện Sự tích nghi lễ đám ma người Hmông(Hmông) là một câu chuyện thật hay, là một bài học sâu sắc về thói kiêu căng, hợm hĩnh của một chàng trai tài giỏi nhưng độc ác, hay gây sự. Lúc trẻ anh ta hung hăng, gây thương tích, đổ máu cho biết bao người rồi lại uống máu người không biết sợ. Về già, tên giết người không ghê tay ấy ốm nặng, rồi hấp hối. Nhưng những tội ác mà hắn gây ra đã khiến hắn không tắt thở được. Hắn quằn quại, đau đớn nhiều ngày nhiều đêm. Người nhà, họ hàng bàn nhau tìm ra căn bệnh của kẻ khó chết. Một người già từng trải nói góp một câu: Nó còn phải nằm đó, nằm cho đủ thời gian để suy nghĩ, ăn năn về hành động bất nhân đã qua của nó, nó đã dùng sức trẻ một cách vô ích. Sau đó, dường như thấy sự hấp hối khổ đau kéo dài , hành hạ kẻ ác đã đủ, tội ác đã bị trừng phạt xứng đáng, bà con dân bản cử một người cầm sừng trâu thổi tu tu đi trước. Người thứ hai cầm dao. Người thứ ba mang cung tên. Tiếp đó 6 người đi theo làm quân. Tất cả chín người đi quanh nhà người ốm bảy vòng. Lạ thay, người hấp hối lúc ấy tự nhiên nhắm mắt, tắt hơi thật sự. Dần dà, người Hmông cho như thế là điềm lành, làm cho người hấp hối được thanh thoát…nên họ biến trình tự đó thành lễ nghi, quy định hẳn hoi. Đàn bà có chín vía nên phải có chín người đi quanh chín vòng nhà. Đàn ông có bảy vía nên chỉ cần có bảy người đi quanh nhà bảy lần là đủ. Để cho cuộc tiễn đưa hồn người qua đời được êm đẹp, người ta tổ chức đánh trống và múa khèn suốt từ ngày có tang đến ngày chôn cất thi hài. Chức năng giải thích phong tục và chức năng giáo dục đạo đức xã hội của câu chuyện trên thật sâu sắc, ấn tượng (1, tr 245)

Truyện Họ Giàng kiêng ăn tim ( Hmông) lại là một câu chuyện ngắn gọn mà thật cảm động. Tính cố kết cộng đồng, dòng họ của người Hmông, lòng trọng phong tục truyền thống, trọng danh dự, trọng sự ngay thẳng thể hiện thật rõ nét. Mở đầu câu chuyện là sự khẳng định: Người Hmông có thói quen giữ lại tập tục của tổ tiên, sống theo những nếp mà người già trước khi nhắm mắt đã dặn lại con cháu. Do bị nghi ngờ là đã để cho đứa con trai nhỏ ăn vụng quả tim khi mổ lợn đãi người họ cũ, người bố đã đành giết đứa con nhỏ của mình, cắt trái tim cho vào chảo nước sôi thay cho quả tim lợn. Đến khi múc cạn chảo, thấy hai quả tim, người bố đau đớn uất ức thề rằng từ nay họ Giàng không ai được ăn tim nữa. Từ đấy họ Giàng ăn tất cả, trừ quả tim thôi. Câu chuyện đau thương có phần quyết liệt, cực đoan ấy là sự hình tượng hóa, khái quát hóa lời cảnh tỉnh con người về sự ngờ vực tầm thường, nhỏ mọn của con người, đồng thời cũng làm cho ta hiểu về một tục lệ của họ Giang là không bao giờ ăn tim động vật.

Người Dao ở Lai Châu lưu truyền câu chuyện kể về Tục đánh trống trong đám tang (Dao). Chàng trai người Dao được thần cho mượn cái trống một mặt đỏ, một  mặt xanh. Đánh vào mặt đỏ thì người sống lăn ra chết, đánh vào mặt xanh thì người chết sống lại. Người đời sau bắt chước đánh trống trong đám ma người chết để mong cứu người chết sống lại. Câu chuyện được ghi chép ở Lai Châu này khá đơn giản, không có nhiều yếu tố li kì, lãng mạn như những chuyện kể sự tích khác.

