TỔNG KẾT ĐÀO TẠO TIẾNG VIỆT CHO HỌC VIÊN VÀ LƯU HỌC SINH KHÓA III NĂM HỌC 2017 - 2018

 

ThS. Lê Thị Hà

Khoa Ngữ Văn - Trường Đại học Tây Bắc

 

 

Năm học 2017-2018, Trường Đại học Tây Bắc đón nhận 101 Lưu học sinh (LHS) Lào thuộc hệ ngân sách và tự túc của 8 tỉnh Bắc Lào (Hủa Phăn, Luông Pha Băng, U Đôm Xay, Bò Kẹo, Phông Xa Lỳ, Luông Nậm Thà, Xay Nhạ Bu Ly, Xiêng Khoảng) sang học tập và nghiên cứu ở hai bậc học: đại học và cao học. Việc nâng cao chất lượng đào tạo LHS Lào nói chung và đào tạo tiếng Việt cho LHS Lào nói riêng trở thành vấn đề được quan tâm hàng đầu của Trường Đại học Tây Bắc trong bối cảnh hội nhập và phát triển.

I. Đặc điểm tình hình

1.1. Thuận lợi

- Công tác đào tạo tiếng Việt cho LHS Lào được Ban Chấp hành Đảng bộ, Ban Giám hiệu, các phòng chức năng và khoa Ngữ văn đặc biệt quan tâm. Sự quan tâm ấy được thể hiện thành chủ trương, đường lối trong nhiều hội nghị của Trường; quá trình đào tạo tiếng Việt cho LHS được lãnh đạo Nhà trường theo dõi sát sao, chỉ đạo rất kịp thời; Nhà trường đã dành những cơ sở vật chất tốt nhất cho công tác đào tạo tiếng Việt cho LHS.

- Về đội ngũ giảng viên: Các thầy, cô giáo tham gia dạy giảng dạy tiếng Việt cho LHS là những người có năng lực chuyên môn tốt, ý thức rất rõ về trách nhiệm của mình; tất cả đều nhiệt tình, sẵn sàng nhận và thực hiện nhiệm vụ.

- Về phía người học: Đa số LHS ngoan ngoãn, ham học và có ý thức học tập.

1.2. Khó khăn

- Đây là khóa học thứ III, Trường Đại học Tây Bắc tổ chức đào tạo tiếng Việt cho LHS. Tuy chương trình đã được biên soạn trên cơ sở tìm hiểu, tham khảo nhiều chương trình của các cơ sở đào tạo khác, nhưng việc áp dụng vào thực tiễn giảng dạy sao cho hiệu quả lại không đơn giản, đòi hỏi phải có sự nỗ lực rất lớn.

- Giáo viên dạy tiếng Việt cho LHS chưa biết tiếng Lào chưa nhiều, việc giao tiếp với LHS đôi khi còn bỡ ngỡ, việc giảng dạy cho LHS bước đầu vẫn còn gặp nhiều khó khăn.

- LHS được đưa sang Trường Đại học Tây Bắc theo nhiều đợt khác nhau, nên việc bố trí các lớp học không đồng đều về thời gian. Các lớp vào học sau có thời gian học tập ít hơn so với các lớp vào học trước.

- Về phía LHS: Đối tượng theo học tiếng Việt tại trường Đại học Tây Bắc phần lớn thuộc diện du học tự túc, mặt bằng nhận thức không đồng đều (có thể do không được tuyển chọn hay không phải tham gia một cuộc thi đánh giá năng lực nào để vào học tại Trường). Sự khác biệt về văn hoá, phong tục tập quán, thói quen sinh hoạt… cũng gây những trở ngại nhất định cho quá trình học tập của các em. Một số LHS dù đã sang Việt Nam du học nhưng vẫn thiếu động cơ và thái độ học tập đúng đắn, thiếu tính kỉ luật, hoặc quá nhút nhát, thụ động trong học tập…

II. Đánh giá các mặt công tác

2.1. Công tác giảng dạy và chủ nhiệm

a. Công tác giảng dạy

- Các giáo viên tham gia giảng dạy đều thực hiện nghiêm túc quy định của Trường về thời khóa biểu, thời gian lên lớp, thực hiện đầy đủ chương trình, lịch trình giảng dạy.

