VĂN HỌC TÂY BẮC VẪN LÀ ĐẤT HOANG

Nhưng may thay đồng bào các dân tộc Tây Bắc hẵng còn lưu giữ cả kho báu vốn văn học cổ truyền, đó là dân ca, cổ tích, truyện thơ, sử thi, huyền thoại, tục ngữ, câu đố. Đó là niềm hạnh phúc! Nhưng niềm hạnh phúc ấy rất mong manh, vì đang có nguy cơ biến mất trước áp lực của cuộc sống hiện đại do chính nhân dân đang dốc sức xây dựng, và chính sức đề kháng của văn học truyền miệng vốn yếu ớt. Chỉ còn một cách phải khẩn trương ghi vào sách vở để lưu giữ trong thư viện, tủ sách. Và tôi cho rằng ngôi trường Đại học Tây Bắc có thể dành ra một dự án để làm ngay việc đó. 

 

VĂN HỌC TÂY BẮC VẪN LÀ ĐẤT HOANG

 

                                                                                 Nhà văn Mã A Lềnh

 

Nói đến văn học Tây Bắc, ta liền nhớ đến Cầm Vĩnh Ui, Bạc Văn Ùi (có người cho rằng đây là một tác giả mang hai bút danh), Tô Hoài, Mạc Phi, Ma Văn Kháng…, và một số tác giả người dân tộc thiểu số bản địa như Cầm Biêu, Lương Quy Nhân, Hoàng Nó, Lò Văn Cậy, Hoàng Hạc … xuất hiện sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp nối sang xây dựng hòa bình. Tiếp đến, tương ứng với thời kỳ chống chiến tranh phá hoại là Vương Trung, Cầm Hùng, Sa Phong Ba, Mã A Lềnh, Lò Ngân Sủn, Pờ Sảo Mìn, Hà Lâm Kỳ, … và nhà văn người đa số có thể kể đến như Ngọc Bái, Dương Soái, Đỗ Thị Tấc… đã thuộc lứa tuổi 60 – 70. Trẻ hơn nữa, dù cố thắp đuốc đi soi tìm cũng chỉ thấy có Chu Thùy Liên, Mã Anh Lâm, Tống Ngọc Hân, Hờ A Di ... Gọi là trẻ thì cũng đã ở độ tuổi 40 – 50 rồi. Còn độ tuổi “bẻ gẫy sừng trâu” chẳng thấy đâu. Vậy là đứt gẫy. Tình hình là thế. Nếu ta truy tìm nguyên cớ thì sẽ như đi vào khu rừng nguyên sinh đại ngàn không có lối ra, vì văn chương, thi ca là sự đam mê, là sự dấn thân. Có người nói phàm là làm văn chương nghệ thuật thì phải có chút tài năng thiên bẩm. Đúng thế! Nhưng lại phải hiểu rằng bất kỳ ai, khi cha mẹ sinh ra thì đã ban cho ta một chút tài năng từ cốt nhục rồi. Tài năng ấy nằm sẵn ở đâu đó cho đứa trẻ líu lo nói, ê a hát, trẹo miệng vẽ. Phần còn lại, quyết định sự nghiệp cuộc đời là luyện rèn. Đã nói luyện rèn thì phải có môi trường. Nhà văn lão luyện Ma Văn Kháng, trong nhiều bài viết của mình, vẫn luôn nhắc những năm tháng nhọc nhằn công tác ở Lào Cai, chính mảnh đất miền biên viễn ấy với những địa tầng văn hóa độc đáo, đặc sắc đã ban tặng cho ông những trang viết cuồn cuộn. Một lần gặp gỡ tại nhà riêng của tôi, nhà văn bậc thầy Tô Hoài tâm sự: Để có được Vợ chồng A Phủ, Họ Giàng ở Phìn Sa…, ông đã cùng ăn ở, cùng làm nương với người Hmông thời gian dài dài và đã có người nhận ông làm cha nuôi hiện đang ở Sà Phìn, tức là ông phải trầm mình hòa nhập với môi trường sáng tác. Để có được tiểu thuyết Rừng động, nhà văn Mạc Phi hầu như đã sống cả cuộc đời với Tây Bắc.