Người Dao kể về phong tục trong đám cưới của dân tộc mình qua câu chuyện kể Sự tích cây Tiên Linh ( dao). Bên một dòng suối có một cây cổ thụ nghe nói đã vài nghìn năm tuổi gọi là cây Tiên Linh. Cây nở những bông hoa có hai màu, có màu nở đỏ thắm khi nghiêng về phương sao Bắc Đẩu, khi ngả về phương sao Thần Nông lại nở màu trắng tuyết. Một người con gái Dao xinh đẹp đã nhặt được một bong hoa màu đỏ, trên lá có chữ nhưng nàng không xem mà thả trôi như một chiếc thuyền nhỏ xíu. Một chàng trai khôi ngô, tuấn tú ngồi câu cá, nhặt được chiếc lá đoe có đề chữ Duyên trời định cho chàng Chương Linh kết duyên với nàng Chu Nữ vào ngày lành tháng tốt, năm…Cha mẹ hai bên cho là duyên trời nên tiến hành thủ tục hôn lễ theo đúng ý trời. Từ đó, tục người Dao Tuyển dựng vợ gả chồng theo nghi lễ đó.Người con trai ở phương Nam mang trang phục trắng, người con gái phương bắc mang trang phục màu đỏ. Khi đi đưa dâu phải đi bằng thuyền qua sông. Lễ vật đầu tiên đưa đến nhà gái có 12 gói muổi, 12 miếng trầu cau, 12 đôi đồng xu, một gói chè, hai miếng vải vuông màu trắng, đỏ rồi gói các lễ vật trên thành một bọc. Song nhất thiết phải có một mảnh giấy đỏ hình chữ nhật, nhỏ, dài, ghi ngày tháng, năm kếthôn của đôi lứa đặt trong hai miếng vải màu trắng đỏ rồi gói, gấp vuông vắn gọi là “Hồng thư định trà” ( lá thư đỏ định hôn thay cho lá cây Tiên Linh. Thực hiện thủ tục lễ vật cưới như vậy, người Dao Tuyển tin tưởng rằng cặp vợ chồng sẽ hạnh phúc trăm năm.

II.3. Truyện kể về sự tích các sản vật

Sự tích chiếc kèn môi (Hmông) chứa đựng nhiều yếu tố hoang đường, kì ảo hơn kể về nguồn gốc một nhạc cụ dân gian giản dị nhưng vô cùng gắn bó, thân thuộc mang tính đặc trưng của âm nhạc Hmông là chiếc kèn môi. Chàng trai con vua thủy tề, hóa thân từ con cá nhỏ đã cứu nàng công chúa xinh đẹp bị con quỷ ác hãm hại. Quỷ đuổi theo, bắt lại được nàng công chúa, chỉ có chàng trai trốn thoát. Chàng buồn rầu, đi lang thang thì gặp tiên ông, được tiên ông cho một con dao, một chiếc lá. Tiên ông dặn chàng: khi nào con muốn nói gì với vợ con, con hãy để chiếc là này vào miệng mà nói, vợ của con sẽ nghe tiếng. Tiên ông lại hiện đến chỗ nàng công chúa và cho nàng chiếc lá và bảo như đã nói với chàng trai. Trải qua rất nhiều khó khăn, nhờ lòng dũng cảm, quyết tâm, được tiên ông giúp đỡ, chàng trai đã giết được quỷ ác, sống hạnh phúc bên công chúa, được vua cha phong làm phò mã. Dân bản Hmông cảm phục gương anh dũng của chàng trai nên cũng làm kèn môi để thổi. Và cứ mỗi đôi thanh niên nam nữ yêu nhau, họ lại dùng kèn môi để tỏ tình. Tiếng kèn môi khi thủ thỉ tâm tình, khi vang xa lảnh lót qua vách núi, nương ngô đã trở thành một biểu tượng văn hóa dân tộc Hmông đầy ấn tượng và gợi cảm. ( 1. tr 208)