- Trong quá trình giảng dạy, các thầy cô đã tìm cách vượt qua những khó khăn về ngôn ngữ, văn hóa giữa thầy và trò; dung hoà được hầu hết những sự khác biệt về thành phần dân tộc, cũng như mặt bằng nhận thức của các LHS, cố gắng đem lại hiệu quả cao nhất trong công tác dạy - học mà điều kiện cho phép.

- Các giáo viên tham gia giảng dạy luôn thể hiện thái độ tôn trọng học sinh, gần gũi, thân thiện, cởi mở, giúp LHS vượt qua những bỡ ngỡ, rụt rè ban đầu để nhanh chóng hòa nhập vào việc học tập.

- Để việc dạy - học đạt hiệu quả cao, nhiều thầy cô giáo vừa giảng dạy vừa quan tâm đến sự nhận thức của học sinh, từ đó tìm kiếm cách thức và phương pháp dạy - học tốt nhất, tạo được hứng thú cho người học.

- Trong quá trình giảng dạy, các giáo viên đã chú ý phân loại học sinh theo trình độ và năng lực học tập, nắm bắt tâm tư nguyện vọng của các em để có sự quan tâm kịp thời.

b. Công tác chủ nhiệm

- Các giáo viên chủ nhiệm (GVCN) là người phụ trách, hướng dẫn LHS tường tận về cách học, cách sinh hoạt và mọi hoạt động tại Trường. GVCN cũng theo dõi và báo cáo lên Khoa, các phòng chức năng về tình hình học tập, rèn luyện của LHS. Việc điểm danh, quản lý nề nếp học tập, rèn luyện của LHS theo từng học kỳ cũng được các GVCN thực hiện một cách sát sao, chặt chẽ. Lịch sinh hoạt lớp được duy trì đều đặn theo từng tuần.

- Nhận thấy trở ngại lớn nhất đối với LHS là ngôn ngữ (tiếng Việt), các GVCN với sự phối hợp của các phòng ban chức năng đã chủ động thành lập mô hình sinh viên tình nguyện (1 sinh viên Lào, 1 sinh viên Việt) vào 3 buổi tối/ tuần trong năm học - là hình thức tổ chức có hiệu quả cao.

- Trong quá trình làm công tác chủ nhiệm, các GVCN đã quan tâm đến hoàn cảnh, chế độ sinh hoạt và học tập, tâm tư nguyện vọng của từng em trong lớp để kịp thời giúp đỡ, động viên, khuyến khích và tháo gỡ những khó khăn mà LHS gặp phải. Những điều đó đã giúp cho LHS yên tâm, tự tin hơn và nhanh chóng hòa nhập vào môi trường học tập.

- Vào những dịp lễ hội và các ngày kỷ niệm lớn của hai nước, các GVCN đã tổ chức hoạt động giao lưu giữa LHS các lớp, giữa LHS với sinh viên Việt Nam, từ đó tạo được không khí vui vẻ, đoàn kết giữa LHS nói riêng và sinh viên hai nước nói chung.

- Trong quá trình làm công tác chủ nhiệm, các GVCN đã chủ động trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm từ đó nâng cao hiệu quả công tác.

2.2. Công tác rèn luyện, học tập và hoạt động của LHS

- Hầu hết LHS học tiếng Việt tại Trường Đại học Tây Bắc đã xác định được động cơ và mục tiêu học tập đúng đắn, vì thế các em đã chủ động, tích cực trong học tập. Các em đã khắc phục sự khác biệt về văn hóa, rào cản về ngôn ngữ, những khó khăn trong cuộc sống và sinh hoạt hàng ngày để nhanh chóng hòa nhập vào môi trường học tập mới.

- Đa số LHS có ý thức học tập tốt: Đi học đầy đủ, đúng giờ; trong lớp rất tập trung nghe giảng và ghi chép bài; ngoài số tài liệu do Trường cung cấp, các em đã chủ động tự trang bị thêm các tài liệu khác phục vụ việc học tiếng Việt; trong quá trình học tập đã chịu khó tra từ điển, mạnh dạn trong giao tiếp bằng tiếng Việt với thầy cô, bạn bè; ngoài giờ học chính khóa, các em đã tích cực luyện viết, nói tiếng Việt qua các hoạt động ngoại khóa và các hình thức khác.