 

Đối với nhà văn là người dân tộc thiểu số bản địa, khi dấn bước sang văn học hiện đại, hầu như họ đã hoặc đang là nghệ nhân trong lĩnh vực văn học dân gian. Đó là thế mạnh của họ. Nhưng họ lại vấp phải rào cản lớn nhất, trực tiếp, đó là ngôn ngữ mà nếu như văn học viết không được thể hiện bằng chữ Quốc ngữ với tiếng Việt là tiếng phổ thông thì tác phẩm chẳng có đất mà sống. Sử dụng tiếng Việt để biểu thị tâm tư, tình cảm, văn phong của dân tộc thiểu số thì phải giỏi cả tiếng dân tộc mình, phải giỏi cả tiếng Việt. Một lần cụ Nông Quốc Chấn nói với tôi: “Anh viết Kinh quá!”. Tôi ậm ừ trả lời cụ: “Bác ơi, hai ngôn ngữ khác nhau, không thể đổi thế văn phong cho nhau được đâu!”. Nói vậy, nhưng tôi vẫn tự nhủ phải cố gắng viết sao cho vừa phổ thông, vừa bản sắc riêng. Làm được thế, tức là nhà văn trở thành bậc thầy về ngôn ngữ.

 

Về tình hình chữ viết, biết rằng cuối thập niên 50, đầu những năm 60 thế kỷ trước, ở miền Bắc, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ký văn bản phê chuẩn chữ viết các dân tộc Hmông, Tày – Nùng và chữ Thái cải tiến theo hệ La tinh, nhưng đồng bào Thái không thừa nhận chữ La tinh mà vẫn sử dụng hệ chữ Phạn vào việc ghi chép vốn văn học cổ truyền. Giữa Tày với Nùng có sự chênh lệch về ngôn ngữ nên khó thống nhất. Chữ Hmông cũng khó đồng thuận giữa âm Hmông Lềnh và âm Hmông Đơư trong khi bộ chữ xác định Hmông Lềnh là âm tiêu chuẩn, hơn nữa, chính sách phát triển giáo dục về chữ dân tộc thiểu số không nhất quán. Đang trong mối bùng nhùng ấy thì một thứ chữ Hmông ngoại lai len lỏi xâm nhập vào đời sống để một bộ phận người Hmông sử dụng vào việc đọc thánh ca. Như vậy, bình diện chung, chữ viết dân tộc thiểu số hầu như chỉ tồn tại ở khu vực văn học dân gian, chưa được sử dụng và phổ biến vào văn học viết. Được biết nhà thơ Mã Thế Vinh – Lạng Sơn vẫn sáng tác song ngữ Nùng – Việt, và gần đây Nhà xuất bản Đại học Thái Nguyên vừa in cho ông một tuyển tập thơ song ngữ Nùng – Việt như là món quà kỷ niệm; Và ông Hùng Đình Quý – Hà Giang có sáng tác dân ca Hmông bằng chữ Hmông cũng là một việc làm cần mẫn nhưng hiệu quả truyền bá không cao. Còn tác giả Mã A Lềnh vẫn kiên trì sáng tác văn xuôi cho Thiếu nhi bằng chữ Hmông song cũng chỉ dám in với số lượng bản ít ỏi theo lối “tự sản tự tiêu”, thì dù cố kiết viết ra, tác phẩm chưa in cũng biết là đã chết, bởi vì do sự khống chế của cơ chế thị trường, không có nhà xuất bản nào dám in sách song ngữ nếu như không thu được lời hoặc không trực tiếp tuyên truyền phục vụ nhiệm vụ chính trị, hoặc vẫn còn đâu đó ngự trị quan niệm thi ca, văn chương chỉ là thú chơi xa xỉ không thuộc vào khu vực chính trị. Vốn biết là có Nghị quyết Trung ương V khóa 8 và Nghị quyết 23 của Bộ chính trị làm kim chỉ nam soi đường rồi, thế nhưng “Văn nghệ hả, đi chơi chỗ khác, đừng quẩn chân ông”, thì thôi, ta đi đánh quay, ném pao, hát hò cho vui vậy.

 