Cũng kể về Sự tích nhạc cụ giản dị mà độc đáo, dân tộc Thái có truyện kể Sự tích bụi nứa tép và cây sáo Pí Pặp (Thái). Nàng Hoa xinh đẹp, hát hay, dệt thổ cẩm giỏi được biết bao chàng trai đem lòng yêu mến nhưng chỉ có tiếng sáo Pí Pặp của chàng trai họ Hoàng làm nàng xao xuyến. Biết chàng là con nhà nghèo, cha mẹ nàng Hoa không ưng, ép nàng lấy chồng quan châu có quyền lực, giàu có. Hai người dắt nhau lên rừng, đào cái huyệt to, ăn lá ngón để giữ trọn lời thề. Trên nấm mồ của họ mọc lên bụi nứa tép, cành lá tươi xanh, rì rào trong gió. Những người thiện tâm nhìn thấy từ bụi nứa tép hiện ra đôi trai gái tự tình. Người ta bảo đó là hồn của nàng Hoa và chàng trai họ Hoàng vẫn còn linh hiển. Từ đó trai bản trên, gái mường dưới đến tuổi cập kê, rủ nhau đến bụi nứa tép khấn vái xin đốt ống nứa về làm cây sáo thổi gọi người yêu, tự tình. Cây sáo pí pặp với những âm thanh muôn vẻ của tình yêu còn lưu truyền đến bây giờ

     Sự tích cây đàn tính tảu (Thái) kể về vùng suối Nậm Lùm của Mường So (thuộc huyện Phong Thổ tỉnh Lai Châu ngày nay) có một khối đá to bằng hai, ba cái nhà sàn, người dân ở đây gọi là Hin Bát. Bỗng một ngày, xuất hiện cơn đại hồng thủy cuốn trôi nhà cửa, ruộng vườn, người và vật, Hin Bát cũng bị cuốn ra sông Nậm Na rồi xuôi đến tận đất Mường Lay, đến ngã ba con sông Đà và sông Nậm Na thì dừng lại. Dấu tích còn lại ở Mường So là một cái vũng lớn (tiếng Thái Trắng gọi là vặng luông).Tại ngã ba sông Đà và sông Nậm Na, lâu ngày Hin Bát trở nên một hòn đảo hoang vu, cây cối, lau sậy mọc um tùm. Có một chàng trai người Thái trắng mồ côi, nghèo khó lấy Hin Bát làm chốn nương thân. Ban ngày chàng đi kiếm củi, bắt cá, đêm về ở trong một túp lều nhỏ trên đảo hoang. Một lần đi quăng chài, chàng vớt được một quả bầu (tiếng Thái gọi là tảu). Chàng lấy phần dưới của quả bầu tra thêm chiếc cán vào để làm gáo múc nước. Còn phần trên - nơi trái bầu thắt lại chàng đem ném trôi sông. Đêm về, chàng ngoắc chài lên cái móc, nơi có treo cái gáo múc nước. Những con côn trùng bay qua, bay lại chạm phải dây chài rồi hợp cùng với chiếc gáo bầu tạo thành những âm thanh nghe lạ tai. Bất chợt, chàng nảy ra ý nghĩ: phải làm một đồ vật nào đó để thay người bạn tâm tình, khuây khỏa trong những đêm buồn cô quạnh. Rồi chàng đem cái gáo bầu căng mấy sợi dây chài dọc chiếc cán gỗ, rồi gẩy thử, những âm thanh vừa lạ, vừa hấp dẫn bỗng vang lên làm chàng nghĩ ngay ra việc đem thử nó đến nhà người chàng thầm yêu trộm nhớ để thức nàng dậy tâm tình. Đến nơi, chàng lấy cái cán gỗ gõ nhẹ vào phên liếp cạnh buồng ngủ của nàng, rồi gẩy... Tiếng đàn chẳng đủ vang để nàng thức dậy, tiếng đàn chưa đủ hay để nàng xuống bậc cầu thang... Chàng buồn lắm, bạn bè trong bản ngoài mường gọi cây đàn của chàng là "tính tảu xé xao" (cây đàn bầu để chọc sàn) mà thôi. Chàng quyết chí làm một cây đàn khác. Lần này chàng lấy 3 dây và nghe người già bản khuyên là:

Mặt đàn phải làm bằng gỗ xốp

Cần đàn phải làm bằng gỗ dẻo

Khóa đàn phải làm bằng sừng trâu

Dây đàn phải lấy từ sợi dây tơ se lại

Dây tương là dây nhỏ, tưởng không đáng tiền nhưng lại tốt

Dây xương là dây ngân vang xa

Thế là chàng gỡ bỏ đi một dây. Ai ngờ, nửa trái bầu chàng vứt trôi sông, người Kinh ở dưới xuôi vớt được, ngược dòng sông Đà lên tìm, ngỏ lời xin một dây làm chiếc đàn bầu. Từ đó, người Kinh mới có chiếc đàn bầu.

Lại nói về chàng trai người Thái, khi làm được chiếc đàn như ý, chàng gẩy chơi, âm thanh khi trầm khi bổng, lúc ngân nga, lúc thủ thỉ tâm tình, làm đắm say lòng người và chàng đã gọi giục được người chàng thâm yêu lách cửa, xuống sàn cùng chàng tâm tình.

Từ đó, "tính tảu xé xao" được gọi là "tính tảu" (cây đàn bầu). Người Thái trắng coi nó là loại nhạc cụ truyền thống đặc sắc nhất của họ để dùng tiếng đàn tỏ tình, tâm sự nỗi lòng và rồi dùng để đệm cho hát giao duyên hay trong lễ hội.

Người Thái thường dùng tiếng đàn để tỏ tình, giao duyên, đệm cho hát múa dân gian, đặc biệt là các làn điệu hát then, hát thơ (tiếng Thái là "khắp then, khắp sư") cùng với "pí pặp" (hát cúng các vị thần linh trên trời). Người hát là thầy mo, thầy cúng, nên trong quan niệm của người Thái, tiếng đàn trở thành linh thiêng trong cúng lễ, nó là "vật thiêng" trời ban, trời cho.

Cái hay của câu chuyện, chính là cốt chuyện gắn với những địa danh, vết tích có thực ở vùng Tây Bắc - cái nôi văn hóa Thái. (5)

II.4. Sự tích các loài cây, loài hoa

Sự tích hoa Ban ( Thái) là một câu chuyện hay, đậm chất lãng mạn, rất phù hợp với thiên nhiên và tâm hồn người Thái. Có một vài dị bản của truyện này nhưng người dân lưu truyền nhiều hơn bản kể về tình yêu của cô gái Thái xinh đẹp tên Ban và chàng trai thợ săn tài ba tên là Bun. Hai người thề nguyền ước hẹn giữ vẹn tình yêu nhưng rồi như bao câu chuyện tình ngang trái khác trong kho tàng truyện kể dân gian dân tộc Thái, sự phân biệt đẳng cấp sang hèn đã ngăn cách tình yêu đôi lứa, chàng Bun bị nhà tạo cầm dao chém., đuổi đi. Chàng khổ đau, kiệt sức gục xuống tắt thở bên một cửa hang, ở lưng chừng núi (dân gian gọi là hang Thẩm Lé). Dân các bản Thái quanh vùng thương xót chàng Bun, bảo nhau chôn cất và thường xuyên chăm sóc mộ chàng. Nàng Ban bị bắt, phải xung vào đội múa xòe. Một lần nhân lúc con trai nhà tạo uống rượu ngủ say, nàng trốn ra khỏi nhà. Đến ngọn núi có hang Thẩm Lé thì nàng không thể lết đi được nữa. Nàng gục xuống đúng nơi có nấm mộ chàng Bun. Từ ngôi mộ chung ấy bỗng mọc lên một cây lạ, cành nhỏ khẳng khiu, lá xanh thắm có hình hai nửa trái tim. Cứ mỗi mùa đông lạnh giá, cây lại trút lá thành tấm thảm dầy ủ ấm cho ngôi mộ. Sang xuân, thật kỳ diệu, cây trổ lộc non, giữa những lá xanh e ấp hình trái tim chung đôi ấy vụt bừng nở những đoá hoa trắng ngần như làn da nàng Ban, hoa năm cánh như búp tay nàng, hương thơm thầm kín dịu dàng. Từ nhụy hoa, những tia màu hồng toả ra như mạch máu từ trái tim thủy chung và rực lửa yêu đương của nàng Ban và chàng Bun hoà quyện mà thành. Người Tây Bắc gọi cây này là cây hoa Ban.