- Ngoài nhiệm vụ chính là học tiếng Việt, các LHS Lào còn rất tích cực tham gia hoạt động do Nhà trường, Hội sinh viên tổ chức như: các sinh hoạt văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao. Trong các hoạt động đó, LHS Lào luôn đem lại những màu sắc riêng, thể hiện nét độc đáo trong văn hoá của nhân dân Lào; mặt khác cũng khẳng định tình hữu nghị đặc biệt giữa hai dân tộc, hai đất nước. Một số LHS tiêu biểu, đạt thành tích cao trong các cuộc thi.

- Về ý thức tổ chức kỷ luật: Phần lớn LHS chấp hành tốt quy định của Trường. Các em đã có nhiều cố gắng rèn luyện về tư cách đạo đức, ý thức chấp hành nội quy và pháp luật, tinh thần đoàn kết nội bộ và quốc tế.

- Bên cạnh những ưu điểm vần còn một số LHS chưa xác định được động cơ và mục tiêu học tập đúng đắn nên thiếu ý thức học tập: đi học muộn, bỏ tiết hoặc nghỉ học không lý do, trong lớp còn thiếu tập trung, thụ động trong tiếp nhận bài học, không tích cực làm bài tập, thực hành tiếng Việt…

- Một số LHS năng lực học tập còn hạn chế nhưng chưa tìm cách khắc phục và nâng cao hiệu quả học tập.

- Trong sinh hoạt hàng ngày, một bộ phận nhỏ LHS sinh hoạt không điều độ: uống rượu bia, thức khuya, ngủ dậy muộn, … ảnh hưởng đến nề nếp và chất lượng học tập.

- Kết quả rèn luyện cả năm:

Hệ đào tạo

Tổng số

Khá

Giỏi

Học viên

31

0

31 (chiếm 32%)

Lưu học sinh

65

10 (chiếm 10,5%)

55 (chiếm 57.5%)

Tổng

96

10 (chiếm 10,5%)

86 (chiếm 89.5%)

+  Kết quả kiểm tra đánh giá năng lực tiếng Việt:

Có 96 học viên và LHS  tham gia thi đánh giá năng lực, kết quả như sau:

- Bậc 4: 55 em (chiếm 57,3%)

- Bậc 3: 37 em (chiếm 38.5%)

- Bậc 2: 4 em (chiếm 4.2%)

III. Một số kiến nghị, đề xuất

- Thứ nhất, Trường Đại học Tây Bắc nên đề nghị với các tỉnh Bắc Lào tổ chức xét tuyển để chọn được những LHS có đủ năng lực sang học tập tại Trường Đại học Tây Bắc.

- Thứ hai, công tác ra đề thi, coi thi, chấm thi cần được bám sát vào khung năng lực đạt yêu cấu tối thiểu là bậc 3.

- Thứ ba, Trường cần duy trì Câu lạc bộ tình nguyện (gồm một số sinh viên Việt Nam và một số LHS Lào khóa trước) để giúp đỡ Lưu học sinh Lào đang theo học tiếng Việt trong suốt quá trình đào tạo tiếng Việt.

- Thứ tư, Nhà trường cần đầu tư mua thêm đài, phòng học tiếng Việt cần trang bị máy chiếu; biên soạn tài liệu song ngữ theo chương trình cho những bài đọc, phần từ vựng, ngữ pháp để học sinh có thể nhận diện từ, hiểu nghĩa của từ một cách dễ dàng, đồng thời tiết kiệm được thời gian.

- Thứ năm, các phòng bao khoa cần có sự phối kết hợp hơn nữa trong việc quản lí LHS Lào.

- Thứ sáu, đề nghị Nhà trường có kế hoạch ngay từ đầu năm học, tổ chức cho các LHS đang học tiếng Việt đi tham quan các di tích lịch sử ở trong tỉnh hoặc ngoài tỉnh để các em được học tập, trải nghiệm và hiểu biết nhiều hơn về lịch sử, văn hóa Việt Nam.

Công tác đào tạo tiếng Việt cho học viên và LHS Lào khóa III, năm học 2017 - 2018 của Nhà trường cơ bản đã thành công tốt đẹp. Ngoài những thành quả đã đạt được cũng còn những hạn chế, vướng mắc cần phải tháo gỡ. Khoa Ngữ văn - với vai trò là đơn vị trực tiếp quản lí và giảng dạy cho LHS Lào hệ dự bị rất mong các cấp lãnh đạo quan tâm, tạo điều kiện hợp tác để Khoa Ngữ văn - cũng như Trường ĐHTB hoàn thành nhiệm vụ của Bộ Giáo dục và Đào tạo giao cho.