Đối với nhà trường, không biết các địa phương khác thế nào, còn như ở tỉnh Lào Cai, được biết ngành giáo dục chọn một truyện ngắn của tôi, là Hội viên Hội Nhà văn vào chương trình văn học địa phương, lớp 6, học ngoại khóa, và cũng chỉ một tiết. Những tác giả khác chưa phải Hội viên, họ bảo “chưa đủ độ tin cậy”. Ngôi trường trung học cơ sở gần nhất, cách nhà tôi chưa đầy một cây số mà cô giáo phải dạy và học sinh phải học cái tiết văn học địa phương ấy chẳng biết tác giả Mã A Lềnh là ai, cứ cho xong việc một cách vô cảm vô tri. Thập niên 60 thế kỷ trước, ở Lào Cai, Nhà văn Ma Văn Kháng viết một cuốn sách mỏng về anh hùng Giàng Lao Pà, vừa qua tôi lọ mọ dịch ra tiếng Hmông, bỏ tiền túi ra in, rồi thuê xe chở mấy cục đến tặng cho trường Dân tộc nội trú huyện và trường Tiểu học quê sinh anh hùng, hỏi “các em có biết quê mình có anh hùng Giàng Lao Pà không”. Tất cả đều trả lời: “Không biết”, và có thể cả thầy cô giáo cũng chẳng cần biết, vì thầy cô không biết nên học trò mới không biết. Cách hành xử ấy nói thêm một điều rằng việc quảng bá tác phẩm văn học bằng kênh nhà trường sư phạm thật sự quan trọng và cần thiết, trong khi cuộc sống đương đại với nền giáo dục này dường như nhà trường đang bị tách biệt rất xa với cuộc sống. Thì như thế, có lẽ không nên nóng vội hy vọng sẽ có nhà văn trong tương lai. Tìm người trẻ tuổi, có bản lĩnh chính trị để làm bí thư chi bộ, làm chủ tịch xã, chẳng có gì khó khăn, cho vào học lớp bồi dưỡng lý luận chính trị một thời gian ngắn là có ngay. Còn muốn tìm người làm văn chương, thì… Xã hội rô-bốt dường như bắt đầu manh nha. Nếu thế, rồi sẽ dẫn đến một xã hội vô cảm, độc ác. Nên dạy văn chương, thi ca cho con người từ khi còn ật ưỡng trên lưng mẹ. Văn học viết, hay còn gọi là văn học bác học chưa có, hoặc có chăng thì cũng mới chỉ nham nhở như những mảnh nương ghẻ lở trên da thịt núi rừng. Nhưng may thay đồng bào các dân tộc Tây Bắc hẵng còn lưu giữ cả kho báu vốn văn học cổ truyền, đó là dân ca, cổ tích, truyện thơ, sử thi, huyền thoại, tục ngữ, câu đố. Đó là niềm hạnh phúc! Nhưng niềm hạnh phúc ấy rất mong manh, vì đang có nguy cơ biến mất trước áp lực của cuộc sống hiện đại do chính nhân dân đang dốc sức xây dựng, và chính sức đề kháng của văn học truyền miệng vốn yếu ớt. Chỉ còn một cách phải khẩn trương ghi vào sách vở để lưu giữ trong thư viện, tủ sách. Và tôi cho rằng ngôi trường Đại học Tây Bắc có thể dành ra một dự án để làm ngay việc đó. Phải là một trung tâm học vấn mới làm được, chứ tôi không làm được. Một lần đến với trường Dân tộc nội trú tỉnh, tức bậc trung học phổ thông, tôi nói với các em “về nghỉ hè, nghỉ tết, nên tranh thủ ghi lại lời ăn, tiếng nói, nét sinh hoạt của cha mẹ, làng xóm”. Ý tưởng của tôi bị thất bại vì đó không phải việc nhà trường giao.

 

Đây là lần đầu tiên tôi vinh hạnh được đến với trường Đại học Tây Bắc, mà không biết có còn được đến lần sau nữa không, và đến với một cuộc hội thảo thú vị, nhiều ý nghĩa cho tương lai, không có nhẽ chỉ phát biểu vài câu, ăn bữa cơm rồi về. Tôi muốn hỏi Nhà trường cần gì ở những nhà văn sinh ra và đang sinh sống, cống hiến cho núi rừng Tây Bắc, trong đó có tôi. Có thể là Nhà trường cần sách của chúng tôi chăng? Sẵn sàng! Có thể Nhà trường cần các nhà văn Tây Bắc đến giao lưu với sinh viên. Rất nên làm và làm thường xuyên để các em lây cái “hâm” của chúng tôi, qua nhiều lần giao lưu ấy, biết đâu trong số sinh viên này lại xuất hiện những nhà văn trẻ. Riêng tôi, có thể giúp được thêm về chữ Hmông, vì tôi đã có thời gian khá dài công tác ngành giáo dục chuyên về nghiên cứu, biên soạn sách giáo khoa chữ Hmông và hiện nay vẫn cố kiết sáng tác văn học thiếu nhi bằng song ngữ Hmông - Việt, đồng thời với việc sưu tầm vốn văn học dân gian Hmông.

 

                                                                                       Lào Cai, ngày 04, 05 - 02 – 2014

 

 

 T. J. Logan Jersey