Có nhiều sự tích như Sự tích pôồn pôông ( Mường) trong hội pôồn pôông được gắn liền với truyện bi tình sử của nàng Ờm với chàng Bồng Hương. Hai người yêu nhau tha thiết như đôi chim păng poóp, nhưng bố mẹ nàng ờm cậy giàu sang phú quý chia cắt tình duyên hai người. Chàng Bồng Hương nhà nghèo khốn khó, cha mẹ nàng Ờm không những không gả con gái cho chàng trai mà còn đánh đập nàng Ờm tàn nhẫn: "Bốn mươi roi cây trảy, bảy mươi roi cây lèn en" và đuổi khỏi nhà.

Đau đớn, nàng Ờm lần theo con suối và gặp chàng Bồng Hương. Hai người rủ nhau vào rừng cùng ăn lá ngón để cùng chết bên nhau. Chàng Bồng Hương lấy chiếc khăn trắng lau vết máu cho nàng Ờm, rồi vắt khăn lên cây chạng bạng. Cây chạng bạng nâng niu chiếc khăn và biến chiếc khăn thành dây hoa bông trắng quấn quýt cây chạng bạng.

Từ đó hoa bông trắng nở vào tháng ba, gặp mưa thì hoa có màu trắng, gặp nắng thì hoa biến thành màu đỏ. Vì vậy người Mường chọn cây hoa chạng bạng có hoa bông trắng nở để mở hội “pôồn pôông”, hoặc làm hoa bằng giấy trắng, giấy hồng cắm lên cây chạng bạng để chuẩn bị cho hội pôồn pôông.

Pôồn pôông là hình thức diễn xướng dân gian, giao lưu, giao tình của trai gái dân tộc Mường trong lễ hội ngày xuân cần được lưu giữ và phát huy.

Chiếc khăn Piêu của người Thái gắn với một truyền thuyết Sự tích chiếc khăn piêu (Thái). Chuyện kể rằng, ngày xưa lắm, có một mường toàn đàn bà sinh sống với nhau. Bất kỳ một người đàn ông nào đi qua đều bị giết chết. Một hôm, có một người đàn bà đi rừng và gặp một người đàn ông ở mường khác lạc sang. Hai người đi lại với nhau và sinh được một người con trai. Về sau, người con trai lớn lên và thấy được cách sống vô lý của "mường mẹ" nên đã sang "mường bố" huy động lực lượng sang đánh. Mường đàn bà thất bại, xin mường đàn ông tha chết và hứa sẽ ở chung với mường đàn ông. Ðể đánh dấu sự thất bại của họ, mường đàn ông bắt họ đội khăn có in những dấu ngón tay đã điểm chỉ vào đó, gọi là những chiếc "cút".

Khăn Piêu được phụ nữ tự dệt bằng loại vải bông, nhuộm chàm, thêu các hoa văn với các loại chỉ màu ở hai đầu khăn. Ðể làm một chiếc khăn Piêu phải mất từ 2 đến 4 tuần thêu liên tục. Từ khi 6, 7 tuổi, người con gái Thái phải học tập cách thêu các hoa văn. "Piêu" đã trở thành một tiêu chuẩn xã hội để đánh giá người phụ nữ tài hoa siêng năng hay vụng dại, lười nhác. (4)

Trong đời sống tình cảm của người Thái, trai gái yêu nhau còn nhờ chiếc khăn Piêu nói hộ lòng mình. Lúc xa nhau, các cô gái thường tặng chàng trai mình yêu mến chiếc khăn Piêu đẹp nhất. Chiếc Piêu từ giây phút đó trở thành cầu nối tình yêu của họ. Trai gái Thái ở Sơn La khi yêu nhau mà không lấy được nhau, cô gái đến xin lại chiếc Piêu của mình đã tặng.

Khăn Piêu vừa là nét đẹp trang phục truyền thống, vừa thể hiện tinh hoa trong văn hoá ứng xử cần được nâng niu và giữ gìn.

 Sự tích chiếc váy hoa (Hmông) là một câu chuyện thật hay, ý nghĩa. Truyện kể rằng bản người Mông có một cô gái xinh đẹp tuyệt vời lại đẹp nết, giỏi giang. Ai cũng muốn lấy nàng làm vợ nhưng nàng không muốn lấy ai vì còn mẹ già em nhỏ. Chánh tổng giàu có cho đày tớ đến hỏi nàng làm vợ nhưng thấy nàng khóc, tôi tớ không dám bắt nàng. Khi chánh tổng đích thân đến, nàng hoảng sợ bỏ chạy. Nàng chay nhanh như gió, chim chóc cũng bay theo nàng, hoa đào, hoa hồng, hoa mơ cũng hướng về làng, mặt trời trải nắng lụa như tơ. Váy của nàng đón gió xòe ra tròn trịa như cánh công đang múa. Lão chánh tổng đuổi kịp, quờ tay túm lấy váy của nàng. Nhưng từ trong chiếc váy ấy bay ra muôn ngàn cánh bướm, lão chánh tổng mờ mắt, ngã xuống hố mà chết. Từ đấy, con gái Hmông học đường kim mũi chỉ, học mẫu thêu hoa bướm của nàng mà làm những chiếc váy hoa để mặc trong những ngày hội xuân, trong những lúc hẹn hò tình tứ với người yêu.

Qua câu chuyện kể về sự tích cái váy hoa (Hmông) có thể thấy niềm tự hào vô cùng sâu sắc của người Hmông về trang phục truyền thống của người phụ nữ dân tộc mình. Chiếc váy của người Hmông là cả một công trình nghệ thuật thẩm mĩ biểu trưng cho vẻ đẹp của thiên nhiên, tình yêu cuộc sống của con người.

Tiếc rằng trong một báo cáo, chúng tôi vừa muốn lột tả một cách cụ thể cái hay, cái đẹp của những câu chuyện kể vừa muốn khảo sát nhiều phương diện nên it nhiều không thể tránh khỏi sự miêu thuật, chưa thể đi sâu vào khảo sát, phân tích bằng những phương pháp nghiên cứu liên ngành một cách hữu hiệu. Đó là chưa thể điểm hết những chuyện kể về sự tích của các dân tộc như Sự tích chim từ quy, Tạo Hôm tạo Mai, sự tích con chẫu chàng, hàng loạt sự tích địa danh của DT Thái, Sự tích vườn hoa núi Cối, sự tích nhà sàn của DT Mường…

Nhìn chung, nhân vật trung tâm trong các truyện kể về sự tích phong tục, sản vật vừa khảo sát ở trên chủ yếu là nhân vật chàng trai, cô gái trong quan hệ tình cảm lứa đôi như nàng Hoa - chàng Hoàng, chàng Bun - nàng Ban, nàng Ờm – chàng Bồng Hương…Tình yêu không thành bởi những trở lực vô lý, tàn bạo của xã hội, gia đình đã dẫn đến những kết thúc không có hậu dành cho hầu hết những chàng trai cô gái đáng thương. Nhân vật chính hóa thân vào cây cỏ, hoa lá, phong tục tập quán, tín ngưỡng dân gian. Chính vì thế, yếu tố giải thích phong tục, sản vật trở nên ấn tượng, ám ảnh. Kết thúc các truyện thường theo công thức: từ đó, người dân mỗi khi tổ chức tang lễ hoặc cưới xin thường…

Theo quan sát của chúng tôi, những truyện kể của dân tộc Thái tràn đầy chất lãng mạn, lối kết thúc đậm tính bi kịch hơn những truyện kể về sự tích của dân tộc Hmông, Dao, Mường…Truyện kể của người Hmông có phần quyết liệt, cứng cỏi nên số truyện có kết thúc có hậu tăng hơn so truyện sự tích của dân tộc Thái (truyện sự tích chiếc váy hoa, sự tích chiếc đàn môi…). Việc sử dụng các yếu tố kì ảo trong các truyện của các dân tộc cũng có sắc thái riêng. Nhân vật hổ, yêu tinh xuất hiện nhiều trong truyện dân tộc Hmông, môtíp hóa thân xuất hiện nhiều trong kết thúc truyện kể sự tích của người Thái. Qua khảo sát, nghiên cứu nhóm truyện này từ góc độ văn học, ta có thể  hiểu hơn quy luật sáng tạo của nghệ thuật dân gian mỗi dân tộc

Mặt khác, nghiên cứu đặc điểm nhóm truyện từ góc độ văn hóa tộc người, người nghiên cứu hiểu thêm mối quan hệ giữa tác phẩm ngôn từ với phong tục tập quán, tín ngưỡng, đặc điểm địa lí, lịch sử dân tộc. Không gian rẻo cao, rừng núi đậm nét trong những câu chuyện kể của đồng bào Hmông, đồng bào Dao; không gian thung lũng rẻo dưới là bối cảnh cho những câu chuyện sự tích hoa Ban, sự tích chim Khảm khắc, sự tích chim từ quy của đồng bào Thái

Các truyện kể về sự tích phong tục, địa danh, sản vật đã trở thành gia tài văn hóa quý báu của mỗi dân tộc để các loại hình nghệ thuật khác như sân khấu, truyện thơ, truyện ngắn, thơ ca văn học viết kế thừa, phát triển.

Cần thiết phải điền dã, khảo sát cụ thể hơn sự tồn tại thực tế của các phong tục, tín ngưỡng các tộc người, sự biến đổi của các phong tục, sản vật từ truyền thống đến hiện tại.  Chắc chắn do đặc thù phát triển kinh tế xã hội hiện đại, rất nhiều phong tục tập quán, quan niệm thẩm mĩ xã hội đã có nhiều biến đổi theo cả hướng tích cực và tiêu cực. Cần phổ biến, quảng bá nhiều hơn những câu chuyện kể về sự tích chứa đựng một cách sâu sắc quan niệm thẩm mĩ, đạo đức của nhân dân trong mối quan hệ với địa danh, nghi lễ, ẩm thực, trang phục, giải mã các biểu tượng nghệ thuật từ đặc trưng nguyên hợp toàn vẹn của một tác phẩm Folklore.

 

Tài liệu tham khảo:

1. Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam ( 1999) NXBGDVN

2. Truyện cổ thượng nguồn sông Thao

3. Truyện cổ Hmông, Truyện cổ các dân tộc Việt Nam NXBGDVN (Lê Quốc Hùng, st và tuyển chọn)

4.http://www.dactrung.com/Bai-bv-694-Chiec_Khan_Pieu_Va_Tinh_Yeu_Trai_Gai.aspx

 

5.http://vietnamcayda.com/diendan/showthread.php?